BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
PHAN THỊ NGUYÊN THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN KỲ HẠN NỢ
CỦA CÔNG TY
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh –2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------------
PHAN THỊ NGUYÊN THẢO
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN
QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN KỲ HẠN NỢ
CỦA CÔNG TY
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
1.4. Những đóng góp của luận văn: ............................................................................. 4
1.5. Cấu trúc bài nghiên cứu. ....................................................................................... 4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT. ................................................................... 6
2.1 Lý thuyết nền. ......................................................................................................... 6
2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện. ................................................................................ 6
2.1.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng...................................................................... 7
2.1.3 Lý thuyết về thuế. ............................................................................................. 8
2.2 Những nghiên cứu trƣớc đây. ................................................................................. 8
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ......................................................... 21
3.1. Mô tả biến ............................................................................................................ 21
3.1.1. Biến phụ thuộc: ............................................................................................. 21
3.1.2. Biến giải thích. .............................................................................................. 22
3.2. Dữ liệu nghiên cứu .............................................................................................. 30
3.3. Mô hình nghiên cứu. ............................................................................................ 30
3.4. Các bƣớc tiến hành nghiên cứu. .......................................................................... 32
CHƢƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................... 36
4.1 Kết quả thống kê mô tả. ........................................................................................ 36
4.2. Kết quả mô hình nghiên cứu. ............................................................................... 45
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ............................................................................................. 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 60
PHỤ LỤC ...................................................................................................................... 64
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về kỳ hạn nợ............................... 19
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt các biến và kỳ vọng dấu .......................................................... 28
Bảng 4.1. Thống kê mô tả cho toàn bộ mẫu ................................................................. 37
Quy mô công ty, doanh thu, tỷ lệ thanh khoản, độ biến động lợi nhuận dƣới tác động
của đòn bẫy là nhân tố xác định cấu trúc nợ công ty. Nghiên cứu này cung cấp bằng
chứng mạnh mẽ rằng các công ty bị hạn chế tài chính và không bị hạn chế tài chính về
quy mô công ty, rủi ro thanh khoản, khả năng tiếp cận nguồn vốn dài hạn theo đuổi
chiến lƣợc kỳ hạn nợ khác nhau.
Từ khóa: kỳ hạn nợ, cấu trúc vốn, Việt Nam.
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.
Lý do chọn đề tài.
Có rất nhiều bài nghiên cứu về cấu trúc vốn tối ƣu của công ty đƣợc thực hiện
trong thời gian qua. Tuy nhiên, ngoài việc lựa chọn một cơ cấu vốn hợp lý, các nhà
quản lý còn phải lựa chọn cơ cấu kỳ hạn nợ để tối đa hóa giá trị của công ty, nhƣng vẫn
đảm bảo đƣợc tính thanh khoản. Chính vì vậy, gần đây các nhà kinh tế đã bắt đầu
nghiên cứu sâu hơn các nhân tố ảnh hƣởng đến cơ cấu kỳ hạn nợ của công ty, nhấn
mạnh vai trò khác nhau của nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn cho phép các
khoản nợ đƣợc định giá lại để phản ánh tình hình kinh tế ngay tại thời điểm hiện tại,
tăng hiệu quả kinh tế khi chấm dứt các dự án không thành công. Trong khi đó, nợ dài
hạn đảm bảo cho công ty có nguồn tài trợ lâu dài, đảm bảo khả năng thanh khoản của
công ty.
Dựa vào bài nghiên cứu của Barclay & Smith (1995), có ba lý thuyết tài chính
ảnh hƣởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty: lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết
thông tin bất cân xứng, lý thuyết về thuế.
Lý thuyết chi phí đại diện lập luận rằng chi phí đại diện gây ra việc đầu tƣ dƣới
kỳ hạn nợ và kỳ hạn tài sản còn đƣợc khẳng định trong các công ty tại Colombia trong
bài nghiên cứu của Calomiris, Halouvam, Ospina (1996). Ngoài ra, các nghiên cứu đã
chỉ ra rằng tại các nƣớc thị trƣờng tài chính phát triển, nơi thoát khỏi sự can thiệp của
chính phủ, có thể cung cấp nguồn tài chính dài hạn hơn cho các công ty chất lƣợng tốt
hơn, và cố gắng theo dõi các công ty chất lƣợng thấp một cách chặt chẽ hơn bằng cách
sử dụng nợ ngắn hạn. Hệ thống tài chính phát triển và hoàn chỉnh tạo thuận lợi để công
ty có thể điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn. Tuy nhiên, trong khi thị trƣờng mới nổi có một
số hạn chế ngăn chặn các công ty xây dựng cấu trúc nợ tối ƣu. Do một số các giả định
trong các lý thuyết liên quan đến các yếu tố quyết định kỳ hạn nợ không hợp lý hoặc
3
cần thay đổi đối với các công ty hoạt động trong thị trƣờng chuyển đổi (DemirgücKunt & Maksimovic, 1998). Ví dụ, trong thị trƣờng tài chính chƣa phát triển, các công
ty buộc phải sử dụng vốn từ bên ngoài với lãi suất cao. Hay do lợi nhuận thấp hơn và
bị hạn chế tiếp cận thị trƣờng, các công ty ở các nƣớc đang phát triển sử dụng nợ dài
hạn ít hơn đáng kể so với các nƣớc phát triển (Demirgüc-Kunt & Maksimovic,
1998). Ngoài ra, sự biến động của môi trƣờng kinh tế vĩ mô và thông tin thị trƣờng còn
bất cân xứng khiến các công ty không thể gửi “tín hiệu” tình hình tài chính thích hợp
để có đƣợc khoản vay hợp lý, hoặc làm nếu vay đƣợc thì lãi suất khá cao. Vì vậy, vấn
đề này cần phải đƣợc xem xét trong thị trƣờng tài chính đang phát triển.
Chính vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến
quyết định lựa chọn kỳ hạn nợ của công ty. Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam”
nhằm kiểm tra những yếu tố then chốt của sự lựa chọn kỳ hạn nợ trong môi trƣờng tài
chính tại Việt Nam.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu đƣợc thực hiện với mục tiêu xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến
-
Khả năng tiếp cận thị trƣờng trái phiếu.
-
Thuế.
4
Bài nghiên cứu tiến hành nghiên cứu và xác định các nhân tố trên ảnh hƣởng
nhƣ thế nào đến sự lựa chọn kỳ hạn nợ của công ty.
1.3.
Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu.
Đối tƣợng nghiên cứu.
Mẫu quan sát bao gồm các công ty đƣợc niêm yết trên hai sàn chứng khoán: Sở
Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) và Sở Giao Dịch Chứng
Khoán Hà Nội (HNX).
Phạm vi nghiên cứu: từ năm 2010 đến năm 2013
Phƣơng pháp nghiên cứu:
Bài nghiên cứu thực hiện thống kê mô tả, phƣơng pháp kiểm định Wilcoxon và
mô hình Tobit cho toàn bộ mẫu và từng nhóm mẫu các công ty.
1.4.
Những đóng góp của luận văn:
Bài nghiên cứu này đã xem xét các nhân tố khác nhau ảnh hƣởng đến kỳ hạn nợ
nghiên cứu đã dựa trên ba lý thuyết tài chính sau: lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết
thông tin bất cân xứng và lý thuyết về thuế.
2.1 Lý thuyết nền.
2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện.
Chi phí đại diện là sự xung đột lợi ích có thể xảy ra giữa các bên liên quan khác
nhau về quyền sỡ hữu và quyền quản lý trong công ty. Trong tài chính doanh nghiệp,
chi phí đại diện chủ yếu phát sinh giữa các cổ đông và quản lý, giữa các cổ đông lớn và
cổ đông thiểu số, giữa quản lý và chủ nợ. Các công ty nên giảm thiểu chi phí đại diện.
Trong đó, vấn đề đại diện của nợ xảy ra trong hai trƣờng hợp có thể làm cho chi phí
ngày càng tăng, cụ thể là đầu tƣ dƣới mức và đầu tƣ quá mức. Những mâu thuẫn giữa
nhóm các cổ đông – nhà quản lý và các trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay
có thể làm giảm động cơ đầu tƣ vào những cơ hội kinh doanh có NPV dƣơng vì lo sợ
những lợi ích từ các dự án sẽ thuộc về trái chủ. Myers (1977) cho rằng việc sử dụng nợ
ngắn hạn làm giảm bớt vấn đề “đầu tƣ dƣới mức” khi các công ty không muốn theo
đuổi các dự án tƣơng đối rủi ro vì các chủ nợ nhận đƣợc lợi ích nhiều hơn. Nợ ngắn
hạn ít nhạy cảm với rủi ro và làm giảm chi phí đại diện thông qua phƣơng thức áp đặt
cơ chế giám sát thƣờng xuyên hơn từ các nhà đầu tƣ. Liên quan đến vấn đề đầu tƣ dựa
trên kỳ hạn nợ, một kỳ hạn nợ phù hợp sẽ tác động đến khả năng thanh toán các khoản
vay dự kiến tƣơng ứng với mức suy giảm trong giá trị tài sản. Nợ ngắn hạn nên đƣợc
sử dụng để tài trợ cho tài sản ngắn hạn và ngƣợc lại cho tài sản dài hạn và nợ dài hạn,
biểu hiện tính tƣơng thích giữa tài sản và nguồn vốn. Và kỳ hạn nợ trở thành một thành
phần quan trọng trong việc làm giảm thiểu xung đột giữa cổ đông và trái chủ. Lý
thuyết chi phí đại diện cũng đề xuất rằng, các công ty nhỏ hơn quy mô trung bình các
7
công ty có chi phi đại diện cao hơn vì khả năng chuyển dịch rủi ro giữa nhà quản lý và
cổ đông lớn hơn.
2.1.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng.
kiểm soát các khoản vay một cách có hiệu quả hơn từ đó làm giảm rủi ro tài chính.
2.1.3 Lý thuyết về thuế.
Cuối cùng, lời giải thích cuối cùng là lý luận về thuế. Lý thuyết thuế khuyến
khích công ty vay nợ dài hạn vì lợi ích từ lá chắn thuế.
Những tác động của thuế đối với lựa chọn kỳ hạn nợ đã đƣợc khám phá trong
một loạt các bài nghiên cứu. Trong đó, nợ dài hạn đƣợc sử dụng vì liên quan đến lợi
thế về thuế. Luôn tồn tại một lợi thế thuế của nợ và lãi suất ngẫu nhiên nào đó, nợ dài
hạn sẽ tăng giá trị hiện tại của lợi ích về thuế nếu cấu trúc kỳ hạn của lãi suất tăng. Một
cấu trúc kỳ hạn của lãi suất giảm, các công ty sẽ chọn nợ ngắn hạn.
2.2 Những nghiên cứu trƣớc đây.
Myer (1977) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vay nợ của công ty,
cho rằng chi phí đại diện của nợ ảnh hƣởng đến kỳ hạn thanh toán nợ của công ty.
Myers xem xét cơ hội đầu tƣ tƣơng lai của công ty cũng giống nhƣ những quyền chọn.
Giá trị những quyền chọn này phụ thuộc vào việc công ty thực hiện quyền chọn một
cách tối ƣu. Với những rủi ro xác định trƣớc trong cấu trúc vốn, lợi nhuận thu đƣợc từ
những dự án sinh lời đƣợc chia đều cho cổ đông và trái chủ. Tuy nhiên, trong một số
trƣờng hợp, trái chủ sẽ nhận đƣợc phần lợi nhuận này mà các cổ đông thì không. Chính
vì vậy, các cổ đông có động cơ từ chối các dự án có NPV dƣơng để thực hiện những dự
án rủi ro hơn, và Myer gọi vấn đề này là đầu tƣ dƣới mức. Càng có nhiều quyền chọn
tăng trƣởng trong các cơ hội đầu tƣ của công ty, mâu thuẫn giữa cổ đông và trái chủ
càng lớn. Myer cho rằng công ty có thể khắc phục mâu thuẫn này bằng nhiều cách: sử
dụng ít nợ trong cấu trúc vốn hoặc sử dụng kỳ hạn nợ ngắn hơn. Ở các nƣớc đang phát
triển, cơ hội phát triển của các doanh nghiệp là rất lớn vì vậy vấn đề đầu tƣ dƣới mức
9
trở nên nghiêm trọng hơn. Chính vì vậy, công ty càng có nhiều quyền chọn tăng trƣởng
thì phát hành nhiều nợ ngắn hạn hơn.
Ví dụ, xem xét một công ty có cơ hội tăng trƣởng và cần nguồn vốn đầu tƣ trong
ƣu, kết hợp cả hai loại thuế doanh nghiệp và cá nhân, chi phí phá sản, chi phí phát hành
nợ. Thời gian đáo hạn nợ tối ƣu liên quan đến lý thuyết đánh đổi giữa lợi thế của nợ,
chi phí phá sản và chi phí phát hành nợ. Bài nghiên cứu dự đoán rằng kỳ hạn nợ tối ƣu
tăng khi chi phí phát hành nợ tăng, lợi thế về thuế của nợ giảm, và biến động giá trị
công ty giảm. Các công ty kéo dài kỳ hạn nợ khi chi phí phát hành tăng làm tăng chi
phí tái cấp vốn trong một thời gian dài. Các công ty kéo dài kỳ hạn thanh toán nợ khi
lợi thế về thuế của nợ giảm để đảm bảo rằng các lợi thế thuế của nợ còn lại, trừ đi chi
phí phá sản, không nhỏ hơn so với chi phí phát hành. Và kỳ hạn nợ tối ƣu tăng khi biến
động giá trị công ty giảm, bởi vì công ty không cân bằng lại cơ cấu vốn của mình với
chi phí phá sản dự kiến. Cuối cùng, Kane và cộng sự phân tích cho thấy hai giả thuyết
thực nghiệm đƣợc kiểm chứng. Đầu tiên là thời gian đáo hạn nợ của công ty tăng lên
khi mức thuế suất hiệu quả giảm. Thứ hai là thời gian đáo hạn nợ của một công ty tăng
khi biến động giá trị công ty giảm.
Brick và Ravid (1985) phân tích tác động của thuế lên kỳ hạn nợ. Vì công ty có
thể phá sản khi phải trả các khoản vay, tiền thuế kỳ vọng của công ty phụ thuộc vào kỳ
hạn nợ. Brick và Ravid cho rằng khả năng phá sản tăng theo thời gian. Nếu đƣờng
cong lãi suất hƣớng lên, trong những năm đầu chi phí lãi vay từ việc phát hành nợ dài
hạn lớn hơn chi phí lãi vay từ việc phát hành nợ ngắn hạn. Nhƣng chi phí này sẽ ít hơn
những năm sau đó. Trong trƣờng hợp này, Brick và Ravid lập luận rằng phát hành nợ
dài hạn làm giảm trách nhiệm thuế kỳ vọng và làm tăng giá trị thị trƣờng của công ty.
Ngoài ra, Brick & Ravid (1985) chỉ ra sự khác nhau của việc thanh toán lãi suất của kỳ
hạn nợ khác nhau ảnh hƣởng đến nghĩa vụ thuế của hai bên chủ nợ và con nợ. Bài
11
nghiên cứu cho cho rằng công ty đi vay tìm cách đẩy nhanh tiến độ thanh toán lãi suất
để tối đa hóa giá trị hiện tại của lá chắn thuế suất, trong khi chủ nợ tìm cách làm chậm
thanh toán lãi suất để giảm thiểu giá trị hiện tại nghĩa vụ thuế của họ. Kết quả là một
khoản vay thời gian thanh toán lãi nhanh thì có chi phí cao hơn so với một kỳ hạn trả
hạn thanh toán nợ có nghĩa là các công ty đầu tƣ có hiệu quả. Ông cũng lập luận rằng
các công ty có tình hình tài chính xấu thích nợ dài hạn và những công ty có tình hình
tài chính tốt thích vay nợ ngắn hạn hơn. Điều này đƣợc chứng minh trong thực tế là,
công ty có tình hình tài chính kém không đủ khả năng để trả khi các khoản nợ ngắn hạn
đáo hạn, và công ty có thể đối mặt với một rủi ro khủng hoảng tài chính trong trƣờng
hợp các khoản nợ không đƣợc vay tiếp. Flannery lập luận rằng, nếu không có chi phí
phát hành nợ, trạng thái cân bằng chung xảy ra, các công ty có tình hình tài chính xấu
có thể lựa chọn kỳ hạn nợ giống nhƣ các công ty có tình hình tài chính tốt; và thị
trƣờng không phân biệt đƣợc hai dạng công ty nên thị trƣờng sẽ định giá thấp công ty
tốt và định giá cao công ty xấu. Nếu có chi phí giao dịch, trạng thái cân bằng tách xảy
ra. Trong trạng thái cân bằng tách, các công ty tốt sử dụng tín hiệu của họ bằng cách
phát hành nợ ngắn hạn.Nếu công ty có tình hình tài chính xấu không có khả năng cho
việc vay liên tiếp các khoản nợ ngắn hạn, công ty này sẽ chọn nợ dài hạn.
Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu của Kale và Noe (1990) cho thấy trong trƣờng
hợp không tồn tại chi phí phát hành nợ, trạng thái cân bằng tách vẫn có thể xảy ra,
trong đó các công ty có tình hình tài chính tốt phát hành nợ ngắn hạn và công ty có tình
hình tài chính xấu phát hành nợ dài hạn,
Diamond (1991) phát triển một mô hình dựa trên các thông tin bất đối xứng về
rủi ro vỡ nợ của công ty. Trong đó, mô hình tập trung vào rủi ro thanh khoản liên quan
đến khoản nợ ngắn hạn. Với tình hình tài chính riêng của công ty, khi công ty công bố
thông tin về triển vọng tƣơng lai trên thị trƣờng, công ty sẽ có thể tận dụng lợi thế về
sự đánh giá cao công ty từ các nhà đầu tƣ và do đó vay với chi phí thấp và đƣợc tái cấp
13
vốn khi đáo hạn. Thƣờng thì các công ty có lợi nhuận cao hơn có thể lựa chọn các
khoản vay ngắn hạn bởi vì công ty tin vào khả năng để tái tài trợ trong thời gian đáo
hạn. Tuy nhiên, nợ ngắn hạn lại quá rủi ro cho thanh khoản của công ty nếu các khoản
nợ ngắn hạn không đƣợc đàm phán lại hoặc không tiếp tục cho vay. Kết luận này phù
ngắn hạn. Kết quả này phù hợp với Myer (1977) rằng việc giảm nợ kỳ hạn giúp kiểm
soát vấn đề đầu tƣ dƣới mức. Bài nghiên cứu cũng tìm đƣợc bằng chứng về mối quan
hệ giữa quy mô công ty và kỳ hạn nợ: những công ty lớn thƣờng phát hành một tỷ lệ nợ
dài hạn lớn hơn. Điều này phù hợp với thực tế là các công ty nhỏ thƣờng phụ thuộc
nhiều vào nợ ngân hàng ngắn hạn hơn là những khoản nợ công dài hạn. Ngoài ra, bài
nghiên cứu kiểm tra những tác động của rủi ro tín dụng lên tỷ lệ tổng nợ có kỳ hạn lớn
hơn ba năm (tức là nợ dài hạn). Kết quả chỉ ra rằng các công ty có rủi ro tín dụng cao
nhất và thấp nhất có xu hƣớng sử dụng nợ ngắn hạn, trong khi các công ty có rủi ro tín
dụng ở mức trung bình sử dụng xu hƣớng có nợ dài hạn hơn. Phù hợp với kết luận của
Myer, bài nghiên cứu thấy rằng các công ty có tiềm năng tăng trƣởng lớn có xu hƣớng
phát hành nợ ngắn hạn. Họ cũng tìm thấy rằng thu nhập bất thƣờng trong tƣơng lai có
mối tƣơng quan nghịch chiều với kỳ hạn thanh toán nợ. Kết quả bài nghiên cứu này
phù hợp với giả thuyết rằng những công ty có mức độ bất cân xứng thông tin càng lớn
thì càng phát hành nhiều nợ ngắn hạn. Tuy nhiên bài nghiên cứu ít hỗ trợ giả thuyết
rằng các công ty dùng nợ ngắn hạn nhƣ một tín hiệu thông tin cho thị trƣờng.
Guedes & Opler (1996) nghiên cứu những nhân tố công ty cần phải xem xét
khi lựa chọn kỳ hạn nợ bằng cách phân tích dữ liệu của 7368 các công ty sử dụng nợ
tại Mỹ trong khoảng thời gian 1982 -1993. Bài nghiên cứu phát hiện ra rằng quy mô và
xếp hạng trái phiếu của công ty là nhân tố quan trọng giải thích xu hƣớng sử dụng nợ
dài hạn trong công ty. Kết luận này hỗ trợ mạnh mẽ kết quả nghiên cứu trƣớc đó của
Diamon (1991a) về mô hình lựa chọn kỳ hạn nợ. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng những
công ty có quy mô nhỏ và rủi ro hơn hiếm khi phát hành nợ ngắn hạn, điều này phù
hợp với ý tƣởng rằng các công ty có vấn đề rủi ro thanh khoản cao phát hành nợ dài
15
hạn để tránh nguy cơ mất tính thanh khoản. Kết quả bài nghiên cứu phù hợp với quan
điểm công ty cố gắng kiểm soát chi phí đại diện của nợ bằng cách thay đổi thời gian
đáo hạn các khoản vay của công ty. Công ty với các quyền chọn tăng trƣởng lớn hơn
hỗ trợ nhiều cho lý thuyết thuế, kết quả không tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng công
ty điều chỉnh kỳ hạn nợ để đƣợc hƣởng lợi ích từ tấm chắn thuế.
Budina và cộng sự (2000) đã nghiên cứu 1003 công ty ở Bungary trong khoảng
thời gian 1993 – 1995. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty ở Bungary trong thời
gian này có nhiều ràng buộc về tài chính, do thị trƣờng tài chính tại nƣớc này còn chƣa
phát triển. Bằng cách chia mẫu thành các nhóm nhỏ, theo quy mô công ty và cấu trúc
vốn, bài nghiên cứu phân biệt giữa các công ty có tính thanh khoản hơn và ít hạn chế
so với các công ty còn lại. Trong đó, những công ty lớn không bị hạn chế về thanh
khoản, những công ty nhỏ thì ngƣợc lại. Và rủi ro thanh khoản và khả năng thanh toán
hạn chế trở thành vấn đề nghiêm trọng hơn đối với các công ty có khoản nợ lớn.
Ngoài ba lý thuyết chính đƣợc trình bày ở trên, những nhân tố tác động đến kỳ
hạn nợ còn đƣợc giải thích bởi một số các lý thuyết và các nhân tố khác.
Demirgüc-Kunt & Maksimovic (1999) kiểm tra kỳ hạn các khoản nợ công ty
tại 30 quốc gia phát triển và đang phát triển trong giai đoạn 1980 – 1991 dựa trên sự
phát triển của hệ thống tài chính. Bài nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt trong việc sử
dụng nợ dài hạn giữa công ty ở các nƣớc phát triển và công ty ở các nƣớc đang phát
triển. Ở các nƣớc phát triển, các công ty sử dụng nợ dài hạn nhiều hơn. Sự khác biệt
này cũng không thể đƣợc giải thích bằng cách kết hợp của thời gian đáo hạn của tài sản
và nợ phải trả, vì công ty ở nƣớc đang phát triển có tỷ lệ tài sản cố định ròng trên tổng
tài sản cao hơn. Chúng tôi tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng các công ty lớn ở các
nƣớc có hệ thống tài chính hiệu quả sử dụng nhiều nợ và tỉ lệ nợ dài hạn cao hơn. Đối
với các công ty nhỏ, bằng chứng về mối liên hệ giữa tính hiệu quả của hệ thống pháp
luật và tỷ lệ nợ dài hạn để tài sản là yếu. Nhìn chung, bài nghiên cứu nhấn mạnh tầm
17
quan trọng của hệ thống pháp luật hiệu quả, quy mô hoạt động của thị trƣờng chứng
khoán, và quy mô của khu vực ngân hàng là yếu tố quyết định của kỳ hạn nợ.
Titman & Wessels (1988) nghiên cứu tác động của cạnh tranh thị trƣờng sản