MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
vi
Danh mục đồ thị
vii
Danh mục các từ viết tắt
viii
1
LỜI MỞ ĐẦU
1
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
3
2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
5
2.1
Cơ sở lý luận
5
2.1.1
Khái quát chung về BHXH bắt buộc
5
35
3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
37
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
37
3.1.1
Đặc điểm chung về Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
37
3.1.2
Khái quát về BHXH Quận Hoàng Mai
38
iii
3.2
Phương pháp so sánh
46
3.3.3
Phương pháp chuyên gia
46
3.4
Các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu
46
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
48
4.1
Thực trạng quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH
quận Hoàng Mai
48
4.1.6
Quản lý hồ sơ tham gia BHXH
63
4.1.7
Kết quả thu BHXH bắt buộc
63
4.1.8
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đối tượng tham gia BHXH
65
4.2
Đánh giá chung tình hình quản lý đối tượng BHXH bắt buộc
67
4.2.1
Những kết quả đã đạt được
67
83
5.1
Kết luận
83
5.2
Kiến nghị
84
iv
5.2.1
Kiến nghị đối với nhà nước
84
5.2.2
Kiến nghị đối với BHXH Việt Nam
85
5.2.3
Tình hình đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của BHXH quận
Hoàng Mai
39
3.2
Tình hình thu BHXH bắt buộc giai đoạn 2012 – 2014
43
4.1
Số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc (2012-2014)
52
4.2
Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH BB trên địa bàn quận năm 2014
53
4.3
Số lao động tham gia BHXH bắt buộc (2012-2014)
54
4.9
Quản lý công tác chốt sổ BHXH bắt buộc (2012-2014)
62
4.10
Quản lý hồ sơ tham gia BHXH (2012-2014)
63
4.11
Tổng hợp kết quả thu BHXH BB tại quận Hoàng Mai từ 2012-2014
64
4.12
Đánh giá của các doanh nghiệp về BHXH
65
vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ
STT
Cải cách hành chính
CĐBHXH
Chế độ bảo hiểm xã hội
DN
Doanh nghiệp
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
HĐND
Hội đồng nhân dân
KD
Kinh doanh
LĐ
Lao động
LĐLĐ
Liên đoàn Lao động
Bảo hiểm xã hội đã xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội của nhân loại. Theo Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay là
Cộng hòa Liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm
ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH và coi nó là một trong những
chính sách quan trọng nhất trong hệ thống chính sách an sinh xã hội.
BHXH là nền tảng cho sự ổn định và phát triển xã hội. Kinh tế của mỗi quốc
gia chỉ có thể tăng trưởng một cách bền vững khi người dân được phân phối công
bằng, khi người dân được thụ hưởng các thành quả của kinh tế. BHXH chính là một
“kênh” quan trọng tạo ra sự công bằng này. Vì vậy, các quốc gia, dù đã phát triển
hay đang phát triển, vẫn tiếp tục hoàn thiện, tiếp tục đổi mới chính sách BHXH.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang dần hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, sức ép trên thị trường lao động ngày một tăng lên. Nhất là trong tình hình
hiện nay, khi mà nền kinh tế nước ta bị tác động bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới. BHXH chính là sự cần thiết khách quan và không thể thiếu được đối với người
lao động. Hoạt động BHXH đã ngày càng chứng tỏ được vai trò quan trọng trong
việc giảm nhẹ Ngân sách nhà nước tạo nguồn vốn khá lớn để đầu tư tăng trưởng
phát triển kinh tế.
Theo thời gian các quy định về BHXH ngày càng được hoàn thiện hơn, là
chính sách an sinh xã hội giúp người lao động an tâm làm việc, phát huy hết năng
lực để đóng góp cho xã hội. BHXH không đơn thuần chỉ là tiền mà người lao động
và người sử dụng lao động đóng vào để giải quyết các chế độ, chính sách. Thông
qua những chế độ, chính sách mà người lao động được hưởng, sẽ làm cho người lao
động an tâm làm việc, chủ sử dụng lao động có nguồn nhân lực ổn định, có khả
năng hoạch định được chính sách, chiến lược kinh doanh và phát triển, từ đó thúc
đẩy kinh tế phát triển.
Theo báo cáo sơ bộ của Tổng cục thống kê, năm 2012 trên địa bàn thành phố
Hà Nội có khoảng 93.715 đơn vị, tổ chức hoạt động với 2.487.582 người tham gia
1
trạng trốn, tránh đóng BHXH diễn ra khá phức tạp. Để khắc phục những hạn chế,
2
bất cập nói trên, nhằm mở rộng và tăng trưởng nguồn thu BHXH, phát triển bền
vững quỹ BHXH trên địa bàn quận, rất cần có những giải pháp cụ thể.
Qua thời gian công tác tại BHXH quận Hoàng Mai, với những kiến thức cơ
bản, những kinh nghiệm thực tiễn trong công tác thu BHXH, tác giả chọn vấn đề:
“ Quản lý đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại Bảo hiểm xã hội quận
Hoàng Mai, TP Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở những lý luận về BHXH, đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung
trong công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại các cơ quan BHXH
hiện nay. Trên cơ sở nghiên cứu tại BHXH Quận Hoàng Mai để đề xuất các giải
pháp quản lý có hiệu quả các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về BHXH, BHXH bắt buộc
và quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tại các cơ quan bảo hiểm hiện nay;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình quản lý các đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc tại BHXH Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội;
- Đề xuất các giải pháp quản lý đối tượng tham gia BHXH trên địa bàn, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế, an sinh xã hội của địa phương trong điều kiện mới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về BHXH bắt buộc và giải pháp
quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc ở các địa phương hiện nay.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu công tác quản lý thu, các nội dung
cùng với sự phát triển của xã hội.
Tuy đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng đến nay vẫn chưa có định nghĩa
thống nhất về BHXH và BHXH được nhìn nhận dưới nhiều giác độ khác nhau.
Từ giác độ pháp luật: BHXH là một chế định bảo vệ người lao động sử dụng
nguồn đóng góp của mình, đóng góp của người sử dụng lao động (nếu có) và được
sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm trợ cấp vật chất cho người lao động được bảo
hiểm và gia đình họ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm
đau, tai nạn lao động hoặc hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc người
lao động bị chết.
(Võ Thành Tâm,2013)
Dưới giác độ tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ tài chính
giữa những người tham gia BHXH theo quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta thể hiện
tinh thần nhân đạo và nhân văn cao cả “ mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi
người”. Làm sao để cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh là một
mục tiêu hàng đầu mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
5
Theo Điều 3 Luật Bảo hiểm số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006: “Bảo hiểm
xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động
khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm
xã hội”
Từ những cách tiếp cận trên, chúng ta có thể khái quát về Bảo hiểm xã hội
như sau: Bảo hiểm xã hội là sự chia sẻ giá trị vật chất xã hội, là sự bảo vệ của xã hội
bằng cách đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động, khi
về thu nhập trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, mất việc làm, hoặc khó khăn khi về già… Lúc này, tất cả những
rủi ro đó đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của người lao
động, sự đối mặt với cuộc sống thật nan giải. Tình cảnh này đưa đến những
hành động tập thể phát huy truyền thống tương thân, tương ái vốn có từ trong
nhân dân, đồng thời cũng đòi hỏi giới chủ, giới thợ và Nhà nước từng bước can
thiệp để duy trì lực lượng nhân công cần thiết cho xã hội.
Sự mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ có nguồn gốc từ Chế độ Chiếm hữu
nô lệ, khi mà sở hữu tư nhân tư liệu sản xuất mới xuất hiện. Sự mâu thuẫn này trải
qua nhiều thời kỳ và đi cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội. Theo thời gian trình
độ chuyên môn và nhận thức của người lao động về BHXH ngày càng được nâng
cao, cách chủ động khắc phục khi không may gặp phải rủi ro xảy ra ngày càng hoàn
thiện. Thế nhưng, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH thì những tranh chấp cũng
như những khó khăn mới được giải quyết một cách ổn thỏa và có hiệu quả nhất. Đó
cũng chính là cách giải quyết chung nhất cho xã hội loài người trong quá trình phát
triển của đất nước.
Sự xuất hiện của BHXH là một tất yếu khách quan khi mà mọi thành viên
trong xã hội đều cảm thấy sự cần thiết phải tham gia hệ thống BHXH và sự cần thiết
phải tiến hành bảo hiểm cho người lao động. Vì vậy, BHXH đã trở thành nhu cầu và
quyền lợi của người lao động và được thừa nhận là một nhu cầu tất yếu khách quan,
một trong những quyền lợi của con người
b) Phân loại BHXH
Căn cứ vào Luật bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2006, có thể phân bảo hiểm
xã hội thành hai loại:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc: Là loại hình BHXH mà NLĐ và người SDLĐ bắt
7
buộc phải tham gia với mức đóng góp tối thiểu theo quy định của pháp luật.
kinh tế. Có thể khái quát vai trò của BHXH trên các mặt sau:
Một là, BHXH góp phần ổn định đời sống của người lao động tham gia
BHXH, những người tham gia BHXH sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết. Nhờ có sự thay
thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người lao động khắc phục nhanh chóng được
những tổn thất về vật chất, nhanh phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục
quá trình hoạt động bình thường.
Hai là, BHXH góp phần đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế xã
hội. Để phòng ngừa, hạn chế tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quy định chặt
chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ. Khi có rủi ro xảy ra với NLĐ,
quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo điều kiện cho NLĐ nhanh ổn định cuộc sống và sản
xuất… Tất cả những yếu tố đó góp phần quan trọng làm ổn định nền kinh tế xã hội.
Ba là, BHXH làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa người lao động, người
sử dụng lao động và Nhà nước. Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước
đều tham gia đóng góp vào quỹ BHXH, điều đó làm cho:
- Người lao động có trách nhiệm hơn trong công việc, trong lao động sản xuất.
- Người sử dụng lao động tham gia đóng góp vào quỹ BHXH cho người lao
động được hưởng các chế độ BHXH cũng thấy rõ trách nhiệm của mình đối với
người lao động
- Nhà nước vừa tham gia đóng góp, vừa điều hành hoạt động của quỹ BHXH,
đảm bảo sự công bằng, bình đẳng, cho mọi đối tượng thụ hưởng…
- Điều đó làm tăng thêm mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước - người sử dụng
lao động - người lao động, góp phần ổn định nền kinh tế xã hội.
Bốn là, BHXH góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Qũy BHXH được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động và gia
đình họ, phần nhàn rỗi được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo
tồn và tăng trưởng quỹ. Như vậy, xét trên cả phương diện chi trả các chế độ BHXH
cũng như đầu tư tăng trưởng quỹ, hoạt động của quỹ BHXH đều góp phần thúc đẩy
khách quan về tiền lương, về thời gian lao động … nhưng khi BHXH xuất hiện nó
đã giải quyết và điều hòa được những mâu thuẫn đó. Người lao động cảm thấy mình
được bảo vệ, những rủi ro được giàn trải, cuộc sống gia đình được ổn định. Còn
người sử dụng lao động thì thấy mình có lợi vì các hoạt động sản xuất diễn ra bình
thường, tránh được những xáo trộn không cần thiết. Từ đó, BHXH đã làm cho họ
hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau.
2.1.1.6 Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc
a) Khái niệm quỹ BHXH bắt buộc
“Quỹ BHXH bắt buộc là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài Ngân
sách Nhà nước. Quỹ có mục đích và chủ thể riêng. Mục đích tạo lập quỹ BHXH bắt
11
buộc là dùng để chi trả cho người lao động, giúp họ ổn định cuộc sống khi gặp các
biến cố hoặc rủi ro. Chủ thể của quỹ BHXH bắt buộc chính là những người tham
gia đóng góp để hình thành nên quỹ, do đó có thể bao gồm cả: người lao động,
người sử dụng lao động và Nhà nước” ( Luật BHXH, 2006).
Về bản chất, hoạt động của Ngân sách Nhà nước và của quỹ BHXH đều
không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Việc thu-chi Ngân sách Nhà nước cũng
như của quỹ BHXH đều được quy định bằng pháp luật và cơ chế quản lý phải tuân
theo nguyên tắc cân đối giữa thu và chi …
Một số điểm khác nhau cơ bản:
- Quan hệ phân phối của Ngân sách Nhà nước mang tính pháp lý cao và dựa
vào quyền lực chính trị, kinh tế của Nhà nước, quan hệ phân phối này mang tính
hoàn trả và phản ánh lợi ích của xã hội, lợi ích quốc gia. Trong khi đó, quan hệ phân
phối của quỹ BHXH có tính pháp lý thấp hơn và mối quan hệ phân phối này phản
ánh lợi ích của các bên tham gia BHXH trước, sau đó mới đến lợi ích xã hội.
- Ngân sách Nhà nước hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời,
tồn tại và phát triển của Nhà nước và thực hiện chức năng kinh tế xã hội của Nhà
để quỹ có thể tồn tại và phát triển được thì việc bảo tồn giá trị và tăng trưởng quỹ
BHXH đã trở thành một yêu cầu mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạt động
của quỹ BHXH .
Bốn là, quỹ BHXH bắt buộc là hạt nhân, là nội dung vật chất chính của tài
chính BHXH, nó cũng là khâu tài chính trung gian cùng với Ngân sách Nhà nước và
tài chính doanh nghiệp để hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên,
mỗi khâu tài chính sẽ gắn với một chủ thể nhất định và việc tạo lập, sử dụng lại gắn
với những mục đích riêng của từng khâu nên trong quản lý và sử dụng chúng luôn
độc lập với nhau. Tuy vậy, Ngân sách Nhà nước, tài chính DN, tài chính BHXH lại
có mối quan hệ hữu cơ với nhau và đều chịu sự chi phối của pháp luật Nhà nước.
Năm là, sự hình thành, tồn tại và phát triển quỹ BHXH bắt buộc phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và phụ thuộc và điều kiện
lịch sử trong từng thời kì nhất định của đất nước. Một đất nước có nền kinh tế – xã
hội càng phát triển thì càng có điều kiện thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH và nhu
cầu thỏa mãn về BHXH của người lao động sẽ được nâng cao hơn. Đồng thời khi
đó, NLĐ và người SDLĐ sẽ có thu nhập cao hơn, do vậy, họ càng có điều kiện để
tham gia và đóng góp vào quỹ BHXH.
13
c) Nguồn hình thành quỹ BHXH bắt buộc
Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau:
- Người lao động đóng góp.
- Người sử dụng lao động đóng góp
- Nhà nước đóng góp và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ đối với
người lao động dưới các hình thức:
+ Bù thiếu
+Tài trợ hoàn toàn cho một hoặc một vài chế độ như đối tượng chính sách,
bảo trợ xã hội, người nghèo…
sách BHXH.
Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH bắt buộc có
vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách
BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập
quỹ BHXH bắt buộc. Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia
BHXH bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Chính vì tầm quan trọng của công tác thu BHXH bắt buộc như vậy nên bên
cạnh việc thu quỹ BHXH bắt buộc chúng ta còn cần các biện pháp để quản lý thu
quỹ BHXH bắt buộc thật hiệu quả. Cụ thể là:
- Quản lý tốt đối tượng tham gia.
Việc xác định đối tượng tham gia BHXH là một trong những nhiệm vụ lớn và
quan trọng nhất của công tác thu BHXH.Trên cơ sở nhiệm vụ của công tác thu là
phải thu đúng, thu đủ, thu đúng đối tượng và rõ ràng minh bạch nhằm đảm bảo tính
công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia BHXH. Tuy nhiên việc quản lý
đối tượng tham gia BHXH (bao gồm cả người sử dụng lao động và người lao động)
là việc rất phức tạp và khó khăn. Để thực hiện tốt công tác này cần thực hiện phân
cấp quản lý, phân công từng cán bộ theo dõi, quản lý, đôn đốc thu BHXH đến từng
đơn vị tham gia BHXH. Việc này giúp cho công tác thu BHXH được dễ dàng hơn,
tránh hiện tượng thu thiếu, thu trùng.
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động
nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ. Việc đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc của
các bên tham gia BHXH bắt buộc là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng. Vậy
thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH bắt buộc là nguồn nguồn thu chủ
yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH bắt buộc ở hầu hết các quốc gia.
15
- Quản lý quỹ lương đóng BHXH bắt buộc
Tiền lương, tiền công do Nhà nước quy định: Người lao động thuộc đối
Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích. Nguồn thu BHXH do được tồn tích
cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần
được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu
BHXH về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá. Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý
nghiêm ngặt về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; Đồng thời nghiên cứu các
lĩnh vực đầu tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng
nguồn thu.
Để thực hiện các BHXH các tỉnh, quận được mở tài khoản chuyên thu ở hệ
thống ngân hàng và kho bạc Nhà nước. BHXH tỉnh và BHXH quận mở tài khoản
này chỉ được sử dụng để thu tiền nộp BHXH ở khu vực mình quản lý, không
được sử dụng tiền thu BHXH vào bất cứ mục đích gì khác. Định kỳ, BHXH tỉnh,
quận sẽ chuyển số tiền thu được lên cấp trên, từ đó tiền thu BHXH được tập
trung ở cơ quan cao nhất là BHXH Việt Nam.
- Quản lý thống nhất trên nguyên tắc thu BHXH bắt buộc hiện hành
+ Thu đúng: Là đúng đối tượng, đúng mức, đúng tiền lương, tiền công và
đúng thời gian quy định: Mọi người lao động khi có HĐLĐ hoặc giao kết lao động
theo quy định, được trả công bằng tiền đều là đối tượng đóng BHXH bắt buộc. Việc
xác định đúng đối tượng, đúng tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng BHXH của
người lao động là cơ sở quan trọng để đảm bảo thu đúng; Việc thu đúng còn phụ
thuộc vào tính chất hoạt động của đơn vị sử dụng lao động để xác định đúng đối
tượng, mức thu, phương thức thu.
- Thu đủ: Là thu đủ số người thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và số tiền
phải đóng BHXH của người lao động, người sử dụng lao động.
- Thu kịp thời: Là thu kịp về thời gian khi có phát sinh quan hệ lao động, tiền
công, tiền lương mà những quan hệ đó thuộc đối tượng, phạm vi tham gia BHXH.
Chế độ BHXH thường xuyên thay đổi để phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội
từng thời kỳ, ở mỗi thời điểm thay đổi đó cần phải tổ chức thực hiện thu BHXH của
người sử dụng lao động và người lao động đảm bảo kịp thời, không để tồn đọng tiền
hiểm cho người lao động mà họ sử dụng. Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp
của người lao động và người sử dụng lao động phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng
quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với người lao động. Mối quan hệ
ràng buộc này chính là đặc trưng riêng có của BHXH. Nó quyết định sự tồn tại và
phát triển của BHXH một cách ổn định và bền vững.
18
2.1.2.2 Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Quản lý đối tượng tham gia BHXH là sự tác động có kế hoạch, có tổ chức
của cơ quan BHXH đối với quá trình tham gia BHXH của các đối tượng thông qua
việc quản lý danh sách tham gia; hồ sơ tham gia; sổ BHXH; mức lương; tổng quỹ
lương, mức đóng góp vào quỹ BHXH, nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các
đối tượng tham gia theo luật định.
a) Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Tham gia BHXH là nhiệm vụ, nghĩa vụ của các đơn vị sử dụng lao động
nhằm thực hiện quyền lợi cho NLĐ. Việc đóng góp vào quỹ BHXH bắt buộc của
các bên tham gia BHXH bắt buộc là tất yếu vì nguyên tắc có đóng có hưởng. Vậy
thu từ đóng góp của những người tham gia BHXH bắt buộc là nguồn nguồn thu chủ
yếu quan trọng nhất cho quỹ BHXH bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. Trên cơ sở
nhiệm vụ của công tác thu là phải thu đúng, thu đủ, thu đúng đối tượng và rõ ràng
minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người tham gia
BHXH. Tuy nhiên việc quản lý đối tượng tham gia BHXH (bao gồm cả người sử
dụng lao động và NLĐ) là việc rất phức tạp và khó khăn. Để thực hiện tốt công tác
này cần thực hiện phân cấp quản lý, phân công từng cán bộ theo dõi, quản lý, đôn
đốc thu BHXH đến từng đơn vị tham gia BHXH. Việc này giúp cho công tác thu
BHXH được dễ dàng hơn, tránh hiện tượng thu thiếu, thu trùng.
Tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 ngày 29/6/2006 quy định
đối tượng áp dụng (tham gia BHXH bắt buộc) bao gồm: