LUẬN văn THẠC SĨ hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh lào cai - Pdf 66

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa
học của ….
Các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách
quan, khoa học, mọi kết quả đều dựa vào quá trình khảo sát và thực địa trên thực tế.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm./.
Tác giả

1


Tác giả luận văn xin trân trọng cảm ơn đến các quý Thầy, Cô Trường ….. đã
tận tình giảng dạy, truyền thụ và hướng dẫn cho tác giả nhiều kiến thức quý báu
trong suốt thời gian theo học tại trường.
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
…… người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả vượt qua những khó khăn trong
quá trình nghiên cứu để hoàn thành cuốn luận văn này.
Xin được chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND tỉnh Lào Cai đã nhiệt tình
động viên, hỗ trợ cho tác giả nhiều thông tin và ý kiến quý báu trong quá trình tác
giả thu thập thông tin để hoàn thành cuốn luận văn này.
Với tất cả tình cảm yêu thương xin chân thành cảm ơn mọi thành viên trong
gia đình, bạn bè luôn bên cạnh chăm sóc, động viên kích lệ và giúp đỡ để tôi hoàn
thành luận văn này.
Tác giả luận văn

2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết dầy đủ



LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU
Chương 1.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HỆ THỐNG CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

1.1.
1.2.

Khái quát và phân loại về chợ, hệ thống chợ
Vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh
Các nhân tố ảnh hưởng đến đến quản lý nhà nước và kinh
nghiệm quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn
1.3.
tỉnh
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỆ
Chương 2.
THỐNG CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
Khái quát về hệ thống chợ và phân tích yếu tố ảnh hưởng đến
quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh Lào
2.1.
Cai
Thực trạng và nội dung quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ
2.2.
trên địa bàn tỉnh Lào Cai
Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chợ là một trong những loại hình kinh doanh thương mại, có vai trò quan trọng
đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương. Chợ không chỉ là nơi
đơn thuần diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ mà còn là nơi kéo theo sự hình
thành và phát triển các ngành nghề sản xuất. Chợ đóng vai trò to lớn trong hệ thống phân
phối hàng hóa, đóng góp vào ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
xã hội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiệu quả hoạt động của chợ nằm thúc đẩy
quá trình lưu thông hàng hóa, từ đó thúc đẩy sản xuất, phát triển nền kinh tế.
Tỉnh Lào Cai là một tỉnh được tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn vào năm 1991
nhưng đã có bề dày tỉnh hơn 100 năm. Tỉnh Lào Cai giáp ranh giới giữa vùng Tây Bắc
và vùng Đông Bắc cách thủ đô Hà Nội 330km. Tỉnh có vị trí địa lý: Phía đông giáp tỉnh
Hà Giang, Phía tây giáp tỉnh Lai Châu, Phía nam giáp tỉnh Yên Bái, Phía bắc giáp tỉnh
Vân Nam của Trung Quốc. Tỉnh Lào Cai là một tỉnh biên giới nước ta, là một trong
những cửa ngõ giao thương kinh tế với Trung Quốc. Tỉnh Lào Cai tuy địa hình đồi núi
nhiều nhưng hệ thống giao thông những năm gần đây đã được cải thiện rất nhiều, đặc
biệt với tuyến đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai đã giúp tỉnh tạo điều kiện phát triển công
nghiệp, thương mại, giao lưu hàng hóa trở nên thuận lợi hơn, tiếp cận nhanh các thành
tựu khoa học, văn hóa thông tin trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tỉnh Lào Cai đến nay đã duy trì và xây dựng được hệ thống chợ sầm uất, đáp ứng
nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ của các thương nhân, dân cư địa phương
và dân cư ngoại tỉnh. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tại chợ vẫn còn gặp nhiều khó
khăn và công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn tỉnh vẫn gặp những
bất cập, điển hình như: Việc quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch dân cư chưa chú tâm
tới quy hoạch hệ thống chợ tạo nên những thiếu sót trong quy hoạch đồng bộ nên một số
chợ quá chật hẹp, một số khác thì chưa tận dụng hết được diện tích sử dụng. Cơ sở vật
chất kĩ thuật cũng là vấn đề đáng quan tâm hiện nay khi nhiều chợ đã xuống cấp nghiêm
trọng nhưng chưa được tu sửa, nâng cấp. Xử lí rác thải còn chưa tối ưu khiến vấn đề vệ
sinh môi trường trở nên nghiêm trọng ảnh hưởng xấu đến an toàn thực phẩm. Một vấn đề
đáng quan tâm không kém đó là việc các chợ tự phát mọc lên không kiểm soát. Các ki5

2) Đề tài khoa học cấp Bộ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển
kết cấu hạ tầng thương mại – hệ thống chợ” do Viện nghiên cứu Thương mại, Bộ Công
Thương thực hiện năm 2005. Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về chợ, hạ tầng chợ.
Phân tích thực trạng phát triển và quản lý hệ thống chợ, thực trạng kết cấu hạ tầng các
chợ tại Việt Nam. Từ đó đưa ra các quan điểm, mục tiêu phát triển hệ thống chợ trong
6


thời gian tiếp theo và đề xuất giải pháp nhằm phát triển kết cấu hạ tầng chợ trên phạm vi
cả nước.
3) Luận văn thạc sĩ: “Quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn thành
phố Móng Cái tỉnh Quảng Ninh”. Do thạc sĩ Nguyễn Giáng Vân thực hiện năm 2018. Đề
tài đã hệ thống hóa một số lý luận về quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ, nêu lên
được tình hình kinh doanh của hệ thống chợ trên địa bàn thành phố, ngoài ra luận văn
còn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên
địa bàn thành phố Móng Cái.
4) Luận văn thạc sĩ: “Quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ trên địa bàn thành
phố Vĩnh Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc”. Do thạc sĩ Trần Nguyên Trung thực hiện năm
2014. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng hoạt động hệ thống chợ trên đia bàn thành phố,
đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động hệ thống chợ thành phố. Trên
cơ sở đó đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoàn thiện quản lý nhà nước đối với
hệ thống chợ trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên.
5) Luận văn thạc sĩ: “Phát triển hệ thống chợ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn tỉnh Nam Định”. Do thạc sĩ Nguyễn Minh Văn thực hiện năm 2010. Đề tài
tập trung nghiên cứu lý luận về chợ, hạ tầng chợ. Tìm hiểu, phân tích thực trạng phát
triển, quản lý chợ. Đưa ra các quan điểm, mục tiêu phát triển chợ trong thời gian tới và
đề xuất giải pháp nhằm phát triển kết cấu hạ tầng trên địa bàn tỉnh Nam Định.
Qua tìm hiểu các đề tài nghiên cứu nêu trên, tôi thấy các đề tài đã đạt được các
mục tiêu đề ra, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý nhà
nước đói với hệ thống chợ tại một Tỉnh biên giới có sự giao lưu trong và ngoài nước như

Số liệu của Niên giám thống kê của tỉnh Lào Cai
Số liệu từ các cuộc điều tra có liên quan do các cơ quan, đơn vị tại địa phương tiến hành.
+ Thu thập số liệu sơ cấp
Tôi sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn một số cán bộ lãnh đạo của Tỉnh,
cán bộ quản lý các phòng ban nghiệp vụ của Tỉnh, cán bộ nhân viên của các ban quản lý
chợ, chủ kiot, sạp hàng trong các chợ và người dân trên địa bàn.
- Phương pháp xử lý số liệu
Dựa vào phiếu điều tra đã thu thập, tiến hành kiểm tra trước khi tổng hợp, làm
sạch phiếu điều tra, loại bỏ những phiếu không hợp lệ. Thông tin được tổng hợp được
8


sau đó sẽ đưa ra phán đoán về bản chất các sự kiện đồng thời thể hiện những logic các sự
kiện, các phân hệ trong hệ thống các sự kiện được xem xét.
Tổng hợp và xử lý thông tin, sử dụng các công cụ tính toán dựa trên phần mềm
Excel: Nhập dữ liệu và tổng hợp theo các mục đích nghiên cứu, trên cơ sở phân tổ thống
kê, dãy số thời gian,...
- Phương pháp phân tích thông tin số liệu:
+ Phương pháp thống kê mô tả: Tổng hợp các số liệu, tư liệu đã thu thập được để
mô tả công tác quản lý hệ thống các chợ trên địa bàn Tỉnh Lào Cai, chỉ ra ưu nhược điểm
và nguyên nhân.
+ Phương pháp phân tích dãy số biến động theo thời gian: là dãy các trị số của
một tiêu chí thống kê được sắp xếp theo thời gian dùng để phản ánh quá trình phát triển
của hiện tượng. Vận dụng phương pháp này để đánh giá mức độ tiến bộ của công tác
quản lý nhà nước đối với hệ thống chợ.
+ Phương pháp phân tích so sánh: Dùng phương pháp này để đối chiếu so sánh
các chỉ tiêu thống kê. Phương pháp này để so sánh các chỉ tiêu về không gian và thời
gian; từ đó chỉ ra sự khác biệt, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế công tác quản lý
nhà nước đối với hệ thống chợ.
+ Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp

mua bán, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư".
b) Khái niệm hệ thống chợ
Hệ thống chợ là tập hợp các chợ trên một địa bàn nhất định dưới sự quản lý của
các cấp quản lý. Ví dụ như: hệ thống chợ cấp quận, huyện; hệ thống chợ cấp tỉnh;…
1.1.2. Vai trò của chợ
a) Về mặt kinh tế
Chợ là một bộ phận quan trọng trong cấu thành mạng lưới thương nghiệp xã hội:
Đối với vùng nông thôn: Chợ vừa là nơi tiêu thụ nông sản hàng hoá, tập trung thu
gom các sản phẩm, hàng hoá phân tán, nhỏ lẻ để cung ứng cho các thị trường tiêu thụ
10


lớn trong và ngoài nước, vừa là nơi cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng cho nông dân
và một số loại vật tư cho sản xuất nông nghiệp ở nông thôn.
Ở khu vực thành thị: Chợ cũng là nơi cung cấp hàng hoá tiêu dùng, lương thực
thực phẩm chủ yếu cho các khu vực dân cư. Tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện khá nhiều
hình thức thương mại cạnh tranh trực tiếp với chợ, vì thế bên cạnh việc mở rộng hay
tăng thêm số lượng chợ chúng ta sẽ đầu tư nâng cấp chất lượng hoạt động của chợ và
đầu tư nâng cấp chất lượng dịch vụ của chợ.
Hoạt động của các chợ làm tăng ý thức về kinh tế hàng hoá của người dân, rõ nét
nhất là ở miền núi, vùng cao từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần tích cực vào
công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi. Trong các phiên chợ, các buổi chợ
là cơ hội của người dân giao lưu trao đổi, mua bán, lưu thông hàng hoá của mình, cập
nhật thông tin, ý thức xã hội, nó làm tăng khả năng phản ứng của người dân với thị
trường, với thời thế và tự mình có thể ý thức được công việc làm ăn buôn bán của mình
trong công cuộc đổi mới.
Chợ là một nguồn thu quan trọng của Ngân sách Nhà nước. Mặc dù Nhà nước
chưa có thể nâng cấp đủ hệ thống chợ ở nước ta, chưa đặc biệt quan tâm đầu tư phát
triển, nhưng các chợ trong cả nước đã đem lại cho Ngân sách Nhà nước khoảng 300.000
triệu đồng mỗi năm (chưa kể các nguồn thu từ thuế trực tiếp).

cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên tạc đường lối của Đảng. Từ phong trào
kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm sóc cây trồng vật nuôi, vệ sinh phòng dịch…
đều có thể được phổ biến một cách hiệu quả ở đây. Chính vì lý do đó, chợ miền núi hay
miền xuôi đều được bố trí ở trung tâm cụm, xã (nhất là miền núi). Trong mỗi chợ đều
giành vị trí trung tâm làm công tác tuyên truyền.
1.1.3. Phân loại chợ trên địa bàn tỉnh
a) Theo địa giới hành chính
Có hai loại chợ tồn tại theo tiêu thức này là chợ đô thị và chợ nông thôn.

12


Chợ đô thị: Là các loại chợ được tổ chức, tụ họp ở thành phố, thị xã, thị trấn. Do ở
đây, đời sống và trình độ văn hoá có phần cao hơn ở nông thôn, cho nên các chợ thành
phố có tốc độ hiện đại hoá nhanh hơn, văn minh thương mại trong chợ cũng được chú
trọng, cơ sở vật chất ngày càng được tăng cường, bổ sung và hoàn chỉnh. Phương tiện
phục vụ mua bán, hệ thống phương tiện truyền thông và dịch vụ ở các chợ này thường
tốt hơn các chợ ở khu vực nông thôn.
Chợ nông thôn: Là chợ thường được tổ chức tại trung tâm xã, trung tâm cụm xã.
Hình thức mua bán ở chợ đơn giản, dân dã (có nơi, như ở một số vùng núi, người dân tộc
thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy, sạp có quy mô nhỏ
lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bản sắc truyền thống đặc
trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổ khác nhau.
b) Theo tính chất mua bán:
Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn và bán lẻ.
Chợ bán buôn: Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành
phố, thị xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung vói khối lượng hàng hoá lớn.
Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi. Các chợ này
thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán lẻ trong và ngoài
khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu. Các chợ này có doanh số bán

đủ các dịch vụ tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ
đo lường, dịch vụ kiểm tra chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm và các dịch
vụ khác.
Chợ loại 2 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
14


Là chợ có trên 200 diểm kinh doanh, được đầu tư xây dựng kiên cố hoặc là bán
kiên cố theo quy hoạch;
Được đặt ở trung tâm giao lưu kinh tế của khu vực và được tổ chức họp thường
xuyên hay không thường xuyên;
Có mặt bằng phạm vi chợ phù hợp với quy mô hoạt động của chợ và tổ chức các
dịch vụ tối thiểu tại chợ: trông giữ xe, bốc xếp hàng hoá, kho bảo quản hàng hoá, dịch vụ
đo lường.
Chợ loại 3 là chợ thoả mãn các tiêu chuẩn sau:
Là chợ có dưới 200 điểm kinh doanh hoặc các chợ chưa được đầu tư xây dựng
kiên cố hoặc bán kiên cố;
Chủ yếu phục vụ nhu cầu mua bán hàng hoá của nhân dân trong xã, phường và địa
bàn phụ cận.
e) Theo tính chất và quy mô xây dựng:
Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ tạm:
Chợ kiên cố:
Là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trình kiến trúc,
có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm). Chợ kiên cố thường là chợ loại 1
có diện tích đất hơn 10.000 m 2 và chợ loại 2 có diện tích đất từ 6000-9000 m 2. Các chợ
kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh, thành phố lớn, các huyện lỵ, trị trấn và có thời gian
tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là trung tâm mua bán của cả vùng rộng lớn.
Chợ bán kiên cố:
Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh những hạng mục xây dựng
kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựng tạm như lán,



Ban hành hoặc đề xuất với cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách đầu tư,
xây dựng, khai thác và quản lý hoạt động chợ. Chợ gắn liền với sản xuất và lưu thông
hàng hoá nhưng muốn phát huy tác dụng và quản lý chặt chẽ các hoạt động của chợ, cần
thiết phải có hệ thống các cơ chế, chính sách từ trung ương đến địa phương. Nội dung
chủ yếu của các chính sách này bao gồm: Đầu tư xây dựng, quản lý thương nhân, thuế,
giá thuê điểm kinh doanh trong chợ, mô hình quản lý chợ...Hiệu quả chính sách mang lại
là hệ thống chợ từng bước được đầu tư theo hướng văn minh, hiện đại; thu hút đông đảo
thương nhân, người sản xuất đến buôn bán; diện tích chợ được sử dụng tối đa; sản xuất
và lưu thông hàng hoá ngày càng phát triển.
Quản lý các chợ do Nhà nước đầu tư xây dựng theo phân cấp quản lý, hầu hết các
chợ ở nước ta là chợ công. Vì vậy, việc quản lý các chợ này do các cơ quan quản lý nhà
nước giao cho các đơn vị có chức năng quản lý các hoạt động của chợ theo các quy định
của pháp luật. Thường thì các chợ hạng 3 do uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn giao
cho ban hoặc tổ quản lý nhưng có sự phối hợp của một số cơ quan chức năng như: tổ
thuế, đội quản lý thị trường, công an...Đơn vị quản lý có quyền và trách nhiệm thực hiện
đầy đủ những nhiệm vụ chủ yếu đã nêu.
Chỉ đạo, hướng dẫn các ban quản lý chợ, doanh nghiệp kinh doanh khai thác và
quản lý chợ về chính sách, nghiệp vụ quản lý chợ. Nhiệm vụ này có nhiều nội dung
nhưng trong đó cần nhấn mạnh đến công tác hướng dẫn các đơn vị này đầu tư xây dựng,
tổ chức đấu thầu, hoặc cho thuê điểm kinh doanh trong chợ; bố trí sắp xếp các ngành
hàng kinh doanh, đảm bảo an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường; Phát huy vai trò
của thương nhân trong việc đẩy mạnh thu hút nguồn hàng, phát luồng hàng tới người
tiêu dùng hoặc thương nhân, nhà sản xuất.
Tổ chức, kiểm tra giám sát và xử lý các trường hợp vi phạm. Việc tổ chức, bố trí
sắp xếp về cơ cấu quả lý, hay lựa chọn mô hình quả lý cho phù hợp với từng loại hình
chợ để quản lý tài sản Nhà nước và các hoạt động trong phạm vi chợ, thực hiện nghiêm
chỉnh các quy định của Nhà nước về đảm bảo an toàn phòng chống cháy nổ và vệ sinh
môi trường chợ, quản lý các hoạt động mua bán hàng hóa, thực hiện cá nghĩa vụ kinh

mặt nước: Nhà đầu tư được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất
có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi
đầu tư quy định tại Nghị định này được miễn, giảm thuế sử dụng đất, tiền sử dụng đất,
18


tiền thuê đất và tiền thuê mặt nước theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về
thuế.
Đối với địa bàn miền núi, ngoài chính sách áp dụng chung theo quy định của Luật
Đầu tư, khi phát triển chợ, các nhà đầu tư được hưởng chính sách khuyến khích theo quy
định tại Nghị định số 20/NĐ-CP, Nghị định số Số: 11/VBHN-BCT, quy định về Phát
triển và Quản lý chợ của Bộ Công Thương ban hành ngày 23 tháng 01 năm 2014.
Theo Quyết định số 53/2001/Đ-TTg các doanh nghiệp kinh doanh XNK,
cửa hàng miễn thuế, HCTL, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm, chợ cửa khẩu, đầu tư
cơ sở hạ tầng, dịch vụ ... tại khu kinh tế cửa khẩu được vay vốn ưu đãi của Chính phủ để
đầu tư xây dựng các cơ sở kinh doanh trên các cửa khẩu. Tiếp theo, Nghị định
114/2009/NĐ-CP đã quy định chính sách ưu đãi đầu tư đối với các chủ thể tham gia đầu
tư chợ như sau: “Dự án đầu tư chợ của các thành phần kinh tế được hưởng các chính
sách ưu đãi đầu tư như đối với các ngành nghề sản xuất, dịch vụ thuộc Danh mục lĩnh
vực ưu đãi đầu tư quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP; được hưởng chính sách
ưu đãi về tín dụng đầu tư theo Nghị định số 151/2006/NĐ-CP và Nghị định số
106/2008/NĐ-CP”.
Nghị định số 61/2010/NĐ-CP (Nghị định 61/2010/NĐ-CP), theo Nghị định này,
các nhà đầu tư xây dựng chợ hạng 1, ST, TTTM, kho, trung tâm logistics, khu triển lãm
giới thiệu sản phẩm tại vùng nông thôn sẽ được hưởng chính sách hỗ trợ: thuê đất, thuê
mặt nước, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển thị trường, dịch vụ tư vấn, áp dụng khoa
học công nghệ, cước phí vận tải; miễn và các chính sách khác như giảm tiền sử dụng đất;
miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước của Nhà nước; miễn, giảm tiền sử dụng đất khi
chuyển mục đích sử dụng đất. Ngoài chính sách chung áp dụng trên phạm vi cả nước
nêu trên, tùy theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, UBND nhiều tỉnh, thành phố

bao gồm: Phí chợ; phí trông giữ xe; phí vệ sinh môi trường...mức thu các loại phí nêu
trên thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ở chợ: Các khoản thu nói trên về cơ bản dùng
để chi cho các nội dung sau: Hoàn trả vốn đầu tư xây dựng chợ. Chi cho người lao động,
gồm các khoản: tiền lương, tiền công, tiền ăn ca, các khoản phụ cấp lương, các khoản
trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo qui định. Chi quản lý hành
chính: Vật tư văn phòng, điện, nước, thông tin liên lạc, hội nghị tổng kết, sửa chữa
20


thường xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa, máy móc thiết bị... Chi cho các hoạt động tổ chức
thu; Chi cho hoạt động cung ứng dịch vụ và chi khác. Sau khi chi các khooản theo quy
định, số còn lại nọpo vào ngân sách nhà nước theo quy định hiện hành.
d) Cơ chế, chính sách về hỗ trợ vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước
Vốn để phát triển chợ được huy động từ nguồn vốn đầu tư phát triển của
Nhà nước; vay tín dụng, vốn của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, vốn của nhân
dân đóng góp và các nguồn vốn hợp pháp khác, trong đó vốn của các chủ thể sản
xuất, kinh doanh là ngồn vốn chủ yếu. Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân
và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư hoặc góp vốn cùng Nhà nước
đầu tư phát triển chợ.
Khi Chính phủ ban hành Nghị định 114/2009/NĐ-CP, chính sách hỗ trợ đầu tư
xây dựng chợ từ ngân sách nhà nước được sửa đổi như sau: “Nguồn vốn đầu tư phát
triển của Nhà nước bao gồm vốn từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và các
nguồn viện trợ không hoàn lại. Trong đó, vốn từ ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư xây
dựng các chợ đầu mối nông sản, thực phẩm và chợ hạng 2, hạng 3 ở địa bàn nông thôn,
miền núi, hải đảo; vốn từ ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ đầu tư một số chợ sau:
Hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của chợ (mức hỗ trợ cụ thể theo quy mô của
từng dự án:
- Chợ đầu mối chuyên doanh hoặc tổng hợp bán buôn hàng nông sản, thực phẩm

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về thương mại nói
chung và chợ nói riêng trong phạm vi địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.
Sở Công Thương là cơ quan tham mưu trực tiếp giúp ủy ban nhân dân thực hiện
quản lý nhà nước về chợ trong phạm vi địa phương. “Hoạt động của các Sở Công
Thương tập trung vào công tác quy hoạch phát triển thương mại, tổ chức thực hiện
các chính sách phát triển lưu thông hàng hóa và mở rộng thị trường, cung cấp thông
tin thị trường và xúc tiến thương mại. Từ bước tăng cường các công cụ, phương tiện
và điều kiện vật chất cần thiết làm cơ sở kinh tế để tổ chức thực hiện chương trình
dự án phát triển lưu thông hàng hóa và thị trường trong nước…”.
Trong quản lý nhà nước về chợ, Sở Công Thương có những nhiệm vụ như
sau: Lập quy hoạch, kế hoạch, các chương trình và đề án phát triển chợ trên địa bàn
tỉnh; tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các quy hoạch, kế hoạch,
các chương trình và đề án phát triển chợ đó; cụ thể hóa các văn bản pháp luật, các
22


chủ trương chính sách về quản lý hoạt động của chợ trình UBND tỉnh xét duyệt,
quyết định, phổ biến, hướng dẫn và tuyên truyền các quy định pháp luật của Nhà
nước về chợ đến các đối tượng liên quan. Ở cấp huyện, UBND quận, huyện là cơ quan
quản lý của nhà nước cấp huyện thực hiện việc quản lý hệ thống chợ trên địa bàn huyện.
Cơ cấu tổ chức ở mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên đều có bộ phận quản lý hệ
thống chợ trên địa bàn huyện, thị mình.
Bộ máy quản lý nhà nước về thương mại nói chung và quản lý chợ nói riêng
là một hệ thống bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa
phương tạo thành một hệ thống đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
mình. Hệ thống này không phải bất biến mà thường xuyên được hoàn thiện và đổi
mới để phù hợp với sự phát triển thương mại nước ta. Hiện thống các cơ quan quản
lý nhà nước về chợ được mô hình hóa như sau:
1.2.2.3. Ban hành các quy chế tổ chức, quản lý chợ và tổ chức thực hiện các quy
chế tổ chức, quản lý chợ

- Quản lý hàng hóa trong chợ góp phần tích cực trong việc nâng cao văn minh
thương mại, cơ sở cho hội nhập kinh tế khu vực và thế giới và giữ gìn bản sắc dân tộc.
b) Các nội dung quản lý hàng hóa trong chợ
- Quản lý danh mục hàng hóa lưu thông trong chợ
+ Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại chợ (kể cả mang vào chợ, sử dụng, cất trữ…)
là hàng hóa, dịch vụ không thuộc danh mục pháp luật cấm kinh doanh.
+ Hàng hóa kinh doanh tại chợ không thuộc các loại: hàng nhái, hàng giả, hàng
lậu, hàng gian (hàng trộm cắp), hàng không rõ nguồn gốc, hàng quá hạn sử dụng, hàng
không đảm bảo chất lượng (hàng mất phẩm chất, hàng kém chất lượng, nhiễm độc và
động thực vật bị dịch bệnh), hàng gây ô nhiễm môi trường, hàng không đúng quy định
về tem, nhãn mác.
+ Hàng kinh doanh tại chợ phải được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp theo ngành
hàng, nhóm hàng, theo tính chất và yêu cầu phòng chống hỏa hoạn thiên tai… Như vậy
căn cứ vào những điều kiện đặt ra của pháp luật, những hàng hóa được lưu thông trong
chợ là những hàng hóa không thuộc danh mục những hàng háo bị cấm lưu thông trong
chợ và những hàng hóa có đủ điều kiện kinh doanh (dầu hỏa, thuốc chữa bệnh, thuốc bảo
vệ động thực vật …) mà chợ đã đáp ứng đủ.
c) Quản lý số lượng hàng hóa kinh doanh trong chợ
24


Đối với những thương nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ trong chợ: số lượng
hàng hóa đưa vào trong chợ cần đáp ứng đủ cơ số hợp lý, theo kinh nghiệm của một số
chợ thì số lượng hàng hóa chất xếp, trưng bày trong chợ không được cao quá 3,20 m kể
từ nền chợ, hàng hóa chỉ được để trong phạm vi quầy tủ hoặc ki ốt, không được lấn
chiếm hành lang dành cho khách hàng đi lại, điều này sẽ đảm bảo tính thẩm mỹ trong
sắp xếp hàng hóa, người bán và người mua dễ quan sát và lựab chọn hàng khi mua bán,
mặt khác đảm bảo tính an toàn cho môi trường kinh doanh trong chợ như thông thoáng,
dễ quan sát khi gặp sự cố như cháy nổ, vv…
d) Quản lý chất lượng hàng hóa lưu thông trong chợ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status