THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH Ở CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI BẮC ĐÔ - Pdf 66

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH Ở CÔNG TY
TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI BẮC ĐÔ
I. NGUỒN NHÂN LỰC.
1. Nguồn Nhân Lực
Nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mặt thể lực, trí
lực, tâm lực đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất để phát triển đất
nước.
Các nhà kinh tế học thường tập trung nhấn mạnh vào khía cạnh Nguồn nhân lực gắn với
sản xuất và chỉ giới hạn sự phát triển Nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỹ năng
lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm
Thực tế rất nhiều doanh nghiệp coi trọng nguồn nhân lực, tuy vậy họ không biết
nên tiến hành các hoạt động đối với nguồn nhân lực này như thế nào. Trong nhiều
doanh nghiệp có khuynh hướng tuyển dụng con em nhân viên công ty và xem đó như là
hình thức động viên họ. Rõ ràng, các doanh nghiệp rất cần một cách tiếp cận mới hơn
về nguồn nhân lực mà bắt nguồn từ nhận thức vai trò của nguồn nhân lực và tìm mọi
cách gia tăng sự phù hợp chiến lược nguồn nhân lực với chiến lược công ty.
2. Vai trò của nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất
không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng
sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân.Cuối năm 2005 Việt Nam chính thức là thành
viên WTO đánh dấu một bước đi lớn của nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên theo các
chuyên gia kinh tế nhận định thì phần lớn các Doanh nghiệp Việt Nam có qua mô nhỏ,
vốn ít, khả năng tổ chức thị trường kém và vẫn ỷ lại vào sự trợ giúp của Nhà nước,
chưa quan tâm đúng mức đến yếu tố cạnh tranh và thị trường trong chiến lược phát
triển sản xuất kinh doanh.
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển của mọi
nền kinh tế. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “.. nguồn lực con
Năng suất
Nguồn nhân lực – Năng lực cốt lõi

một ngày hai, như chúng ta làm điều đó với các nguồn lực khác như tài chính hoặc công
nghệ.
II. ẢNH HƯỞNG NGUỒN NHÂN LỰC TỚI CẠNH TRANH.
1. Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là có thể coi là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản
xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc
tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.Cạnh tranh có thể xảy
ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu
dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn, tốt hơn;
giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Có
nhiều biện pháp cạn tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá...) hoặc phi giá cả (quảng cáo...).
Dễ thấy, cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó
xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách
biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến
sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu,
nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát
triển... nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội
cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì
còn có cạnh trạnh.
Cạnh tranh có vai trò rất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ
nhất thúc đẩy sản xuất phát triển. Nó buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén,
tích cực nâng cao tay nghề, cải tiến kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ
Các tiền đề Sứ mệnh của tổ chức Chiến lược của tổ chức
Các yêu cầu - Các kỹ năng - Thái độ, hành vi nhân viên - Văn hoá trong tổ chức
Chiến lượcCác mục tiêu và cách thức phát triển nguồn nhân lực...Các hoạt động HR
Nguồn nhân lực như là năng lực cốt lõi
chức quản lý để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh tế. Đó chính là cạnh tranh
lành mạnh. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì thường trì trệ, kém
phát triển.
Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác dụng tiêu cực thể hiện ở

các sản phẩm và dịch vụ với các thuộc tính khác biệt, mang lại giá trị mới tăng thêm
cho người tiêu dùng. (Ví dụ như công ty may mặc hướng đến việc thoả mãn tốt hơn các
khách hàng của mình thông qua việc cung cấp các quần áo may mặc với các kiểu dáng
mới, hợp thời trang,...). Chiến lược kinh doanh này rất thuận lợi cho các thị trường có
độ nhạy cảm của cầu theo giá thấp.
Mỗi loại chiến lược thường đòi hỏi những nguồn nhân lực tương thích với nó, vì
nếu không có những kết hợp này công ty không thể đạt được các mục tiêu của mình.
Một công ty theo đuổi chiến lược dẫn đạo chi phí sẽ tập trung vào việc tìm kiếm những
nguồn nhân lực bên trong như dựa trên việc thu hút con em của nhân viên đang và đã
làm việc trong công ty, hoặc là bạn bè người thân của nhân viên. Cách làm này có thể
tận dụng kinh nghiệm của những người nhân viên và qua đó giảm bớt các chi phí đào
tạo, thời gian hội nhập nhân viên mới với công việc. Ngược lại việc công ty theo đuổi
chiến lược dị biệt hoá hay sự khác biệt rất cần các nhân tố mới, cần các tài năng để tạo
ra sự khác biệt vì thế không thể trông chờ những nguồn nhân viên bên trong được mà
phải mở rộng nguồn. Và công ty phải chú trọng tìm ra các giải pháp để thu hút quản lý
và lưu giữ các tài năng trong công ty. Vậy quản lý nguồn nhân lực là gì?
Trước tiên quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho
những mong muốn của doanh nghiệp và mong muốn của nhân viên trong công ty tương
hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu. Nhân viên của công ty trông đợi từ phía công ty
một mức lương thoả đáng, điều kiện làm việc an toàn, sự gắn bó với tổ chức, những
nhiệm vụ có tính thách thức, trách nhiệm và quyền hạn. Mặt khác, công ty với tư cách
là chủ lao động mong muốn nhân viên của công ty sẽ tuân thủ quy định tại nơi làm việc
và các chính sách kinh doanh, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ, đóng góp sáng kiến vào các
mục tiêu kinh doanh, chịu trách nhiệm về cả việc tốt và việc dở, liêm khiết và trung
thực.
Thứ hai, quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động (một quy trình) mà công ty
tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh
nghiệp. Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản lý, trả lương, nâng cao hiệu quả
hoạt động, và sa thải nhân viên trong doanh nghiệp và do một người hoặc một bộ phận
nào đó trong công ty phụ trách.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status