BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----o0o-----
Ngô Phương Khanh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
-----o0o-----
Ngô Phương Khanh
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lê Thị Lanh
TP.Hồ Chí Minh – Năm 2013
Tác giả
Ngô Phương Khanh
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU CHUNG .....................................................................3
1.1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
1.2. Mục tiêu của đề tài........................................................................................4
1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ...............................................4
1.4. Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................4
1.5. Ý nghĩa của đề tài .........................................................................................4
1.6. Cấu trúc đề tài...............................................................................................5
CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC
ĐÂY VỀ LỢI NHUẬN VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA
NGÂN HÀNG.........................................................................................................6
2.1. Tổng quan các nghiên cứu trước đây .............................................................6
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gần đây ........................................8
2.2.1. John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004) ............................8
2.2.2. Panayiotis P.Athanasoglou, Sophocles N.Brissimis và Matthaios D.Delis
(2005)...............................................................................................................9
2.2.3. Panayiotis Athanasoglou, Matthaiois D.Delis và Christos K.Staikouras
(2006)...............................................................................................................9
2.2.4. Pasiouras và Kosmidou (2007) .............................................................10
2.2.5. Kosmidou, Pasiouras và Tsaklanganos (2007) ...................................... 11
2.2.6. Khizer Ali, Muhammad Farhan Akhtar và Hafiz Zafar Ahmed (2010) .. 11
2.2.7. Deger Alper và Adem Anbar (2011)......................................................12
2.3. Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam ....................................................13
2.3.1. Nguyễn Thị Ngân (2011) ......................................................................13
2.3.2. Ths.Phan Thị Hằng Nga (2011).............................................................14
4.7. Kết luận chương 4.......................................................................................48
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH ...............................49
5.1. Tóm tắt nghiên cứu .....................................................................................49
5.2. Kết quả nghiên cứu .....................................................................................49
5.3. Kiến nghị chính sách...................................................................................50
5.3.1. Đối với các ngân hàng ..........................................................................50
5.3.2. Đối với Chính phủ ................................................................................52
5.4. Giới hạn của đề tài ......................................................................................53
5.5. Kiến nghị hướng nghiên cứu trong tương lai ...............................................53
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Các tài liệu tiếng Việt
Các tài liệu tiếng Anh
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Mô tả dữ liệu nghiên cứu......................................................................16
Bảng 3.2: Định nghĩa các biến và mối tương quan kỳ vọng giữa các biến độc lập và
biến phụ thuộc .......................................................................................................24
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến.......................................................................31
Bảng 4.2 – Kết quả phân tích tương quan của các biến ..........................................35
Bảng 4.3: Kết quả tóm tắt của Mô hình 1b............................................................40
Bảng 4.4: Kết quả phân tích ANOVA của Mô hình 1b ............................................40
Bảng 4.5: Hệ số hồi quy của Mô hình 1a ................................................................41
Bảng 4.6: Kết quả tóm tắt của Mô hình 2b .............................................................43
Bảng 4.7: Kết quả phân tích ANOVA của Mô hình 2b ............................................43
Bảng 4.8: Hệ số hồi quy của Mô hình....................................................................44
suất thực.
1
Tuy nhiên, kết quả phân tích cho thấy hệ số hồi quy của SIZE, CA, LQD, DP
đối với ROA và ROE là không có ý nghĩa thống kê. Nói cách khác, kết quả phân
tích chưa cho thấy tác động của quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, tính thanh
khoản và tiền gửi của khách hàng đối với ROA và ROE.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số kiến nghị chính sách được tác giả đề xuất
nhằm mục đích tăng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam.
2
CHƯƠNG 1 – GIỚI THIỆU CHUNG
1.1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như mạch máu của
cả nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là
tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả, kích
thích tăng trưởng kinh tế một cách bền vững. Tầm quan trọng của lợi nhuận ngân
hàng có thể được đánh giá ở cấp độ vi mô và vĩ mô của nền kinh tế. Ở cấp độ vi mô,
lợi nhuận chính là điều kiện thiết yếu và là nguồn vốn có chi phí sử dụng rẻ của một
tổ chức tín dụng. Lợi nhuận ngân hàng không chỉ thể hiện kết quả của hoạt động
kinh doanh mà còn cần thiết cho sự thành công của ngân hàng trong cạnh tranh. Vì
vậy, mục tiêu cơ bản của các nhà quản trị ngân hàng là phải đạt được lợi nhuận như
là tính tất yếu của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào. Ở cấp độ vĩ mô, một hệ thống
ngân hàng tốt và làm ăn có hiệu quả có khả năng đối phó với các cú sốc mang tính
tiêu cực và đóng góp tích cực vào sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia. Do
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 17 ngân hàng thương mại cổ phần Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn năm 2007 đến 2011.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mong đợi trả lời hai câu hỏi sau đây:
Câu hỏi nghiên cứu 1: Những chỉ số tài chính nào của ngân hàng có ảnh
hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn
năm 2007 đến 2011?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Những chỉ số kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng
tổng sản phẩm quốc nội thực tế, lạm phát và lãi suất thực có tác động đến lợi nhuận
của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 đến 2011
hay không?
1.5. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp nhiều thông tin giá trị cho các nhà quản trị của
ngân hàng, các cổ đông hiện hữu và các nhà đầu tư tiềm năng. Ngoài ra, kết quả
nghiên cứu cũng sẽ góp phần cung cấp các thông tin có hữu ích cho các đối tượng
có quan tâm.
Các nhà quản lý của ngân hàng dựa trên kết quả nghiên cứu sẽ cân nhắc các
4
yếu tố trong quá trình xây dựng và ra quyết định về chính sách quản lý hiệu quả
nhằm giúp ngân hàng đạt được lợi nhuận cao hơn, góp phần nâng cao vị thế của
ngân hàng trên thị trường.
Đề tài cũng góp phần vào cung cấp sự hiểu biết sâu hơn về các yếu tố tác động
đến lợi nhuận của ngân hàng và là căn cứ để các nhà đầu tư quyết định về việc đầu
tư vào cổ phiếu ngân hàng.
Đề tài cũng cung cấp bằng chứng thực nghiệm về lợi nhuận và các yếu tố có
ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng để Chính phú, Ngân hàng Nhà nước và các
chất của mỗi nghiên cứu.
Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường phân tích hệ
thống ngân hàng ở nhiều quốc gia hoặc ở một quốc gia. Nhóm các nghiên cứu ở
phạm vi nhiều quốc gia có thể kể đến Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và
Thornton (1992) và Demirguc-Kunt and Huizinga (2000). Nhóm các nghiên cứu ở
phạm vi một quốc gia cụ thể thường nghiên cứu về hệ thống ngân hàng ở Hoa Kỳ
(thí dụ, Berger et al., 1987), Châu Âu (thí dụ, Athanasoglou et al., 2005 và
Kosmidou et al., 2007) hoặc ở các quốc gia đang phát triển (thí dụ Barajas et al.,
1999; Ali et al., 2010; Deger Alper và Adem Anbar, 2011). Đặc điểm chung của các
nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu
tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả
nghiên cứu thực hiện là khác nhau do mẫu nghiên cứu và môi trường nghiên cứu
khác nhau. Tuy nhiên đặc điểm chung của các nghiên cứu đã cho phép phân loại các
yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.
Các yếu tố nội tại của ngân hàng được sử dụng như quy mô ngân hàng, vốn
chủ sở hữu, quản trị rủi ro và chi phí quản lý. Quy mô ngân hàng được sử dụng để
đại diện cho độ lớn của ngân hàng hoặc thị phần. Smirlock (1985) đã tìm thấy bằng
6
chứng về mối tương quan thuận đáng kể giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của
ngân hàng. Demirguc-Kunt và Huizinga (2000) cho rằng mức độ ảnh hưởng của các
nhân tố tài chính, pháp lý và các nhân tố khác đến lợi nhuận của ngân hàng có mối
liên kết chặt chẽ với quy mô ngân hàng. Bên cạnh đó, Short (1979) tranh luận rằng
quy mô ngân hàng có quan hệ mật thiết với vốn chủ sở hữu của ngân hàng vì các
ngân hàng lớn thường huy động vốn với chi phí rẻ hơn, do đó có lợi nhuận cao hơn.
Với lập luận tương tự, Bikker và Hu (2002), Goddard et al. (2004) và một số nhà
nghiên cứu khác đã cho thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, đặc biệt trong
trường hợp ngân hàng nhỏ và vừa, với vốn chủ sở hữu do đó có mối quan hệ với lợi
hàng tùy thuộc vào khả năng dự báo đúng đắn tỷ lệ lạm phát trong tương lai. Tỷ lệ
lạm phát trong tương lai có thể được ước tính bởi ngân hàng, điều này có nghĩa là
ngân hàng có thể điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để đảm bảo mức độ tăng của doanh thu là
nhanh hơn mức độ tăng của chi phí, do đó ngân hàng có thể kiếm được nhiều lợi
nhuận hơn. Phần lớn các nghiên cứu cho thấy mối tương quan thuận giữa lợi nhuận
với tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ lãi suất dài hạn. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng tổng sản
phẩm quốc nội thực tế hàng năm là chỉ số rất thường được sử dụng để đại diện cho
yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu trước đây thường cho thấy mối tương quan
thuận giữa lợi nhuận ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực
tế hàng năm.
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gần đây
2.2.1. John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004)
John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004) nghiên cứu lợi nhuận
của các ngân hàng Châu Âu của những năm 1990.
Các tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu là chỉ số lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (ROE). Các biến độc lập của mô hình là quy mô ngân hàng, tài sản
ngoài bảng cân đối kế toán và vốn chủ sở hữu.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 665 ngân hàng từ sáu nước Châu Âu (Đan Mạch,
Pháp , Đức,Ý, Tây Ban Nha và Anh) trong giai đoạn 1992 – 1998.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng không có ảnh hưởng
đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu
trước đó rằng hiệu quả quản lý chi phí hoạt động có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận
ngân hàng hơn là quy mô ngân hàng. Kết quả cũng cho thấy sự khác biệt giữa các
8
quốc gia về mối quan hệ giữa các tài sản ngoài bảng cân đối kế toán trong danh mục
đầu tư và lợi nhuận của ngân hàng. Thí dụ, ở nước Anh, các tài sản ngoài bảng cân
đối kế toán có mối tương quan thuận với lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, ở các
D.Delis
và
Christos
K.Staikouras (2006)
Panayiotis Athanasoglou, Matthaiois D.Delis và Christos K.Staikouras (2006)
9
nghiên cứu các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng tại khu vực Đông Nam Châu
Âu giai đoạn 1998 – 2002.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng hai biến đại diện cho hiệu quả
hoạt động kinh doanh của ngân hàng là ROA và ROE. Biến độc lập đại diện cho đặc
điểm nội tại của ngân hàng được sử dụng là tính thanh khoản, rủi ro tín dụng, vốn
chủ sở hữu, quản lý chi phí hoạt động, quy mô ngân hàng, sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài và thị phần. Các biến đại diện cho ngành là sự cải tiến hệ thống ngân
hàng (banking system reform) và sự tập trung (concentration). Các biến đại diện
cho yếu tố kinh tế vĩ mô là lạm phát và hoạt động kinh tế (economic activity).
Dữ liệu nghiên cứu là 522 ngân hàng khu vực Đông Nam Châu Âu từ 7 quốc
gia Albania, Bosnia – Herzegovina, Bulgaria, Croatia, Fyrom, Romania và SerbiaMontenegro trong giai đoạn 1998 – 2002.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng lợi nhuận của ngân hàng chịu tác động bởi
yếu tố rủi ro tín dụng và quy mô ngân hàng. Đối với biến đại diện cho yếu tố kinh tế
vĩ mô, lạm phát được xác định có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lợi nhuận ngân hàng.
2.2.4. Pasiouras và Kosmidou (2007)
Pasiouras và Kosmidou (2007) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
ngân hàng thương mại hoạt động tại 15 quốc gia liên minh Châu Âu giai đoạn 1995
phí hoạt động và quy mô ngân hàng. Các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô
cũng được sử dụng như vốn hóa thị trường chứng khoán và thị phần.
Dữ liệu được phân tích là 19 chi nhánh ngân hàng Hy Lạp hoạt động tại 11
quốc gia trong giai đoạn 1995 đến 2001, gồm 92 mẫu quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng có mối tương quan thuận
đến lợi nhuận ngân hàng. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các kết hợp của các
biến có thể giải thích nhiều hơn đối với lợi nhuận ngân hàng Hy Lạp hoạt động ở
nước ngoài.
2.2.6. Khizer Ali, Muhammad Farhan Akhtar và Hafiz Zafar Ahmed
(2010)
Khizer Ali, Muhammad Farhan Akhtar và Hafiz Zafar Ahmed (2010) nghiên
cứu các chỉ số tài chính và chỉ số kinh tế vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân
hàng thương mại Pakistan giai đoạn 2006 – 2009.
Các tác giả sử dụng hai biến phụ thuộc là lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi
11
nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Nghiên cứu sử dụng sáu biến độc lập là các chỉ
số tài chính của các ngân hàng, như quy mô ngân hàng, hiệu quả hoạt động, vốn chủ
sở hữu, rủi ro tín dụng, hiệu quả quản lý tài sản, cấu trúc danh mục đầu tư (portfolio
composition). Hai biến độc lập đại diện cho các yếu tố kinh tế vĩ mô là tốc độ tăng
trưởng tổng sản phẩm quốc nội và lạm phát.
Dữ liệu nghiên cứu là ngân hàng thương mại Pakistan giai đoạn 2006 – 2009,
bao gồm 88 mẫu quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ROA và ROE có mối tương quan thuận với hiệu
quả quản lý tài sản và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội. Trong khi, ROA
có mối tương quan nghịch với vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng và lạm phát, ROE có
mối tương quan nghịch biến hiệu quả hoạt động.
2.2.7. Deger Alper và Adem Anbar (2011)
Thị Việt Thủy, 2012; Trần Thị Bích Vân, 2012; Nguyễn Công Anh, 2012; Chu Thị
Oanh, 2012). Một số tác giả khác nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa niêm yết trên thị trường chứng khoán (Nguyễn
Thị Thu Ngân, 2012; Đặng Ngọc Tú, 2012).
Trong khi đó, theo người viết được biết (đến thời điểm tháng 01/2013) thì chỉ
có hai tác giả nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương
mại Việt Nam là Nguyễn Thị Ngân (2011) và Ths.Phan Thị Hằng Nga (2011).
2.3.1. Nguyễn Thị Ngân (2011)
Trong luận văn thạc sĩ kinh tế của mình, Nguyễn Thị Ngân (2011) đã tìm hiểu
thực trạng hoạt động chung của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong
giai đoạn 2006-2010. Nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm về quan hệ
giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Dữ liệu nghiên cứu là 37 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Biến phụ
thuộc được nghiên cứu là ROE. Biến độc lập được sử dụng là tỷ lệ tổng nợ trên tổng
tài sản, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, tỷ trọng
tài sản cố định trong tổng tài sản, tỷ trọng chứng khoán kinh doanh, đầu tư và góp
vốn, mua cổ phần trong tổng tài sản, tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng
nguồn vốn, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ trọng cho vay khách hàng trong tổng tài sản,
13
tỷ trọng chứng khoán kinh doanh, đầu tư và góp vốn, mua cổ phiếu trong tổng tài
sản có tương quan nghịch với ROE. Trong khi đó, tỷ trọng tiền gửi của khách hàng
trong tổng nguồn vốn, sự tham gia của cổ đông chiến lược nước ngoài có tương
quan thuận với ROE của ngân hàng quy mô lớn. Đối với các ngân hàng có quy mô
nhỏ, tỷ trọng tài sản cố định trong tổng tài sản có tương quan thuận với ROE, trong
khi đó tỷ trọng tiền gửi của khách hàng trong tổng nguồn vốn có tương quan nghịch
với ROE. Đặc biệt, đối với tất cả các ngân hàng không phân biệt quy mô thì các
chỉ là 6 ngân hàng thương mại niêm yết giai đoạn 2005 - 2010 nên có thể chưa đại
diện được cho tổng thể các ngân hàng thương mại niêm yết trên sàn tại Việt Nam.
Thứ hai, các biến độc lập được phân tích chưa bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô.
2.4. Kết luận chương 2
Dựa trên mô hình nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu trước đây, đặc điểm
nổi bậc là các nghiên cứu đều sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi
nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là biến phụ thuộc đại diện cho lợi nhuận của ngân
hàng. Các nghiên cứu trước đây chia các yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận vào hai nhóm
là các biến đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng (thể hiện ở các tỷ số tài
chính của ngân hàng) và các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô.
Các đặc điểm nội tại của ngân hàng là các yếu tố nội bộ chịu ảnh hưởng bởi
các chính sách của nhà quản lý, bao gồm: quy mô, vốn chủ sở hữu, cho vay khách
hàng, tiền gửi của khách hàng, tính thanh khoản, cấu trúc thu nhập – chi phí.
Các yếu tố kinh tế vĩ mô là những yếu tố không chịu sự ảnh hưởng của các
quyết định quản lý của ngân hàng, bao gồm: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc
nội thực tế hàng năm, lạm phát và lãi suất thực.
15
CHƯƠNG 3 – DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là số liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân
hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn năm 2007 đến 2011. Do tại Việt
Nam chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu chính thức và thống nhất nên tác giả phải thu
thập dữ liệu thủ công từ nhiều nguồi khác nhau. Báo cáo tài chính của các ngân
hàng thương mại được thu thập từ website các ngân hàng. Ngoài ra, các thông tin về
yếu tố kinh tế vĩ mô được thu thập từ website của ngân hàng thế giới tại địa chỉ:
1
5
(MBB)
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
1
1
1
1
1
5
(STB)
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
1
1
1
1
1
5
(CTG)
Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
1
1
1
1
1
5
(VCB)
Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB)
1
1
1
1
Ngân hàng TMCP Kỹ Thương
Ngân hàng TMCP Sài gòn Công Thương
Ngân hàng TMCP Đại Tín
Ngân hàng TMCP Đại Dương
Tổng
1
1
1
1
15
1
1
1
1
16
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
17
5
5
5
5
81
3.2. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến lợi
nhuận của ngân hàng Việt Nam
3.2.1. Các biến nghiên cứu
3.2.1.1. Các biến phụ thuộc
Để đánh giá lợi nhuận (hiệu quả hoạt động) của ngân hàng, các nhà nghiên
cứu thường sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ
sở hữu (ROE).
ROA là một chỉ tiêu tài chính đo lường bởi mối quan hệ giữa lợi nhuận hoặc
thu nhập ròng và tài sản. ROA phản ánh khả năng quản lý ngân hàng để tạo ra lợi
nhuận (Tarawneh, 2006). Chỉ tiêu này cho thấy tính hiệu quả trong việc quản lý
ngân hàng của các nhà lãnh đạo cấp cao để có thể chuyển đổi tài sản của ngân hàng
hoặc tài sản của tổ chức sang thu nhập ròng, lợi nhuận (Samad,1999). ROA là tỷ lệ
quan trọng nhất trong so sánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng vì nó cho biết lợi
nhuận được tạo ra từ các tài sản được tài trợ của ngân hàng. Công thức xác định
ROA như sau:
17