BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------
NGUYỄN THỊ BÍCH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI
VỚI DỊCH VỤ TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------
NGUYỄN THỊ BÍCH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN ĐỐI
VỚI DỊCH VỤ TIỀN GỬI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN HỮU HUY NHỰT
CỦA KHCN TẠI CÁC NHTM VN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY ....... 5
1.1 Nguồn tiền gửi trong NHTM.................................................................................. 5
1.1.1 Khái quát chung về nguồn tiền gửi trong NHTM ........................................... 5
1.1.2 Phân loại tiền gửi trong NHTM ...................................................................... 9
1.2 Chất lượng dịch vụ .................................................................................................. 17
1.3 Sự hài lòng của khách hàng ................................................................................... 20
1.3.1 Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng ....................................................... 20
1.3.2 Phân loại sự hài lòng của khách hàng ............................................................. 21
1.3.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng .............................. 22
1.4 Thực trạng dịch vụ tiền gửi của KHCN tại các NHTM Việt Nam trên địa
bàn TP.HCM ................................................................................................................. 23
1.4.1 Các sản phẩm dịch vụ tiền gửi KH cá nhân tại một số NHTM ở Việt Nam ......... 23
1.4.2 Tình hình về huy động nguồn vốn tại một số NHTM VN trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh ................................................................................................................... 24
1.4.3 Biến động lãi suất tiền gửi ............................................................................... 27
1.5 Tóm lược một số nghiên cứu trước đây ................................................................ 29
1.5.1 Mô hình SERVQUAL (Parasuraman) ............................................................. 29
1.5.2 Ảnh hưởng của giá cả đến sự hài lòng của khách hàng .................................. 34
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 36
2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng ........ 36
2.1.1 Mô hình nghiên cứu ........................................................................................ 36
2.1.2 Các giả thuyết ................................................................................................. 37
2.1.3 Mô hình đo lường sự hài lòng của khách hàng .............................................. 39
2.2 Thu thập dữ liệu ..................................................................................................... 39
2.2.1 Dữ liệu sơ cấp ................................................................................................ 39
2.2.2 Dữ liệu thứ cấp ............................................................................................... 39
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Quy mô nguồn vốn tiền gửi của KHCN tại các NHTM Việt Nam trên địa
bàn TP.HCM .................................................................................................................... 26
Bảng 1.2 Mối quan hệ giữa mô hình gốc và mô hình hiệu chỉnh ................................... 31
Bảng 2.1: Thang đo các nhân tố tác động đến sự hài lòng của khách hàng .............................. 45
Bảng 3.1: Kết quả phân tích Cronbach’s Alpha .............................................................. 50
Bảng 3.2: Kết quả phân tích nhân tố ............................................................................... 53
Bảng 3.3: Kết quả phân tích hồi quy ............................................................................... 56
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết .................................................. 59
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Thống kê lãi suất huy động trung bình của các ngân hàng thương mại từ năm
2008 đến T7/2013 ...................................................................................................................... 28
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu các nhân tô tác động đến sự hài lòng của KH......................... 36
Hình 3.1: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KH ............................... 55
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NH: Ngân hàng
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHNN: Ngân hàng nhà nước
KH: Khách hàng
gian tới. Đề tài: “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ tiền
gửi tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam, trên địa bàn TP.HCM” được thực hiện
nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ tiền gửi cho các NHTM VN .
2
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Tìm hiểu về dịch vụ tiền gửi tại các NHTM.
Xây dựng thang đo đánh giá sự hài lòng của KHCN về dịch vụ tiền gửi tại các
NHTM VN, trên địa bàn TP.HCM.
Dựa trên việc phân tích đánh giá sự hài lòng của KHCN về dịch vụ tiền gửi để
đề xuất một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tiền gửi
tại các NHTM VN, trên địa bàn TP.HCM.
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến dịch vụ tiền gửi tại các NHTM VN.
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của KHCN đối với dịch vụ
tiền gửi tại các NHTM VN, trên địa bàn TP.HCM.
Cơ sở chọn lựa đối tượng nghiên cứu
Tác giả tiến hành nghiên cứu các đối tượng khách hàng cá nhân đang tiến hành
gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM. Do lực lượng khách hàng cá nhân cung cấp một
lượng vốn ổn định so với các khách hàng doanh nghiệp và chiếm tỷ trọng khá lớn
trong cơ cấu huy động của các NHTM. Trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của
cuộc khủng hoảng kinh tế tại Việt Nam và tâm lý lo ngại về tình hình kinh tế mà các
khách hàng cá nhân có xu hướng đầu tư, tích trữ vàng và ngoại tệ. Vì vậy, làm thế
nào để nâng cao hiệu quả huy động vốn của các ngân hàng thương mại đối với các
khách hàng cá nhân càng trở lên cấp thiết hơn nữa.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Các KHCN đang gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM trên địa bàn TP. Hồ Chí
Minh.
4
cấp. Chất lượng này phải được đánh giá bởi chính khách hàng chứ không phải thuần
túy bởi ngân hàng. Muốn vậy ngân hàng phải thường xuyên đo lường mức độ hài lòng
của khách hàng cũng như lý do mà khách hàng chọn giao dịch tại ngân hàng mình. Vì
thế, thang đo về Sự hài lòng của khách hàng sẽ giúp các ngân hàng thương mại xác
định các yếu tố tác động đến mức độ hài lòng của khách hàng một cách đầy đủ và
chính xác hơn. Từ đó ngân hàng sẽ có những cách cải thiện thích hợp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của ngân hàng và giúp cho khách hàng luôn cảm thấy hài lòng mỗi
khi tìm đến ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở phục vụ cho việc triển khai các sản phẩm, và dịch
vụ mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng.Với việc phân tích các yếu tố liên quan đến
mức độ hài lòng của khách hàng, các NHTM sẽ hiểu rõ hơn về nhu cầu của khách hàng
cá nhân trên địa bàn TP. HCM phục vụ cho công tác nâng cao chất lượng của dịch vụ
tiền gửi của ngân hàng.
CẤU TRÚC LUẬN VĂN
- Chương 1: Cơ sở lý luận, thực trạng về nguồn tiền gởi của KHCN tại các
NHTM VN và các nghiên cứu trước đây- Nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết liên
quan đến các khái niệm nghiên cứu như : Nguồn tiền gửi trong NHTM, chất lượng
dịch vụ, giá cả, sự hài lòng của khách hàng, thực trạng về nguồn tiền gửi của KHCN
tại các NHTM VN, mô hình nghiên cứu.
- Chương 2: Thiết kế nghiên cứu – Xây dựng mô hình phục vụ cho việc nghiên cứu
và đặt các giá thiết nghiên cứu, trình bày quy trình nghiên cứu.
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu - Trình bày thông tin về mẫu khảo sát, kiểm
định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả
có được.
- Chương 4: Giải pháp và kiến nghị- Đưa ra các giải pháp ứng dụng thực tiễn.
6
Đối với ngân hàng, cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng
đã tìm kiếm mọi cách để huy động nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn vốn quan
trọng là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng – một quỹ sinh lợi được gửi tại ngân
hàng trong khoảng thời gian nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm, đôi khi được hưởng mức
lãi suất tương đối cao. Như vậy các loại tiền gửi đã tạo thành nguồn vốn cung cấp cho các
nghiệp vụ sinh lợi trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với NHTM, có hai
nguồn tiền gửi chủ yếu là : tiền gửi của doanh nhân và tiền gửi của dân cư.
Qua những điều trình bày ở trên, người ta nhận thấy có khó khăn trong việc định
nghĩa “tiền gửi”. ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một bản luật:
“Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách hàng bất luận dưới danh từ
nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng tiền đó cho hoạt động kinh doanh
của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong
giới hạn số tiền nhận được, tất cả những lệnh phải trả tiền của người tiền gửi bằng séc,
lệnh chuyển khoản, thư tín dụng… hay bất cứ bằng cách nào khác; cũng thâu nhập vào
khoản tiền gửi mọi số tiền mà ngân hàng thu hộ cho người gửi”. “Tiền gửi là số tiền của
khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không
hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”. Tiền gửi của khách hàng là nguồn
tài nguyên quan trọng nhất của NHTM, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của NH.
Như vậy, các khái niệm về tiền gửi theo quy định pháp lý nêu trên có mối liên
quan mật thiết với tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. Người gửi tiền có thể lựa chọn
các loại hình tiền gửi theo mục đích của họ và được hưởng các dịch vụ do ngân hàng cung
cấp, được hưởng lãi suất. Đồng thời có nghĩa vụ để ngân hàng sử dụng các số tiền gửi đó
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng với cam kết thực hiện việc hoàn trả vào ngày đáo
hạn (đối với tài khoản có kì hạn ) hoặc theo yêu cầu của khách hàng (đối với tài khoản
không kì hạn). Ngày nay, khách hàng có nhiều cách gửi tiền và có thể làm cho tài sản bằng
tiền sinh ra lãi theo các dự đoán và tính toán của chính họ.
Đặc điểm
hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này.
Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ
ngân hàng trung ương để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đây là một trong những công cụ
8
của ngân hàng trung ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số
nhân tiền tệ. Chính vì thế nên chi phí tiền gửi cao hơn trả lãi cho tiền gửi. Khi huy động
tiền gửi, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi các khoản dự trữ để đảm
bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay phần tiền gửi còn lại. Hiện nay, hầu hết
các nhà quản lý ngân hàng đang phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong việc
định giá các dịch vụ liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng.
Một mặt, ngân hàng phải trả một mức lãi suất đủ lớn để có thể thu hút và duy trì sự ổn định
trong lượng tiền gửi của khách hàng. Mặt khác, ngân hàng phải cố gắng hạn chế việc trả
lãi suất quá cao bởi vì điều này sẽ làm giảm mức thu nhập tiềm năng của ngân hàng. Hiện
nay, sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường cung cấp các dịch vụ tài chính càng làm cho
vấn đề nêu trên trở nên phức tạp hơn bởi vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi
tiền gửi trong khi làm giảm thu nhập dự kiến từ hoạt động đầu tư và cho vay.
1.1.1.2 Vai trò của tiền gửi trong NHTM
Các khách hàng doanh nghiệp thông qua việc mở tài khoản để được ngân hàng cung
ứng các dịch vụ về ngân quỹ, thu chi tài vụ một cách nhanh chóng và an toàn. Những
nghiệp vụ này nếu tự khách hàng đứng ra đảm trách sẽ tốn rất nhiều công sức và thời gian.
Về phía ngân hàng, qua nghiệp vụ này, cũng thu hút được một số lượng tiền gửi của khách
hàng trên tài khoản và một lệ phí nhất định.
Đối với khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, việc mở tài khoản và ký gửi tiền tại
ngân hàng, ngoài việc được ngân hàng cung cấp một số séc để thuận tiện chi trả, còn
được ngân hàng cung ứng một loạt dịch vụ đa dạng về tài chính có sinh lời. Trong nền
kinh tế thị trường, một công dân muốn tích luỹ vốn trước hết có hai khả năng lựa chọn:
hoặc giữ đồng tiền tích luỹ được của mình trong két sắt, hoặc mua cổ phần (của các công
Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có
kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu,
lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem đầu tư vào
những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn, lợi tức cao và ổn định hơn; Lãi suất mà
ngân hàng trả cho tiền gửi có kỳ hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn.
Lý do ở đây là, ngân hàng hoàn toàn yên tâm sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay
với thời hạn ổn định và sẽ kiếm được nhiều ợi nhuận hơn. Vì thế tiền thù lao nó trả cho
khách hàng cũng phải cao hơn để kích thích sự gửi tiền nhiều nữa.
10
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, những người giàu có và các doanh nghiệp được
cung cấp tài khoản gửi kì hạn xác định ( thường kéo dài 30,60,90 hay 180 ngày). Gần đây,
tiền gửi kì hạn được phát hành với lãi suất thay đổi định kì ( thường là 90 ngày ). Tiền gửi
loại này có kì hạn tối thiểu là 7 ngày và không được rút trước thời hạn. Tiền gửi kì hạn này
rất đa dạng về chủng loại, từ chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng ( Negotiable CDs)
tới tiền gửi giáng sinh, tiền gửi cho đi nghỉ… Chứng chỉ tiền gửi (CDs) được phân thành 2
loại : loại có thể chuyển nhượng ( có thể được trao đổi trước khi mãn hạn) - chứng chỉ có
mệnh giá trên 100.000USD thường được các doanh nghiệp và người giàu mua bán và loại
không thể chuyển nhượng ( không thể được mua bán trước ngày mãn hạn) thường được cá
nhân mua ( theo Quản trị ngân hàng thương mại – Peter S. Rose). Tên gọi "có kỳ hạn" có
nghĩa là khoản tiền được gửi sẽ có thời gian gửi tối thiểu theo thỏa thuận giữa ngân hàng
và thân chủ, và không được rút ra trước hạn kỳ đã định nói trên. Nếu vì lý do đặc biệt phải
rút tiền ra trước hạn kỳ, NHTM có một trong ba cách xử lý: 1) Từ chối. Họ đã từng có
quyền làm như vậy trước đây, bởi vì việc gửi tiền của khách hàng là một hợp đồng cho vay
với thời hạn đã thống nhất. Khi khách hàng đòi lại trước thời hạn, điều đó sẽ gây thiệt hại
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, thông thường ngân hàng áp dụng hai
cách mềm dẻo hơn, là 2) yêu cầu khách hàng phải báo trước, ít nhất một khoảng thời gian
nào đó về ý định rút tiền và 3) với những yêu cầu rút tiền đột xuất như vậy, khoản lãi suất
dặc điểm: người gửi tham gia gửi tiền vào ngân hàng rất dông, nhưng số tiền gửi từng lần
thường ít, về số lượng tuyệt đối lại rất lớn, chiếm tỷ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn
ký thác huy động được. Thông thường có 2 loại : Có kì hạn và không có kì hạn. Hình thức
chủ yếu gồm :
a)
Tiết kiệm lập sổ ( pass-book savings) : được cung cấp cho khách hàng là gia
đình với giá trị nhỏ ( số dư mở tài khoản tiết kiệm tối thiểu là 5 USD) và có đặc quyền rút
vốn không bị hạn chế. Mặc dù theo luật, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng thông báo
trước về những lệnh rút tiền từ tài khoản tiết kiệm thấp và đồng tiền gửi loại này nói chung
có xu hướng ổn định, ít nhạy cảm với những thay đổi trong lãi suất. Doanh nghiệp, cá
nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và các cơ quan Chính phủ cũng có thể sử dụng tài khoản
tiết kiệm nhưng giới hạn quy mô tiền gửi tối đa là 150.000 USD.
12
b)
Tiết kiệm thông báo ( statement savings deposits ): trong đó thông qua việc
truy cập trên máy vi tính, khách hàng sẽ nhận được các bản thống kê thể hiện số tiền gửi,
lệnh rút tiền, lãi và số dư tài khoản hàng tháng.
Nguồn vốn từ loại tiết kiệm không kỳ hạn có lãi suất thấp, làm cho lãi suất đầu
vào của ngân hàng rất thấp và rất có lợi khi cho vay.Việc điều hành các tài khoản này, tại
phần lớn các nước được qui định như sau: Các sổ tiết kiệm chỉ được mở cho các thể nhân
và chỉ mở một sổ cho mỗi người. Người gửi tiền, khi mở sổ tiết kiệm, phải cam đoan chưa
mở một tài khoản tiết kiệm nào ở một ngân hàng khác.
Các nghiệp vụ cho phép thực hiện được hạn chế tối đa: chỉ có thể gửi tiền mặt và
gửi, cùng với địa điểm có thể rút ra bất cư lúc nào đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọi
theo tiếng Anh là tiền gửi theo yêu cầu.Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các
tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc
chuyển nhượng khi cần. Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi là tiền trong tài khoản
séc (checking accounts). Khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng
đến tiền lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức tiền tệ
khác và thích thanh toán bằng séc hơn là bằng tiền mặt. Khả năng tiện lợi của tiền gửi
không kỳ hạn trong thanh toán phụ thuộc vào tổ chức và hoạt động của NHTM đã phát
hành ra nó. Nếu gửi tiền vào tài khoản này ở một NHTM có chi nhánh ở khắp nơi trên lãnh
thổ kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh nhất, thì séc do chủ tài khoản viết ra có hiệu lực
thanh toán và được chấp nhận nhanh chẳng kém gì tiền mặt. Đó là lý do để tiền gửi không
kỳ hạn được xem là loại hình gần tiền mặt nhất trong tất cả các loại tiền của NHTM. Khả
năng chuyển đổi từ nó sang tiền mặt là nhanh nhất vào bất cứ lúc nào và vì thế ở các nước
phát triển, người ta xem nó như là một loại tiền mạnh. Tuy nhiên, nếu ngân hàng mà chúng
ta gửi tiền vào có quá ít chi nhánh hoặc không quan hệ tốt với các ngân hàng khác, séc của
nó do chúng ta viết ra được chấp nhận trong thanh toán ở vùng này, nhưng chưa chắc đã
được chấp nhận ở các vùng khác. Có lẽ vì lý do này mà ở các nước mới phát triển, tiền séc
vẫn chưa được xem là tiền mạnh.
Tiền gửi loại này có thể phát xuất từ khách hàng là một thương nhân hay từ một
công dân bình thường. Việc phân biệt giữa các tài khoản vãng lai (current account) mở
14
cho thương nhân và các tài khoản sec (checking account) mở cho công dân rất cần thiết
cho ngân hàng không những về mặt pháp lý mà cả về mặt kỹ thuật. Khoản tiền khách hàng
gửi vào thực chất là một khoản khách hàng cho ngân hàng vay. Ngân hàng sẽ phải trả lãi
cho khách hàng hàng tháng mặc dù rất thấp. Do đó, đối với ngân hàng nó là một khoản nợ,
khoản nợ này sẽ được trả theo nhu cầu của người gửi. Xã hội càng phát triển càng có tính
đa dạng. Và vì thế, ở các nước phát triển, sự tồn tại nhiều loại tiền gửi không kỳ hạn để
quả cuối cùng là khách hàng hưởng lãi trên tài khoản giao dịch tương đương với lãi thu
được từ tài khoản tiền tiết kiệm.
f) Tài khoản MMDA và tài khoản Super NOW : Việc thông qua đạo luật về các tổ
chức nhận tiền gửi Garn-St Germain năm 1982, hai loại hình tài khoản giao dịch hưởng lãi
quan trọng đã ra đời. Ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm phi ngân hàng có thể đưa ra một
loại hình tiền gửi mới để cạnh tranh với tài khoản đầu tư chứng khoán có lãi suất cao hơn,
được cung cấp bởi các quỹ trên thị trường tiền tệ và được bảo đảm bằng khoản danh mục
đầu tư chứng khoán có chất lượng cao. Kết quả là đưa tới sự ra đời của tài khoản tiền gửi
trên thị trường tiền tệ (MMDA) và tài khoản Super NOW.
MMDA là tài khoản tiền gửi thời hạn ngắn, có thể là vài ngày, vài tuần hay vài
tháng và Ngân hàng có thể trả lãi suất ở mức đủ lớn để thu hút và nắm giữ tiền gửi của
khách hàng. Có tới sáu hối phiếu uỷ quyền trước được phép thực hiện trong một tháng
nhưng số lượng séc phát hành chỉ được giới hạn là 3 lần. Đối với lệnh rút tiền cá nhân thì
không có hạn chế (mặc dù ngân hàng có quyền đặt mức tối đa cho quy mô tiền rút và cho
số lượng lệnh rút tiền cá nhân). Không như NOW, MMDA có thể được nắm giữ bởi cả
doanh nghiệp và cá nhân.
Super NOW (SNOW) ra đời gần như cùng thời gian với MMDA. nhưng tài khoản
này chỉ có thể được nắm giữ bởi cá nhân và các tổ chức phi lợi nhuận. Không có quy định
nào hạn chế số lượng séc người gửi tiền có thể phát hành. Tuy nhiên, Ngân hàng áp dụng
một mức lãi đối với SNOW thấp hơn cả với MMDA bởi vì SNOW có thể được phát séc
thường xuyên hơn. Do dó, các nhà quản lý trung ương xếp MMDA vào nhóm tiền gửi tiết
kiệm. Tuy vậy, chúng ta xếp tài khoản loại này vào phần tài khoản giao dịch vì chúng có
đặc quyền phát séc (theo quản trị ngân hàng thương mại của Peter S.Rose)
g) Tiền gửi đặc biệt