BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM THỊ TƢỜNG VI
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN, RỦI
RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHẠM THỊ TƢỜNG VI
MỐI QUAN HỆ GIỮA RỦI RO THANH KHOẢN, RỦI
RO TÍN DỤNG VÀ LỢI NHUẬN CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐOÀN ĐỈNH LAM
CHƢƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .......................... 6
2.1. Thanh khoản và rủi ro thanh khoản .................................................................. 6
2.2. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng ...................... 7
2.3. Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng .............................. 9
2.4. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng .............................. 10
CHƢƠNG 3 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 14
3.1. Dữ liệu và lựa chọn mẫu.................................................................................... 14
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................. 15
3.2.1. Mô hình nguyên nhân của rủi ro thanh khoản .............................................. 15
3.2.1.1. Mô tả biến ............................................................................................... 15
3.2.1.2. Mô hình ................................................................................................... 18
3.2.2. Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng ...... 19
3.2.2.1. Mô tả biến ............................................................................................... 19
3.2.2.2. Mô hình ................................................................................................... 22
3.2.3. Mô hình mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ................ 24
3.2.3.1. Mô tả biến ............................................................................................... 24
3.2.3.2. Mô hình ................................................................................................... 28
CHƢƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI VIỆT NAM ................................... 32
4.1. Thực trạng ảnh hƣởng giữa các nhân tố tại Việt Nam .................................. 32
4.1.1. Khoảng cách tài chính ................................................................................... 32
4.1.2. Các nhân tố đặc thù ngân hàng .................................................................... 35
4.1.3. Các nhân tố kinh tế vĩ mô .............................................................................. 39
4.1.4. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng .............................. 41
4.2. Kiểm định tính dừng.......................................................................................... 44
4.3. Kết quả nghiên cứu của các mô hình ứng dụng tại Việt Nam ....................... 44
4.3.1. Kết quả hồi quy của mô hình nguyên nhân rủi ro thanh khoản ngân hàng .. 44
4.3.2. Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng tại Việt
Nam.......................................................................................................................... 50
BCĐKT
Bảng cân đối kế toán
BCTC
Báo cáo tài chính
CPI
Chỉ số giá tiêu dùng
Consumer Price Index
DIV
Tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Deposit Insurance of VietNam
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
Gross Domestic Product
IMF
Quỹ tiền tệ quốc tế
Tổ chức tín dụng
USD
Đôla Mỹ
United States dollar
VAR
Tự hồi quy dạng véc tơ
Vector Autoregressive
VND
Việt Nam đồng
WB
Ngân hàng Thế giới
World Bank
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
World Trade Organization
Bảng 4.9: Kết quả ước lượng panel VAR cho hai biến rủi ro........................................ 59
Bảng 4.10: Kết quả hồi quy mô hình rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng với mẫu gồm
5 NHTMCP lớn nhất VN. .............................................................................................. 60
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tăng trưởng tín dụng và huy động vốn ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn
2006 – 2013. ................................................................................................................... 33
Biểu đồ 4.2: FGAPR, ROA, ROE và NIM của một số NHTMCP Việt Nam ............... 34
Biểu đồ 4.3: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tỷ lệ vốn của 25 NHTMCP Việt Nam giai
đoạn 2006 – 2013. .......................................................................................................... 36
Biểu đồ 4.4: Tỷ số cấu trúc thị trường CON giai đoạn 2006 – 2013. ............................ 38
Biểu đồ 4.5: LLPL và ROA, ROE, NIM trung bình giai đoạn 2006 – 2013. ................ 39
Biểu đồ 4.6: Tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát giai đoạn 2006 – 2013. ..................... 40
Biểu đồ 4.7: LR và CR của một số NHTMCP tại Việt Nam ......................................... 42
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này điều tra các nhân tố tác động lên rủi ro thanh khoản, sau đó xem rủi
ro thanh khoản như một nhân tố nội sinh tác động lên lợi nhuận ngân hàng cùng với
các nhân tố ngoại sinh khác. Tiếp đó là xem xét mối quan hệ giữa hai loại rủi ro quan
trọng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của một ngân hàng: rủi ro thanh khoản
và rủi ro tín dụng. Tác giả sử dụng một bảng dữ liệu gồm 25 ngân hàng thương mại cổ
phần tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2013, kết hợp với các thuật toán kinh tế
lượng (hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định, hiệu ứng ngẫu nhiên; ước lượng các
phương trình đồng thời thông qua phương pháp bình phương bé nhất hai giai đoạn, ba
giai đoạn; tự hồi quy dạng bảng). Ngoài ra, tác giả còn thực hiện chia nhỏ mẫu và sử
dụng một mẫu quan sát theo quý khác để xem xét và kiểm định một lần nữa mối quan
môi trường vĩ mô đối với hoạt động của ngân hàng.
Sau cuộc khủng hoảng, tình hình thanh khoản và hoạt động tín dụng ngân hàng vẫn
luôn là vấn đề được các ngân hàng thương mại Việt Nam quan tâm hàng đầu, nhằm
ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra khi rơi vào tình trạng xấu. Mặc dù thời gian gần
đây tình hình thanh khoản của hệ thống có khởi sắc hơn trước song những rủi ro vẫn có
thể tiềm ẩn. Các bài nghiên cứu trong nước phần lớn chỉ dừng lại ở cấp độ đánh giá
thanh khoản ngân hàng thông qua các phương pháp tiếp cận các chỉ số thanh khoản,
các tỷ lệ đảm bảo an toàn theo quy định của ngân hàng nhà nước (NHNN), nguồn và sử
dụng nguồn hay cấu trúc vốn,…Vì vậy tác giả thực hiện bài nghiên cứu này dựa trên
các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài, bằng cách thu thập các số liệu cần thiết để cho
ra các mô hình hồi quy cụ thể, cho cái nhìn chính xác hơn về những nhân tố ảnh hưởng
lên rủi ro thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng. Sau đó, tác giả thực hiện hồi quy các
phương trình cấu trúc đồng thời để xác định mối quan hệ có thể có giữa rủi ro thanh
3
khoản và rủi ro tín dụng. Từ đó đưa ra các đề xuất quản lý phù hợp cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu đầu tiên của bài nghiên cứu này là xác định các nhân tố bên trong lẫn bên
ngoài ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản của ngân hàng.
Tiếp đó, tác giả điều tra các nhân tố tác động lên lợi nhuận của ngân hàng với việc xem
rủi ro thanh khoản như là một nhân tố nội sinh.
Mục tiêu cuối cùng là điều tra mối quan hệ qua lại đồng thời hoặc trễ có thể có giữa rủi
ro thanh khoản và rủi ro tín dụng của ngân hàng.
1.3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Tác giả sử dụng một bộ mẫu dữ liệu bảng của 25 ngân hàng thương mại cổ phần
(NHTMCP) Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2013 (dữ liệu năm) để kiểm định các
nhân tố ảnh hưởng lên rủi ro thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng, cũng như mối quan hệ
riêng lẻ. Chưa có bất kỳ nghiên cứu nào trong nước điều tra mối quan hệ đồng thời
giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng trên cơ sở mẫu gần như hầu hết các ngân
hàng thương mại Việt Nam. Do đó, các kết quả trong bài nghiên cứu này có thể hỗ trợ
cho những nỗ lực cải thiện tình hình quản trị rủi ro tại các ngân hàng với sự chú ý đặc
biệt đến sự xuất hiện đồng thời của rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng, từ đó nâng
cao khả năng phòng ngừa rủi ro vỡ nợ, phá sản và gia tăng lợi nhuận của ngân hàng.
Đặc biệt là tạo một nền tảng cho các ngân hàng trên đà áp dụng các chuẩn mực theo
Basel II và Basel III trong tương lai gần.
1.6. Kết cấu luận văn
5
Nội dung bài nghiên cứu này được chia thành các chương mục, bao gồm:
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây tạo tiền đề cho bài nghiên
cứu.
Chương 3: Mẫu dữ liệu, phương pháp nghiên cứu và mô hình kinh tế lượng được sử
dụng.
Chương 4: Thực trạng ảnh hưởng giữa các nhân tố kiểm định và kết quả thực nghiệm
từ các mô hình hồi quy.
Chương 5: Kết luận, đưa ra các đề xuất và hướng nghiên cứu tiếp theo.
6
CHƢƠNG 2 - TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1. Thanh khoản và rủi ro thanh khoản
Theo định nghĩa của Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (BCBS) (1997), rủi ro thanh
khoản phát sinh từ sự bất lực của một ngân hàng để giảm nợ phải trả hoặc gia tăng
thị trường và cả rủi ro hoạt động nhưng rủi ro thanh khoản lại ít khi được chú ý đến,
trong khi nó đã trở thành một trong những rủi ro lớn phải đối mặt của các ngân hàng và
các tổ chức tài chính khác trong những năm gần đây.
2.2. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận ngân hàng
Trong các nghiên cứu trước đây, người ta thường sử dụng các tỷ số để đo lường rủi ro
thanh khoản, như là tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản (Barth et al., 2003;
Demirgüç-Kunt et al., 2003; Pavla Vodová, 2011), tỷ số tài sản lưu động trên các
khoản tiền gửi (Shen et al., 2001; Pavla Vodová, 2011) và tỷ số tài sản lưu động trên
tiền gửi ngắn hạn của khách hàng (Kosmidou et al., 2005), tỷ số tài sản lưu động dễ
chuyển đổi trên tổng nợ (Jose Arias et al., 2014). Các ngân hàng có giá trị các tỷ số này
càng cao cho thấy khả năng thanh khoản càng cao. Bên cạnh đó, một nghiên cứu khác
sử dụng các tỷ số như tỷ số vốn vay trên tổng tài sản (Athanasoglou et al., 2006; Pavla
Vodová, 2011), tỷ số các khoản vay ròng trên tiền gửi ngắn hạn của khách hàng
(Pasiouras và Kosmidou, 2007; Kosmidou, 2008; Naceur và Kandil, 2009; Pavla
Vodová, 2011) để đánh giá rủi ro thanh khoản của ngân hàng. Giá trị của các tỷ số này
càng cao, các ngân hàng càng chịu nhiều rủi ro thanh khoản.
Như vậy, bên cạnh việc sử dụng các chỉ số thanh khoản truyền thống để đánh giá rủi ro
thanh khoản ngân hàng thì ta vẫn có thể sử dụng một vài chỉ số khác để xác định mối
tương quan chặt chẽ giữa nó với rủi ro thanh khoản ngân hàng. Hơn nữa, việc đo lường
và nhận xét về rủi ro thanh khoản còn có thể được tiến hành dựa trên các phương pháp
8
về định lượng và chất lượng. Saunders và Cornett (2006) chỉ ra rằng các ngân hàng có
thể sử dụng phương pháp phân tích nguồn và sử dụng nguồn vốn; so sánh nhóm tỷ số
đồng đẳng, chỉ số thanh khoản, khoảng cách tài chính để đo lường rủi ro thanh khoản
của ngân hàng. Bên cạnh đó, theo Matz và Neu (2007), các ngân hàng có thể áp dụng
phân tích bảng cân đối kế toán, vị thế vốn góp tiền mặt để đánh giá rủi ro thanh khoản
và đánh giá rủi ro thanh khoản về chất lượng cũng quan trọng không kém gì một phép
Ngoài ra, sự khác biệt về chi phí có thể gây ra một mối quan hệ cùng chiều giữa kích
thước và thành quả ngân hàng, nếu đó là hiệu quả kinh tế do mở rộng quy mô có ý
nghĩa (Goddard et al., 2004). Short (1979) lập luận rằng kích thước có mối quan hệ
chặt chẽ với an toàn vốn của một ngân hàng kể từ khi các ngân hàng tương đối lớn có
xu hướng nâng cao vốn giá rẻ (less expensive capital), do đó thu nhiều lợi nhuận hơn.
Eichengreen và Gibson (2001) cho rằng tác động của kích thước lên lợi nhuận ngân
hàng có thể là cùng chiều cho đến một giới hạn nhất định. Khi vượt điểm này, ảnh
hưởng của kích thước có thể ngược chiều do tính chất quan liêu trong quản lý hay tham
nhũng. Các nghiên cứu trước đây sử dụng tỷ số vốn trên tài sản như là một biến giải
thích cho lợi nhuận ngân hàng và tìm thấy mối quan hệ giữa chúng là cùng chiều
(Kosmidou et al., 2005).
2.3. Mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng
Tác động của rủi ro tín dụng lên lợi nhuận ngân hàng cũng bao gồm các tác động hỗn
hợp. Thay đổi trong các khoản chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có thể phản ánh những
thay đổi trong danh mục các khoản cho vay của ngân hàng (Cooper et al., 2003;
Chung-Hua Shen et al.,2009; Naser Ail Yadollahzadeh Tabari et al., 2013; Jose Arias
et al., 2014) và nó có thể ảnh hưởng ngược chiều lên lợi nhuận ngân hàng. Bên cạnh
đó, Miller và Noulas (1997) chỉ ra rằng các tổ chức tài chính thực hiện các hoạt động
cho vay mang tính chất rủi ro cao sẽ tích lũy nhiều các khoản vay chưa thanh toán, dẫn
đến lợi nhuận thấp. Tuy nhiên, các khoản vay rủi ro cao thường cho thu nhập từ lãi cao.
10
Theo Maudos và Fernández de Guevara (2004), nguy cơ không trả nợ hoặc vỡ nợ tín
dụng từ phía khách hàng đòi hỏi các ngân hàng áp dụng một mức phí bảo hiểm rủi ro
ngầm trong các mức lãi suất cho vay, do đó ngân hàng thu được một khoản lãi vay cao
hơn từ các hợp đồng có rủi ro tín dụng cao đó.
2.4. Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
Có hai bộ phận nghiên cứu chính dựa trên khía cạnh kinh tế vi mô của ngân hàng để
quan dương và đóng góp đồng thời cho sự bất ổn của ngân hàng.
Ý tưởng về một mối quan hệ dương giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng cũng
được hỗ trợ bởi một nội dung rất mới cũng dựa trên cuộc khủng hoảng tài chính
2007/2008, chẳng hạn như Diamond và Rajan (2005), Gorton và Metrick (2011). Mô
hình của họ được dựa trên tiền đề rằng các khoản tiền ngân hàng thu từ người gửi tiền
không có chuyên môn được sử dụng để cho vay. Các vấn đề phát sinh nếu có quá nhiều
dự án kinh tế được tài trợ bằng vốn vay không đủ sinh lợi (hoặc thậm chí vỡ nợ) và các
ngân hàng không thể đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền. Như một hệ quả của sự suy
giảm tài sản này, ngày càng nhiều người gửi tiền sẽ yêu cầu đòi lại tiền của họ. Do đó
ngân hàng sẽ thu hồi tất cả các khoản cho vay và từ đó làm giảm toàn bộ thanh khoản
trên thị trường. Vì vậy, kết quả chính là rủi ro tín dụng cao hơn đi kèm với rủi ro thanh
khoản cao hơn thông qua nhu cầu người gửi tiền.
Một quan điểm khác về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng được
cung cấp bởi Gorton và Metrick (2011). Phân tích thực nghiệm của họ cho thấy một sự
rút tiền hàng loạt dựa trên sự hoảng loạn của nhà đầu tư có thể xảy ra trong thời đại hệ
thống ngân hàng được chứng khoán hóa, trái ngược với các cuộc rút tiền hàng loạt
trong ngân hàng truyền thống. Bằng chứng của họ cho thấy rằng trong cuộc khủng
hoảng tài chính gần đây cho thấy rủi ro tín dụng trong hình thức các khoản cho vay
dưới chuẩn gây ra tỷ lệ tái cấp vốn và mức vay thế chấp tài trợ trên thị trường liên
12
ngân hàng tăng lên đáng kể. Mặc dù các nhà đầu tư không biết về những rủi ro cho vay
dưới chuẩn thực tế của các ngân hàng, sự sợ hãi cho các khoản đầu tư của họ gây ra
vấn đề thanh khoản nghiêm trọng cho các ngân hàng vì thị trường vốn ngắn hạn cạn
kiệt vì tỷ lệ repo (lãi suất qua đêm) và mức vay thế chấp cao hơn. Nghiên cứu này cho
thấy một cách ấn tượng rằng rủi ro tín dụng được nhận thức (trái ngược với rủi ro tín
dụng thực tế) có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản trong ngân hàng như thế nào.
Một số bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho mối quan hệ âm giữa rủi ro thanh khoản và
và các điều kiện kinh tế trong thời gian ngân hàng hoạt động.
Tóm lại, dựa vào các kết quả nghiên cứu trên, tác giả tiến hành khảo sát thực tiễn thị
trường Việt Nam để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Các nhân tố nào tác động lên rủi ro thanh khoản ngân hàng thương mại Việt
Nam?
Mối tương quan giữa rủi ro thanh khoản và lợi nhuận hoạt động của ngân hàng
thương mại Việt Nam?
Có tồn tại một mối quan hệ đồng thời/trễ có thể có giữa rủi ro thanh khoản và
rủi ro tín dụng ngân hàng?
14
CHƢƠNG 3 - PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Dữ liệu và lựa chọn mẫu
Các khoản mục được dùng để tính toán các biến đặc thù ngân hàng trong bài được lấy
từ bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo luân chuyển tiền tệ,
thuyết minh báo cáo tài chính trong các báo cáo tài chính (BCTC) của 25 NHTMCP tại
Việt Nam giai đoạn 2006 – 2013. Danh sách 25 ngân hàng này được trình bày trong
Phụ lục 1. Ban đầu, tác giả thu thập dữ liệu của tất cả các NHTMCP tại Việt Nam từ
năm 2005 đến năm 2013 để khảo sát. Tuy nhiên, danh sách này được rút ngắn lại chỉ
còn 25 ngân hàng, do một lượng lớn dữ liệu liên quan của các ngân hàng không được
công bố đầy đủ hay có một số ngân hàng mới thành lập nên số liệu không đáp ứng
được yêu cầu nghiên cứu. Lưu ý rằng các vụ sáp nhập trong thời gian quan sát được
xem như các ngân hàng đã sáp nhập vào đầu thời kỳ quan sát.
Tác giả sử dụng bộ dữ liệu hàng năm cho mẫu 25 NHTM để phân tích cho các mục
tiêu nghiên cứu đã nêu ở trên. Ngoài ra, tác giả còn thu thập thêm bộ dữ liệu hàng quý
cho 5 NHTMCP có quy mô tài sản lớn nhất Việt Nam từ Q1/2009 đến Q4/2013 để
kiểm định một lần nữa mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng ngân
hàng. Có hai lý do của việc lấy mẫu 5 ngân hàng này: một là tính đại diện của nó, hai là
theo như nghiên cứu Chung- Hua Shen (2009). Theo đó, khoảng cách tài chính được
định nghĩa là chênh lệch giữa các khoản cho vay của ngân hàng và tiền gửi của khách
hàng. Chia giá trị này cho tổng tài sản để tiêu chuẩn hóa, ta có được tỷ số khoảng cách
tài chính trên tổng tài sản (FGAPR) – biến đại diện cho rủi ro thanh khoản ngân hàng.