ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN CÔNG DŨNG
PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN CÔNG DŨNG
PHÁT TRIỂN ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS ĐỖ THỊ BẮC
doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình
học tập và thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Thị Bắc - Người
đã dành nhiều thời gian và tâm huyết, tận tình hướng dẫn chỉ bảo cho tôi trong suốt
quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công, tỉnh
Thái Nguyên và các cá nhân trên địa bàn thành phố Sông Công đã cung cấp những
thông tin cần thiết và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân và bạn bè đã quan
tâm giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi trong học tập, tiến hành nghiên cứu
và hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày
tháng 11 năm 2017
Học viên thực hiện
Nguyễn Công Dũng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................ii
MỤC LỤC...............................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................................vii
DANH MỤC CÁC BẢNG.....................................................................................viii
2.2.4. Công cụ xử lý tổng hợp, phân tích................................................................. 39
2.3. Các chỉ tiêu phân tích....................................................................................... 39
2.3.1. Chỉ tiêu biến động đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện...............39
2.3.2. Chỉ tiêu biến động về số thu Bảo hiểm xã hội tự nguyện............................... 40
2.3.3. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng của BHXH tự nguyện....................................... 41
2.3.4. Chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý và tổ chức thực hiện đối tượng tham
gia BHXH tự nguyện............................................................................................... 41
Chương 3: THỰC TRẠNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BẢO HIỂM XÃ
HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH
THÁI NGUYÊN.................................................................................................... 43
3.1. Đặc điểm chung về thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên..........................43
3.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên....43
3.1.2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.........44
3.2. Tình hình cơ bản của Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
................................................................................................................................. 45
3.2.1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công.........................45
3.2.2. Chức năng nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công.................46
3.2.3. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công.....48
3.2.4. Nội dung về công tác thu Bảo hiểm xã hội tự nguyện và sử dụng quỹ
BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công.............................................. 51
3.3. Thực trạng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên................................................................. 64
3.3.1. Nhu cầu tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân trên địa bàn
thành phố Sông Công.............................................................................................. 64
3.3.2. Công tác quản lý, phát triển đối tượng tham gia và tổ chức thực hiện bảo
hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.........65
3.3.3. Các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện.......................................................... 73
v
vi
4.2.2. Hoàn thiện công tác quản lý, mở rộng đối tượng tham gia và tổ chức thực
hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công........................92
4.2.3. Mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố
Sông Công............................................................................................................... 97
4.2.4. Nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn
thành phố Sông Công.............................................................................................. 98
4.3. Kiến nghị.......................................................................................................... 99
4.3.1. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam...................................................... 99
4.3.2. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Nguyên.......................................100
4.3.3. Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên...100
KẾT LUẬN..........................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................103
PHỤ LỤC.............................................................................................................105
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tên đầy đủ
ASXH
An sinh xã hội
BHXH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Số người tham gia BHXH tự nguyện tại tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014-2016
................................................................................................................................ 28
Bảng 2.1. Số lượng mẫu thu thập số liệu trên địa bàn Thành phố Sông Công.........36
Bảng 2.2. Một số đặc điểm cơ bản của chủ hộ phỏng vấn....................................... 37
Bảng 3.1. Cơ cấu cán bộ, viên chức BHXH thành phố Sông Công năm 2016........51
Bảng 3.2. Bảng tổng hợp tỷ lệ đóng BHXH tự nguyện được quy định qua các
thời kỳ.................................................................................................... 52
Bảng 3.3. Số người tham gia BHXH tự nguyện trong tổng số người tham gia
BHXH tại thành phố Sông Công giai đoạn 2014 - 2016........................53
Bảng 3.4. Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH tự nguyện của BHXH
Thành phố Sông Công giai đoạn 2014 - 2016........................................ 55
Bảng 3.5. Tổng hợp hoạt động tuyên truyền BHXH tự nguyện trên địa bàn
Thành phố Sông Công giai đoạn 2014- 2016......................................... 66
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của mức độ hiểu biết về chính sách BHXH tự nguyện và kết
quả thực hiện BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công
69
Bảng 3.7. Bảng tổng hợp mức chi thù lao đại lý thu Bảo hiểm xã hội giai đoạn
2014 – 2016........................................................................................... 71
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của mức đóng, mức hưởng và kết quả thực hiện BHXH
tự nguyện trên địa bàn Thành phố Sông Công....................................... 74
Bảng 3.9. Bảng tổng hợp đánh giá công tác phục vụ của cơ quan Bảo hiểm xã
hội thành phố Sông Công....................................................................... 76
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của trình độ học vấn và quyết định tham gia BHXH tự
nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công............................................. 79
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của thu nhập bình quân hàng tháng và quyết định tham
gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công......................81
thay đổi. Để đảm bảo hội nhập sâu sắc và chủ động đối phó với những rủi ro trong
cuộc sống cho người dân và xây dựng đất nước phát triển vững mạnh thì điều quan
trọng nhất là phải đảm bảo sự ổn định và công bằng xã hội.
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là chính sách lớn của Đảng và nhà nước ta, mang
trong nó bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an sinh của con người góp phần ổn
định đời sống, sản xuất cho người tham gia BHXH, đặc biệt là BHXH tự nguyện.
Có hiệu lực từ năm 2008, chính sách BHXH tự nguyện mở ra cơ hội hưởng “lương
hưu” cho nhiều người lao động, nhất là người lao động tự do, buôn bán nhỏ, thợ thủ
công, nông dân,... những người không nằm trong diện BHXH bắt buộc nhưng có
thu nhập ổn định. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là mọi người đều có lương
hưu, điều đó phù hợp với nhu cầu chung của rất nhiều người dân lao động. Do đó,
tiềm năng phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở nước ta còn rất to lớn.
Thành phố Sông Công là một khu công nghiệp của tỉnh Thái Nguyên, dân
số khoảng 110 nghìn người, tập trung hơn 68% là dân cư thành thị. Tuy nhiên, từ
năm 2011 đến nay, do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dẫn đến
nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, thậm chí có doanh nghiệp bị phá sản, đời sống
an sinh xã hội của người lao động gặp nhiều khó khăn. Việc triển khai BHXH tự
nguyện mặc dù còn mới, nhưng do hệ thống BHXH đã phân cấp tổ chức bộ máy
hoạt động đến cấp huyện, thành phố và có đại lý đến cấp xã, phường rất thuận lợi
cho người lao động tiếp cận để tham gia. Tuy nhiên đến nay số lượng người lao
động tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công còn rất hạn chế
chưa thể hiện hết nguồn lực tham gia, cũng như theo định hướng phát triển của
Đảng và Nhà nước.
2
Nguyên nhân số lượng người tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thành
phố Sông Công còn ít là do: trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế,
lao động phần lớn chưa qua đào tạo, việc làm bấp bênh, thu nhập thấp,... là những vấn
đề ảnh hưởng lớn đến việc triển khai thực hiện BHXH tự nguyện cho người lao động
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
+ Các vấn đề liên quan tới việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự
nguyện, tại thành phố Sông Công.
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia BHXH tự nguyện như:
Chính sách pháp luật của nhà nước, thu nhập của người dân, nhận thức của người
tham gia, thể chế bộ máy quản lý.
- Về không gian: Đề tài được thực hiện trên địa bàn thành phố Sông Công,
tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời gian: Thu thập trong giai đoạn 2014 – 2016
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là
tài liệu giúp phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, xây dựng quy hoạch và
kế hoạch nhằm phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, trên địa bàn thành
phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020 có cơ sở khoa học.
Luận văn nghiên cứu khá toàn diện và có hệ thống, phát triển đối tượng tham
gia BHXH tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, có ý
nghĩa thiết thực nhằm đưa ra giải pháp nhằm phát triển đối tượng tham gia BHXH
tự nguyện trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, là tài liệu tham
mưu, đóng góp với Bảo hiểm xã hội thành phố Sông Công và các cơ quan Bảo hiểm
xã hội khác và đối với các địa phương có điều kiện tương tự.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên
cho đối tượng, bảo đảm ASXH bền vững, BHXH phát triển rộng rãi bảo đảm cho
mọi người lao động đều được tham gia, trong xã hội xuất hiện hình thức BHXH tự
nguyện. Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình BHXH tự nguyện:
Thứ nhất, BHXH tự nguyện áp dụng như là một hình thức BHXH bổ sung
cho BHXH bắt buộc;
5
Thứ hai, BHXH tự nguyện mở cho bất cứ người lao động nào tự nguyện
tham gia.
Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng chính sách BHXH tự nguyện vẫn là
chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia.
Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn để
chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người
tham gia BHXH được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng) để bảo đảm
bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện. Dưới góc độ tiếp cận đó, có thể
đưa ra khái niệm về BHXH tự nguyện như sau:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp
phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành
và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập
của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho
người lao động và cho gia đình họ, giúp phần bảo đảm an toàn xã hội [11].
Thực chất, BHXH tự nguyện là hình thức BHXH mà người lao động và
người sử dụng lao động hoàn toàn tự nguyện tham gia, không có tác động khách
quan áp đặt, không bị pháp luật cưỡng chế phải tham gia. Ở đó, họ được lựa chọn
mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH.
Có thể nói, BHXH tự nguyện là loại hình BHXH nhằm bao phủ hết các đối tượng
còn chưa được tham gia loại hình BHXH bắt buộc của người lao động theo pháp
qua, đặc biệt là từ khi ngành BHXH được thành lập số lượng đối tượng được tham gia
BHXH đã tăng lên rõ rệt. Với mục tiêu đặt ra của ngành BHXH trong những năm tới là
phải đảm bảo cho 100% đối tượng; lao động trong các thành phần, kinh tế kể cả trong
và ngoài quốc doanh cũng như đối tượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và lao
động tự do được tham gia và hưởng BHXH. Một số đặc điểm cơ bản của đối tượng
thuộc diện tham gia BHXH tự nguyện đó là đặc điểm của đối tượng làm việc trong lĩnh
vực nông nghiệp (nhóm đối tượng chiếm tỷ trọng lớn nhất).
- Về thu nhập: Thu nhập của người lao động làm việc trong lĩnh vực nông
nghiệp trong những năm vừa qua ngày càng tăng, tốc độ tăng thu nhập tuy thấp hơn
bình quân chung của cả nước. Chi phí của hộ nông dân ngày càng tăng cao, nhưng
nhờ thu nhập tăng khá, ngoài phần chi tiêu dùng cho đời sống, phần lớn các gia đình
đã có đầu tư tích lũy.
- Những vấn đề liên quan đến việc làm của người lao động: Do tính chất đặc
trưng nghề nghiệp của đối tượng; tham gia BHXH tự nguyện có nhiều khác biệt so
với nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Cụ thể như:
7
+ Đối với lao động làm công ăn lương thuộc các thành phần kinh tế quốc
doanh, họ thường có công việc tương đối ổn định, được pháp luật bảo hộ, được
hưởng các quyền lợi theo quy định trong Bộ Luật Lao động như quy định về tiền
lương, tiền công, ngày nghỉ, thời gian lao động và các chế độ ưu đãi khác. Tính ổn
định trong công việc của người lao động còn được thể hiện thông qua các ràng buộc
vể mặt pháp lý như người lao động làm việc trong các doanh nghiệp đều có hợp
đồng lao động ký kết với chủ sử dụng lao động, có thoả ước lao động tập thể đảm
bảo cho người lao động được thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo đúng pháp luật
quy định và các công ước Quốc tế. Chính vì vậy, việc tham gia BHXH cho người
lao động cơ bản được giới chủ thực hiện một cách nghiêm túc. Trong khi đó, nếu
xét trên khía cạnh về việc làm của đối tượng lao động thuộc diện tham gia BHXH tự
quan đến sự vận động kinh tế, xã hội của đất nước. Họ thường thiếu hiểu biết về
chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như vấn đề về BHXH, vì vậy việc tuyên
truyền nhằm thu hút đối tượng lao động tham gia BHXH gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra, do quan điểm mang tính chất chủ quan tức thời, nên việc ứng ra một
khoản tiền để chuẩn bị cho tương lai là điều khó thuyết phục trong tư duy của người
lao động. Một trong những yếu tố làm ảnh hưởng đến việc tham gia BHXH của
người lao động, đó là sự mặc cảm tự ti về nghề nghiệp, họ luôn không bằng lòng
với công việc mà họ đang làm. Chính vì vậy, về bản thân người lao động cũng
khổng có sự chủ động về công việc của mình.
Xét về khả năng tham gia BHXH tự nguyện của lao động làm việc ở khu vực
nông nghiệp và nông thôn nhìn chung còn thấp do thu nhập ở khu vực nay hiện còn
thấp. Về mặt phương pháp luận, bất kỳ một chính sách BHXH nào, chính sách là
điều kiện cần, thì điều kiện thực hiện là điều kiện đủ của nó. Nói một cách cụ thể,
nghiên cứu chính sách để mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cho người
lao động là chúng ta nghiên cứu điều kiện đủ của nó để khi Nhà nước ban hành
chính sách BHXH tự nguyện cho những đối tượng này thì nó có thể trở thành hiện
thực và đi vào cuộc sống.
Vậy, đối tượng tự nguyện tham gia BHXH tự nguyện: Người tham gia
BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc diện áp
dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc. Bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao
động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc
9
nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động
được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của
người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;
- Nhóm 2: Những đối tượng chưa tham gia BHXH bắt buộc. Nhóm này bao
gồm:
+ Lao động làm công ăn lương không có hợp đồng hoặc hợp đồng lao động
theo thời vụ dưới 3 tháng. Thực tế cho thấy nhóm này bao gồm phần lớn là lao động
trong các doanh nghiệp nhỏ. Theo Luật BHXH thì nhóm này mặc dù có quan hệ lao
động nhưng không được tham gia BHXH vì người lao động phải làm việc theo hợp
đồng lao động thời vụ có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên. Việc này chính là kẽ hở
giúp cho các chủ sử dụng lao động lẩn tránh nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc cho
người lao động bằng cách không ký hoặc ký hợp đồng lao động theo thời vụ.
+ Lao động là thành viên các hợp tác xã, tổ đội sản xuất trong một số lĩnh
vực như tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp dịch vụ, giao thông vận tải… Các
nhóm lao động này không có quan hệ lao động nhưng hoạt động theo cơ chế "chia
sẻ nghĩa vụ và quyền lợi".
+ Những người tự tạo việc làm và lao động tự do như người lái xe ôm, bán
hàng rong, tự kinh doanh, sửa chữa xe đạp - xe máy… Nhóm này thường bị bỏ qua
trong quá trình mở rộng BHXH do mối e ngại khả năng tài chính của họ để đóng
bảo hiểm cũng như vấn đề mánh khóe che giấu thu nhập để nhận mức trợ cấp cao
hơn người khác.
+ Chủ doanh nghiệp tư nhân và lao động gia đình không hưởng lương. Đây
là nhóm lao động gia đình cùng tham gia sản xuất và chia sẻ lợi nhuận nhưng không
có quan hệ lao động.
+ Nông dân là nhóm lao động chiếm tỷ lệ cao nhất trong lực lượng lao động hiện
nay nhưng chưa được tham gia BHXH, khó khăn lớn nhất cho họ khi tham gia BHXH là
khả năng tài chính thấp và không ổn định do phụ thuộc vào mùa vụ thu hoạch.
+ Người thất nghiệp, nhóm này chưa được BHXH quan tâm đến với lý do tài
chính và khả năng quản lý.
1.1.2. Bản chất, vai trò và nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.1.2.1. Bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện
a. Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện
những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong
thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn một
khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro. Ở đây, Quỹ BHXH tự nguyện đó
thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH tự nguyện được hiểu
như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập
của họ bị giảm, bị mất. Trên góc độ vĩ mô, BHXH tự nguyện gúp phần ổn định an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gúp phần xóa đói giảm nghèo.
12
Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, mà hoạt
động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định
và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là một chỉ
tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia.
Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH không tách rời mà đan
xen với nhau. Khi nói đến sự đảm bảo kinh tế cho người lao động và gia đình họ là nói
đến tính xã hội của BHXH. Ngược lại khi nói đến sự đóng góp ít, nhưng lại được bù
đắp đủ trang trải mọi rủi ro, thì cũng đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH.
1.1.2.2. Vai trò bảo hiểm xã hội tự nguyện
Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH xã hội nói chung và BHXH tự
nguyện nói riêng đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt sau:
- BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH,
đảm bảo an toàn xã hội. Những người tham gia BHXH tự nguyện và gia đình họ sẽ
được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao
động, mất việc làm hoặc chết. Nhờ có sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp
thời mà người tham gia BHXH tự nguyện nhanh chóng khắc phục được những tổn
thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao
động, hoạt động bình thường của bản thân.
- BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội. Phân phối trong
doanh, đồng thời tự quyết định phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách
trong thu chi gia đình. Bởi vậy, quan hệ của họ với BHXH là quan hệ "lỏng" hoặc
quan hệ "mềm", không mang tính bắt buộc như quan hệ lao động trong Bộ luật Lao
động điều chỉnh. Bởi vậy họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện", trên cơ sở suy
nghĩ về "tính lợi ích" khi tham gia BHXH. Do đó, mọi chính sách BHXH có tính áp
đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khả năng thực thi
thấp hoặc thất bại.
b. Mọi người đều có quyền tham gia bảo hiểm xã hội và có quyền hưởng bảo hiểm
xã hội khi có các nhu cầu về bảo hiểm
Quyền được BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện cụ thể
của quyền con người. Nhưng BHXH không phải là cái có sẵn, nên trước hết phải tạo
ra nó. Ở mỗi nước khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thì đầu tiên, Nhà nước phải
tạo ra điều kiện và môi trường về kinh tế - xã hội, về chính sách và luật pháp, về tổ
chức và cơ chế quản lý của mình. Không có sự đóng góp này thì chính sách BHXH
có hay đến mấy cũng không bao giờ có BHXH trong thực tiễn. Vì vậy, thực hiện
trách nhiệm đóng góp tài chính BHXH là điều kiện cơ bản nhất để người lao động
được hưởng quyền BHXH.
14
Biểu hiện cụ thể quyền được BHXH của người lao động là việc họ được
hưởng trợ cấp BHXH theo chế độ xác định. Các chế độ này gắn với các trường hợp
người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm do đó bị
giảm hoặc mất nguồn sinh sống. Trong nền kinh tế thị trường các trường hợp đó có
thể xảy ra rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên. Về nguyên lý thì mọi trường
hợp như thế, người lao động đều phải được hưởng BHXH. Nhưng giữa nguyên lý
với thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất xa. Khoảng cách đó do các điều kiện
kinh tế - xã hội quy định. Bởi vậy trên giác độ điều hành vi mô, cần căn cứ vào các
điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước trong từng giai đoạn phát triển để tổ
chức và hoàn thiện dần chế độ BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất