Khu công nghiệp khu chế xuất KCN KCX và vai trũ của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các KCN KCX - Pdf 67

Khu công nghiệp khu chế xuất KCN KCX và vai trũ của vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào các KCN KCX
1.1. Vai trũ của cỏc KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế - xó hội
1.1.1. Khái niệm về KCN, KCX
Theo Nghị định của Chính phủ số 29/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 3 năm
2008 quy định về KCN, KCX thỡ KCN, KCX được hiểu như sau:
• Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện
các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành
lập theo điều kiện, trỡnh tự và thủ tục quy định tại Nghị định này.
• Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực
hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới
địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trỡnh tự và thủ tục áp dụng đối
với khu công nghiệp quy định tại Nghị định này.
KCN, KCX được gọi chung là khu công nghiệp, trừ trường hợp quy định
cụ thể.
Như vậy, các KCN, KCX là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp,
doanh nghiệp chế xuất đảm bảo tiết kiệm và tận dụng tối đa cơ sở hạ tầng,
quản lý hành chớnh và quản lý mụi trường thuận lợi hơn, tốt hơn. Chúng có
những đặc trưng sau đây:
+ KCN, KCX được coi là một địa bàn tự do thu nhỏ về chớnh sỏch kinh tế
- xó hội, một “phũng thớ nghiệm” cỏc chớnh sỏch mở cửa của nước sở tại. Việc
xây dựng các KCN, KCX có thể làm thay đổi diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều
kiện cho dân cư được tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi
tập quán sinh hoạt ở địa phương.
+ KCN, KCX là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả nhất
những thành tựu khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trỡnh sản xuất kinh
doanh và dịch vụ bởi một địa bàn tương đối rộng, được quy hoạch theo chiến
lược phát triển lâu dài của nền kinh tế, với một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ
thuật tương đối hiện đại, đồng bộ, cùng với những chính sách ưu đói mà Nhà
nước giành cho các KCN, KCX , tạo điều kiện thuận lợi cho các khu công nghiệp
tiếp nhận các công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới, tận dụng được lợi thế

mới các khu công nghiệp chỉ được thực hiện khi tổng diện tích đất công nghiệp
của các khu công nghiệp đó được thuê ít nhất là 60%.
+ Đối với khu công nghiệp có quy mô diện tích trên 500ha và có nhiều
chủ đầu tư tham gia đầu tư xây dựng – kinh doanh kết cấu hạ tầng, phải tiến
hành lập quy hoạch chung xây dựng khu công nghiệp theo hướng dẫn của Bộ
Xây dựng trược khi lập kế hoạch chi tiết khu công nghiệp để đảm bảo tính
thống nhất và tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp.
+ Trong các KCN, KCX không có khu dân cư. Trong khu công nghiệp có
thể có khu chế xuất, có doanh nghiệp chế xuất.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển
các KCN, KCX.
a) Chủ trương phát triển các KCN, KCX
Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới, việc phát triển các KCN,
KCX được coi là nhân tố cơ bản trong việc khai thác tốt tiềm năng nội sinh, thu
hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài, đây là con đường ngắn
nhất để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và cũng chính là con
đường mà Việt Nam đó chọn.
KCN, KCX của Việt Nam hỡnh thành và phỏt triển gắn liền với cụng cuộc
đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản
Việt Nam lần thữ VI (1986). Thông qua nghị quyết của Đảng từ các kỳ Đại hội
từ năm 1986 đến nay, đó hỡnh thành hệ thống cỏc quan điểm nhất quán của
Đảng về phát triển KCN, KCX ; khẳng định vai trũ của KCN, KCX trong việc “tạo
nền tảng để đến cuối năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại”.
Sau gần 15 năm phát triển, với những thành tựu nổi bật trong phát
triển kinh tế, góp phân quan trọng trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta, các KCN, KCX
đó khẳng định sự lựa chọn của Đảng ta là đúng đắn, là hợp lý.
b) Cơ chế chính sách cho phát triển các KCN, KCX
Để phát triển các KCN, KCX, cần phải thu hút được các nhà đầu tư đầu

nước ngoài được khuyến khích, ưu tiên cao hơn đối với khu vực đầu tư
trong nước.
+ Chính phủ đó bói bỏ một số quy định về thuế theo hướng khuyến khích
đầu tư nước ngoài như: thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài; áp dụng một số
chính sách giá trị gia tăng (VAT), thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng
ưu đói đặc biệt đối với doanh nghiệp khu chế xuất.
Một số chính sách về đất đai cũng được xây dựng, sửa đổi theo hướng
ưu đói tiền thuờ đất đối với doanh nghiệp KCN, KCX
+ …
1.1.3. Vai trũ của cỏc KCN, KCX đối với sự phát triển kinh tế - xó hội
của đất nước.
Kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm của Việt
Nam trong gần 15 năm qua cho thấy, hỡnh thành và phỏt triển cỏc KCN, KCX
đó đóng góp một phần rất lớn vào quy mô, tốc độ tăng trưởng của ngành công
nghiệp nói riêng và vào quy mô, tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế
đất nước nói chung. Nhờ vận hành mụ hỡnh này thành cụng, nhiều quốc gia đó
thoỏt nghốo và ngày càng trở nờn giàu mạnh. KCN, KCX ngày càng khẳng định
được vai trũ quan trọng của nú đối với sự phát triển kinh tế - xó hội của đất
nước. Điều đó được thể hiện nổi bật trong những khía cạnh sau:
Thứ nhất, sự hỡnh thành các KCN, KCX sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn
trong việc huy động vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Vốn là một yếu tố cơ bản của quá trỡnh cụng nghiệp húa. Theo tớnh
toỏn của cỏc chuyờn gia kinh tế: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng
bước phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, đũi hỏi phải cú một lượng đầu tư
rất lớn. Vỡ vậy, làm sao để thu hút được nhiều nhất nguồn vốn đầu tư trong
nước và các nguồn lực của nước ngoài là câu hỏi được đặt ra ở các nước đang
phát triển. Phỏt triển cỏc KCN, KCX là một mụ hỡnh lý tưởng để giải đáp một
phần câu hỏi trên. Là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, với nhiều
điều kiện ưu đói, cơ sở hạ tầng thuận lợi cho công việc sản xuất kinh doanh…

Các KCN, KCX là nơi thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong
và ngoài nước, các dự án trong KCN, KCX thường có cụng nghệ tiờn tiến, vỡ
vậy năng lực sản xuất cao hơn. Vỡ vậy, cỏc doanh nghiệp ở ngoài cỏc KCN, KCX
muốn tồn tại và phát triển thỡ phải nõng cao năng lực cạnh tranh của mỡnh.
Như vậy, các KCN, KCX đó giỏn tiếp thỳc đẩy khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp, làm cho thị trường càng năng động hơn, hiệu quả hơn, hội nhập
với thế giới tốt hơn.
Thứ ba, phát triển KCN, KCX tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng công
nghiệp mới, có giá trị lâu dài, đồng thời góp phần hiện đại hóa hệ thống kết
cấu hạ tầng trên cả nước
Việc phát triển các KCN, KCX góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ
thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN, KCX, tạo điều kiện thuận
lợi cho vận chuyển hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Để thu hút đầu tư, thỡ cần phải cú một cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và
thuận lợi cho nhà đầu tư. Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng không chỉ được
tiến hành bên trong KCN, KCX mà cũn phải được đầu tư cả ở bên ngoài KCN,
KCX, tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.
Cú thể thấy rằng, việc hỡnh thành cỏc KCN, KCX đó đẩy mạnh phát triển
hệ thống kết cấu hạ tầng, có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế địa
phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Thứ tư, phát triển các KCN, KCX tạo điều kiện để tập trung xử lý chất
thải, bảo vệ mụi trường sinh thái.
KCN, KCX là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp, do đó có điều
kiện tập trung các chất thải do các doanh nghiệp thải ra dể xử lý, tránh tỡnh
trạng khú kiểm soỏt hoạt động của các doanh nghiệp do phân tán về địa điểm
sản xuất
KCN, KCX góp phần thực hiện mục tiêu di dời các cơ sở sản xuất từ nội
đô vào, do đó góp phần giải quyết ô nhiễm đô thị, xử lý tập trung ô nhiễm.
KCN, KCX tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan quản lý nhà nước

thu cho ngân sách Nhà nước
Thông qua việc thực hiện nghĩa vụ thuế, các doanh nghiệp trong các
KCN, KCX đó đóng góp một phần không nhỏ vào nguồn thu ngân sách Nhà
nước.
Cuối cựng, KCN, KCX cú tỏc dụng lan tỏa tớch cực tới trỡnh độ phát triển
của các vùng, các ngành, các lĩnh vực
Mối liên kết thể hiện trước tiên trong phạm vi nội bộ KCN, KCX bởi
những ngành nghề bổ trợ lẫn nhau, đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư trong
KCN, KCX đó tạo điều kiện cho các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào phát
triển và bản thân các doanh nghiệp trong KCN, KCX có điều kiện tiêu thụ sản
phẩm của nhau.
Các KCN, KCX ra đời đó tạo nờn những vựng cụng nghiệp tập trung, tác
động rất tích cực tới việc phát triển các cơ sở nguyên liệu, thúc đẩy phát triển
các loại hỡnh dịch vụ phục vụ công nghiệp, nâng cao giá trị nông sản hàng hóa,
nâng cao hiệu quả tổng hợp của các ngành sản xuất. Hiệu quả này đặc biệt rừ
nột ở cỏc KCN, KCX thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu
Long.Khu công nghiệp là nơi tiêu thụ các yếu tố đầu vào, cung cấp các đầu ra
cho địa phương và các vùng lân cận, do đó nó có sức lan tỏa tích cực tới các
vùng lân cận, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng đó theo hướng tích
cực.
Việc phát triển các KCN, KCX có tác động rừ rết đến quá trỡnh quy
hoạch, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cũng như quá trỡnh chuyển dịch cơ
cấu lao động của địa phương nơi có khu công nghiệp và ở các vùng lân cận.
Bởi vỡ, các địa phương đề ra các chương trỡnh và giải phỏp cụ thể về đào tạo
nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, cung cấp lao
động cho các KCN, KCX; mặt khác, khi nhận thức được cơ hội có việc làm, tự
người dân đến tuổi lao động tại các địa phương sẽ chủ động định hướng cho
minh trong việc học nghề.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, một trong những yếu tố quan
trọng hàng đầu giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh chính là chất

hỡnh thức đầu tư này không đơn thuần chỉ là sự chu chuyển tài chính quốc tế,
mà cùng với nó là sự chuyển giao công nghệ, bí quyết quản lý và cỏc tài sản vụ
hỡnh khỏc. FDI là một loại hỡnh di chuyển vốn quốc tế trong đó chủ sở hữu
đồng thời là người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng vốn.
Theo khái niệm của Quỹ Tiền tệ quốc tế đưa ra năm 1977 thỡ: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là quá trỡnh đầu tư mà nhà đầu tư thực hiện công việc
đầu tư kinh doanh hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất
nước mỡnh nhằm thu về những lợi ích lâu dài.” Định nghĩa này đề cao mục
đích của các nhà đầu tư_ thu về những lợi ớch lõu dài, nú phõn biệt rừ ràng
đầu tư trực tiếp với đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đầu tư gián tiếp nhà đầu tư
không tham gia vào quá trỡnh quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể định nghĩa: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động
đầu tư do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mỡnh hoặc cựng với
cỏc tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất đinh, trực
tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh. Hoạt động đầu tư trực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status