BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ UYỂN VY
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT TRIỂN TÀI CHÍNH, BẤT ỔN ĐỊNH TÀI
CHÍNH, TỰ DO HOÁ TÀI CHÍNH VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở
CÁC QUỐC GIA KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính Doanh Nghiệp
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sỹ “Mối quan hệ giữa phát triển tài chính, bất ổn
định tài chính, tự do hóa tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia khu
vực Châu Á – Thái Bình Dương” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu
khoa học độc lập và nghiêm túc. Các số liệu và kết quả trong luận văn là đáng tin
cậy, được xử lý trung thực và khách quan.
Người viết
Lê Uyển Vy
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính ..................................................................23
2.2.3 Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm liên qua đến các mối liên hệ được kiểm
định trong bài nghiên cứu .......................................................................................26
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................32
3.1 Mô hình thực nghiệm ........................................................................................32
3.2 Dữ liệu mẫu .......................................................................................................32
3.3 Phương pháp nghiên cứu...................................................................................37
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ MÔ HÌNH ...................................................................43
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu ..................................................................43
4.2 Kiểm định việc lựa chọn mô hình ước lượng hồi quy ......................................48
4.3 Các kiểm định lựa chọn mô hình ......................................................................49
4.3.1 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư ......................................49
4.3.2 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư trên dữ liệu bảng ...................50
4.3.3 Phân tích kết quả hồi quy mô hình .................................................................50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ....................................................................................58
5.1 Tổng kết ............................................................................................................58
5.2 Hạn chế đề tài ....................................................................................................59
5.3 Hướng nghiên cứu mở rộng ..............................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp một số nghiên cứu liên quan….....................................Trang 28
Bảng 3.1: Tổng hợp các biến sử dụng trong mô hình…................................Trang 36
Bảng 4.1: Thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình…......................Trang 43
Bảng 4.2: Kết quả phân tích thành phần chính bất ổn định tài chính…........Trang 47
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTW
Ngân hàng Trung ương
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
1
TÓM TẮT
Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối
quan hệ giữa phát triển tài chính, bất ổn định tài chính, tự do hoá tài chính và tăng
trưởng kinh tế ở một số quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bài nghiên
cứu sử dụng phương pháp hồi quy GMM cho bộ dữ liệu bảng của 14 quốc gia thuộc
châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Australia, China, Hong Kong SAR, Indonesia,
Japan, Korea, Malaysia, Mongolia, New Zealand, Vanuatu, Philippines, Singapore,
Thailand và Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2015, với kỳ quan sát
tính theo năm. Không gian và thời gian nghiên cứu được lựa chọn trên cơ sở có đủ
dữ liệu trong Data WorldBank. Bài nghiên cứu rút ra một số phát hiện quan trọng
như sau:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ giữa tăng trưởng
kinh tế và bất ổn định tài chính, mối qua hệ này là cùng chiều, một nền kinh tế càng
tăng trưởng thì càng tăng độ bất ổn của tài chính, ngay cả khi không xét đến yếu tố
phát triển tài chính và tự do hoá tài chính.
tăng làm cho hệ thống tài chính ngày càng năng động và phát triển, rủi ro bất ổn tài
chính đẩy lên cao. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tác giả thực hiện
nghiên cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính, bất ổn định tài chính, tự do
hóa tài chính và tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia khu vực Châu Á – Thái
Bình Dương trong giai đoạn 1990 – 2015.
Xoay quanh vấn đề tìm hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố trong thị trường tài
chính có khá nhiều bài nghiên cứu đã thực hiện trước đây, thậm chí theo các trường
phái khác nhau. Một trường phái nghiên cứu theo hướng, tự do hoá tài chính có tác
động tích cực hay tiêu cực đến sự bất ổn tài chính phụ thuộc vào mức độ tăng
trưởng của một quốc gia, tiêu biểu cho trường phái này có các nghiên cứu: Reinhart
và Tokatlidis (2003), Rodrik và Subramanian (2009), Suwailem (2014)… Một
trường phái nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển tài chính và
3
bất ổn định tài chính, tiêu biểu cho trường phái này có các nghiên cứu: Rajan và
Zingales (1998), Binifigliol và Mendocine (2004), Enowbi và cộng sự (2016) …
Mối quan hệ giữa các yếu tố trên không phải là một vấn đề nghiên cứu quá
mới tuy nhiên ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vẫn chưa được nghiên cứu
nhiều và ít tài liệu liên quan. Trong bài nghiên cứu của mình tác giả kỳ vọng tìm
được bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng
trưởng kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến độ bất ổn định tài chính, đặc biệt xét
trong thời kỳ hội nhập kinh tế mối quan hệ này khác nhau như thế nào đối với các
quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương thời điểm trước và sau tự do hóa tài chính.
Luận văn được thực hiện dựa trên bài nghiên cứu: “Linkages between
financial development, financial instability, financial liberalization and economic
growth in Africa” của Enowbi và cộng sự (2016)
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm mối
Tăng trưởng kinh tế có tác động đến sự bất ổn tài chính hay không?
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phép phân tích trên dữ liệu bảng nhằm trả lời câu hỏi
mối quan hệ giữa các yếu tố tăng trưởng, phát triển tài chính và tự do hóa tài chính
ảnh hưởng đến độ ổn định tài chính quốc gia. Bài nghiên cứu lần lượt kiểm định các
giả thiết cổ điển bao gồm đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và nội
sinh, sau đó sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng GMM được giới thiệu bởi
Arellano Bond (1991) nhằm đảm bảo tính vững và hiệu quả ước lượng.
Phần mềm tác giả được sử dụng tính toán và ước lượng là Stata 13.
1.5 Bố cục bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu bao gồm 5 phần với bố cục như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài.
Trong chương này, một số vấn đề của đề tài sẽ được làm rõ: lý do chọn đề tài, mục
tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, vấn đề cần nghiên cứu, giới thiệu tổng quan về
phương pháp nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Tổng hợp những lý thuyết cơ bản, cơ sở lý luận khoa học liên quan và những nghiên
cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa tự do hoá tài chính, phát triển
tài chính, tăng trưởng kinh tế và độ bất ổn định tài chính
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
5
Trong chương này tác giả trình bày: mô hình nghiên cứu, mô tả các biến, dữ liệu
nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quán hệ giữa các yếu tố:
Tự do hoá tài chính, phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế đối với độ bất ổn định
tài chính ở một số quốc gia Châu Á tương ứng với phương pháp nghiên cứu.
kịp thời nhu cầu của nền kinh tế.
Phát triển tài chính có thể được định nghĩa như một sự cải tiến về chất lượng
trong 4 chức năng chính của thị trường tài chính (theo mô hình Levine, R 1997):
(1) Huy động vốn
(2) Phân bổ vốn và hỗ trợ lưu thông hàng hoá
(3) Hỗ trợ kiểm soát doanh nghiệp
(4) Hỗ trợ quản trị rủi ro
Các đặc trưng có liên quan phát triển tài chính hỗ trợ thực hiện tốt 4 chức năng trên
Để thực hiện tốt bốn chức năng trên, thì cần phải có sự bổ trợ của các hoạt động
sau:
-
Các trung gian tài chính được hình thành đa dạng và cách thức hoạt động
khác nhau giúp giảm chi phí giao dịch và tạo ra lợi tức vốn phân bổ tối ưu
7
-
Các dịch vụ tài chính ra đời và cung cấp gần như tối ưu đến các lĩnh vực/
nghành nghề kinh tế xã hội
Phát triển tài chính và sự hình thành cơ sở hạ tầng liên quan đến trung gian
tài chính giải quyết được phần nào vấn đề bất cân xứng thông tin, giúp cho cung và
cầu của nhà đầu tư và người đi vay gặp nhau.
Phát triển tài chính thông qua các trung gian tài chính đã thực hiện tốt vai trò
của mình là thu hút và huy động tiền tiết kiệm cho đầu tư, và phân bổ vốn một các
hiệu quả cho các dự án có lợi tức kỳ vọng cao, tạo điều kiên gia tăng năng suất
chung của nền kinh tế và lợi suất thực của vốn.
Bài nghiên cứu dựa theo phương pháp của Klomp và Haan (2009) xây dựng
một chỉ số bất ổn định tài chính liên tục, bằng cách phân tích số học về một số chỉ
số ổn định tài chính.
Dấu hiệu của bất ổn định tài chính
Giai đoạn tiền khủng hoảng, giống như bầu trời trước bão, luôn có đầy đủ
dấu hiệu cảnh báo cần thiết. Theo một nghiên cứu của IMF dựa trên các cuộc khủng
hoảng đã xảy ra trong lịch sử về dấu hiệu, diễn biến và nguyên nhân, trước khi xảy
ra khủng hoảng, các dấu hiệu sau (hoặc cùng nhau hoặc một hay một số trong đó)
thường xuất hiện:
-
Thứ nhất, tín dụng mở rộng quá mức và/hoặc giá tài sản tăng quá cao
Dấu hiệu này thường đi kèm với chính sách tiền tệ mở rộng, dòng vốn giá rẻ
ồ ạt cung vào thị trường qua hệ thống tài chính. Hệ lụy là dòng tiền không thể hấp
thụ hết vào khu vực sản xuất sẽ chảy vào những khu vực có tỷ suất sinh lời cao và
rủi ro cũng cao như các thị trường tài sản (bất động sản, thị trường chứng khoán),
nhiều trong số đó mang tính đầu cơ ngắn hạn, tạo bong bóng tài sản. Khủng hoảng
sẽ xảy ra khi dòng vốn giá rẻ đột ngột đảo chiều, thị trường tài sản đổ vỡ (giảm giá
mạnh, mất thanh khoản).
Thực tế cho thấy, dấu hiệu đầu tiên này cũng là dấu hiệu phổ biến và cơ bản
nhất, xuất hiện tại mọi cuộc khủng hoảng tài chính lớn. Ví dụ, tại cuộc khủng hoảng
9
nợ của các nước Mỹ La-tinh năm 1982, do dễ dàng vay nợ giá rẻ từ nước ngoài
trong nhiều năm, các ngân hàng thương mại (NHTM) tăng trưởng tín dụng nhanh
với quy mô lớn, nhờ đó kinh tế tăng trưởng cao trong những năm này. Tuy nhiên,
khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ thập kỷ 70, dòng
10
cứu trợ quy mô lớn nhưng vẫn không thể ngăn chặn đà tiến của cuộc khủng hoảng
đó.
-
Thứ tư, các bất cân đối lớn trên bảng cân đối tài khoản, cụ thể là bất cân đối
giữa NỢ và TÀI SẢN (của Chính phủ, doanh nghiệp, hộ gia đình, ngân hàng
thương mại (NHTM)…).
Ngoài ra, còn có các dấu hiệu bất cân đối khác như sự phá giá tiền tệ mạnh
và đột ngột, suy giảm mạnh dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Trung ương (NHTW)
trong thời gian ngắn, thâm hụt cán cân thanh toán, cán cân thương mại nghiêm
trọng và kéo dài …
Tác động của bất ổn định tài chính
-
Tác động cơ bản và rõ nét nhất là thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp, tỷ lệ
thất nghiệp gia tăng
Thị trường hàng hoá, tiêu thụ thu hẹp do sản xuất của doanh nghiệp, thu
nhập của người dân giảm mạnh. Vì vậy nhu cầu về tiêu thụ hàng hoá sản phẩm
giảm, đặc biệt đối với các quốc gia có tỷ trọng xuất khẩu chiếm phần lớn GDP (Việt
Nam hơn 50% GDP là sản lượng xuất khẩu) thì tác động này càng rõ nét. Cầu tiêu
thụ giảm kéo theo hoạt động sản xuất kinh doanh thu hẹp, giá trị sản xuất công
nghiệp giảm, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng gây khó khăn toàn diện về lĩnh vực kinh tế
cũng như an sinh xã hội.
-
Thứ hai là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư trực tiếp sụt
2.1.1.3. Tự do hoá tài chính
Tự do hoá tài chính có thể hiểu là giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào
các quan hệ và giao dịch tài chính, làm cho hệ thống tài chính quốc gia được hoạt
động tự do hơn và hiệu quả hơn theo tín hiệu thị trường. Đây chính là quá trình nới
lỏng những hạn chế về các quyền tham gia thị trường cho các bên tìm kiếm lợi ích
trong phạm vi kiểm soát được của pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau:
-
Giảm thiểu tối đa việc kiểm soát về giá cả và lãi suất trên thị trường tài chính
-
Xã hội hóa khu vực tài chính và đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong
việc cho vay tín dụng
-
Cho phép sự gia nhập rộng rãi trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, đặc biệt xóa
bỏ những trợ cấp cho các tổ chức hoạt động trong thị trường tài chính …
12
Từ định nghĩa của tự do hoá tài chính, có thể hiểu bản chất của nó là đưa
hoạt động tài chính vận hành theo cơ chế thị trường, và chuyển giao dần vai trò từ
chính phủ sang thị trường trong vấn đề điều tiết tài chính, trong quá trình chuyển
giao sẽ dần tìm thấy sự phối hợp hiệu quả nhất trong việc thực hiện các mục tiêu xã
hội, kinh tế giữa nhà nước và thị trường
Tự do hoá tài chính bao gồm các nội dung cơ bản tự do hoá các hoạt động
Trong khuôn khổ hệ thống tài chính đã tiến trình tự do hoá, NHTW cần có
những chiến lược chỉ đạo chính sách tiền tệ phù hợp
-
Để bắt kịp tối đa hoá hiệu quả hoạt động tự do hoá tài chính, cần chuẩn bị
những công cụ tài chính mới.
Lợi ích của tự do hóa tài chính, có thể tóm tắt 6 lợi ích chính:
13
Thứ nhất, tự do hoá tài chính góp phần tạo điều kiện mở rộng quá trình
chuyển tiết kiệm sang cho đầu tư. Vì khi đó, lãi suất huy động thâp hơn so với các
tổ chức đầu tư tài chính, các thủ thủ tục ràng buộc về vay vốn cũng sẽ đơn giản hơn.
Thứ hai, tự do hoá tài chính làm cho việc phân bổ nguồn đầu tư trở nên hiệu
quả hơn. Khi quá trình tự do hoá vận hành khiến cho các tổ chức tín dụng e ngại rủi
ro, tập trung tìm kiếm các dự án có khả năng sinh lời cao, để thủ tục và nguồn vốn
cho vay được an toàn. Việc này kéo theo các định chế tài chính thực hiện tốt hơn
nhiệm vụ thẩm định đánh giá dự án tiềm năng, nguồn vốn phân bổ sẽ được đầu tư
một cách hiệu quả và nguồn nhân lực của xã hội cũng được cải thiện một cách đáng
kể qua quá trình cạnh tranh và hoạt động nghiêm túc.
Thứ ba, tự do hoá tài chính giữ cho lãi suất thực luôn dương do sự tự diều
chỉnh về quy luật cung cầu thị trường. Khi đó người cho vay sẽ an tâm khi gửi tiền
tiết kiệm vào tồ chức tín dụng, nguồn vốn đầu tư cho các dự án gia tăng, kích thích
tăng trưởng kinh tế
Thứ tư, tự do hoá tài chính giúp gia tăng năng lực quản lý của các tổ chức tài
chính nội địa, các hoạt động dịch vụ tài chính ổn định, đa dạng và hiệu quả hơn.
Thứ năm, tự do hoá các dịch vụ tài chính mang lại cơ hội giảm thiểu rủi ro hệ
lại hiệu quả kinh tế xã hội tiềm năng với mức chi phí tối ưu.
Trên thực tế, rất ít bằng chứng cho rằng tự do hoá tài chính có thể gây hại
cho sự an toàn của hệ thống tài chính nội địa. Theo Dobson & Jacquet (1998), sự đa
dạng và tính ổn định của hệ thống tài chính được tăng thêm khi có sự góp mặt của
các tổ chinh tài chính nước ngoài. Và hiêu quả của chính sách tài chính tiền tệ
không phụ thuộc vào sự góp mặt của các tổ chức tài chính quốc tế, mà phụ thuộc
chính vào chình sách điều vốn và tỷ giá của nước chủ nhà.
2.1.1.4. Tăng trưởng kinh tế
15
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc
thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).
Xét trong điều kiện một khoảng thời gian nhất định, sự gia tăng GNP hoặc
GDP được xem là biểu hiện của tăng trưởng kinh tế. Cũng có thể định nghĩa tăng
trưởng kinh tế là sự gia tăng sản xuất và tiêu dùng trong nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định.
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) được xét trong
một khoản thời gian nhất định là giá trị của tất cả các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ
tính bằng tiền và lưu ý đây là sản phẩm dịch vụ cuối cùng được sản xuất tạo ra tới
tay người tiêu dùng (thường tín niên độ một năm tài chính)
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) cũng được định
nghĩa giống GDP nhưng điểm khác nhâu để phân biệt hai định nghĩa này là GNP là
giá trị của các hàng hoá dịch vụ do người dân quốc gia đó tạo ra, không kể người
dân đó đang ở đâu trên thế giới chỉ cần mang quốc tịch nước nhà là được tính, còn
GDP là sản phẩm tạo ra trên quốc gia đó không xét người dân của quốc gia nào
miễn đang ở trong lãnh thỗ là được tính.
Tổng sản phẩm quốc nội chia cho số dân được gọi là tổng sản phẩm bình
Tạo nguồn vốn cho công đồng
Nguồn lực của tăng trưởng kinh tế có 4 yếu tố bao gồm: Vốn nhân lực (tri
thức và kỹ năng nhân lực), tích lũy tư bản (cơ sở vật chất khu vực tư nhân và
công cộng), tài nguyên thiên nhiên (đất đai, khoáng sản), tri thức công nghệ
(máy móc kỹ thuật cao).
Cơ sở lý thuyết xác định nguồn lực của tăng trưởng kinh tế:
-
Lý thuyết cổ điển của Smith: Ông cho rằng đất đai được chia tự do cho tất cả
mọi người, đất đai là sẵn có nên đơn giản mọi người chỉ cần mở rộng thêm
nhiều diện tích hơn khi dân số tăng lên. Sản lượng sẽ tăng tương ứng cùng
với dân số. Tiền lương thực tế theo đầu người sẽ không đổi theo thời gian.
-
Lý thuyết cổ điển của Malthus: Ông cho rằng mức sống sẽ khó được cải
thiện chỉ ở mức vừa và đủ do áp lực tăng dân. Ông lý giải rằng, khi thu nhập
cao hơn mức sống, dân số sẽ gia tăng, cung lao động tăng, mức lương giảm
xuống thấp kéo theo tỷ lệ tử vong cao làm giảm dân số, ảnh hưởng cung lao
động khan hiếm, mức tiền lương cải thiện và tiếp tục vòng tuần hoàn
-
Lý thuyết tăng trưởng của trường phái Keynes: Mô hình nhấn mạnh vai trò
của tiết kiệm và đầu tư trong tăng trưởng kinh tế.
-
-
Huy động vốn
-
Phân bổ vốn
-
Hỗ trợ kiểm soát doanh nghiệp
-
Hỗ trợ quản trị rủi ro
18
Kênh tăng trưởng
-
Tích lũy vốn
TĂNG TRƯỞNG
Nguồn: Lavine .R (1997)
nước ngoài” (Dobson & Jacquet, 1998)
2.1.2.2 Mối quan hệ giữa tự do hoá tài chính và tăng trưởng kinh tế
Những thời điểm thập niên 1950 và 1970, hầu hết ở các nước đang phát triển