ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
HOÀNG THỊ LÂM OANH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
Hà Nội – 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------
HOÀNG THỊ LÂM OANH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI
HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 60 31 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Vũ Văn Hùng
XÁC NHẬN CỦA
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................29
2.1. Phương pháp luận................................................................................. 29
2.1.1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng........................................................29
2.1.2. Chủ nghĩa duy vậy lịch sử..............................................................29
2.2. Các phương pháp chủ yếu áp dụng trong luận văn...............................30
2.2.1. Phương pháp trừu tượng hoá khoa học......................................... 30
2.2.2. Phương pháp logic – lịch sử...........................................................30
2.2.5. Phương pháp phân tích và tổng hợp.............................................. 33
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH
TẾ TẠI HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN.....................................35
3.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An...................................... 35
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.......................................................................... 35
3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Diễn Châu............................38
3.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh
Nghệ An.......................................................................................................43
3.3. Đánh giá chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An....................................................................................766
3.3.1. Những kết quả đạt được................................................................. 76
3.3.2. Những hạn chế................................................................................80
3.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế................................................... 81
CHƢƠNG 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TẠI HUYỆN DIỄN
CHÂU, TỈNH NGHỆ AN..............................................................................83
4.1. Bối cảnh mới ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An..................................................................83
4.2. Quan điểm và mục tiêu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Ký hiệu
CCKT
CCKTN
KHCN
KHKT
PTBV
GDP
CNH, HĐH
GTSX
GTTT
VA
GSS
GHH
MTQH
DN
QL
ADB
CNTT
Ngân hàng phát triển Châu Á
Công nghệ thông tin
Văn hóa
Hợp tác xã
Nông thôn mới
Ủy ban Nhân dân
Tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp
Khu công nghiệp
Khu kinh tế
Vệ sinh môi trường
Xây dựng cơ bản
Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á
Tổ chức thương mại Thế giới
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
i
DANH MỤC BẢNG
STT
Bảng
Nội dung
Trang
1
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
1
Hình
Hình 4.1
Nội dung
Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Diễn Châu so với toàn
tỉnh 2020 (%)
ii
Trang
88
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế là một trong những yếu tố quyết định sự ổn định, phát triển
của một đất nước nói chung và của một địa phương nói riêng. Nền kinh tế muốn
phát triển đòi hỏi phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý được định hướng, xác lập và
biến đổi phù hợp với yêu cầu đòi hỏi khách quan. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã xác định nhiệm vụ trọng tâm, quan trọng hàng đầu trong thời gian
tới là: “Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo
đảm an ninh kinh tế. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình
tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng
đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng trưởng
kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng
1
hội đòi hỏi phải nghiên cứu một cách khoa học, đồng bộ và có hệ thống giữa lý luận
và thực tiễn, trên cơ sở thực trạng kinh tế - xã hội của huyện.
Do vậy, học viên lựa chọn đề tài “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế
Chính trị. Đề tài này đáp ứng yêu cầu nội dung các Nghị quyết của Trung ương
Đảng và Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVII, Quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Diễn Châu đến năm 2020; đồng thời cũng
đáp ứng được với những yêu cầu thực tiễn cấp thiết hiện nay của địa phương là tạo
ra một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý để phát huy và khai thác tiềm năng, thế mạnh
của huyện, từ đó phát triển kinh tế toàn diện, vững chắc, từng bước nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện, góp phần đưa kinh tế tỉnh
Nghệ An phát triển phù hợp với nhịp độ chung của nền kinh tế đất nước.
* Câu hỏi nghiên cứu
- Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An cần làm gì và làm như thế nào để đẩy
mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời gian tới?
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, luận văn đi sâu
phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Từ đó đề xuất giải
pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ
An.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về
chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn cấp huyện;
2
Phân tích được thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tại
huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thời gian qua. Từ đó đưa ra những đánh giá
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU; CƠ CỞ LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1. Các công trình nghiên cứu
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về khung lý thuyết cho chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trên bình diện chung nhất có các tác giả Võ Huy Khương (2014),
“Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng đến
2020” , ông cho rằng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế ra đời khi lý thuyết kinh
tế bắt đầu có sự quan tâm đáng kể đến sự thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế. Ngoài
ra, ông dẫn nhận định của Pasinetti (1981) về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một hệ
quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế, trong quá trình tăng trưởng sẽ có ngành đạt đến
mức tới hạn, ngược lại, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách phù hợp sẽ giúp gia
tăng hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào từ đó giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hay,
theo Kuznets S (1961), “Quantitative aspects of the Economic growth of Nations,
IV, Longterm Trends in apital Formation Proportions”, xem cơ cấu kinh tế là một
khung mạch lạc các bộ phận có quan hệ với nhau, mà mỗi bộ phân có vai trò riêng
biệt nhưng có cùng một số mục tiêu chung. Tóm lại, cơ cấu kinh tế được xem là
tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ
lệ nhất định cả về chất và lượng, các bộ phận kinh tế tác động qua lại với nhau trong
cùng một không gian và thời gian nhất định nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.
H. Cherry (1988), Structural transformation, cho rằng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế là các thay đổi về cơ cấu kinh tế và thể chế cần thiết cho sự tăng trưởng liên
tục của tổng sản phẩm quốc dân (GDP), bao gồm sự tích lũy của vốn vật chất và
con người, thay đổi nhu cầu, sản xuất, lưu thông và việc làm. Ông cho rằng, mức
thu nhập bình quân đầu người càng cao thì công nghiệp và dịch vụ càng phát triển,
đồng thời, khi công nghiệp và dịch vụ phát triển thì thì mức thu nhập bình quân đầu
người cũng tăng tương đối.
kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh … cũng là các tác giả tiêu biểu nghiên cứu về cơ
cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, các tác giả đã làm sáng tỏ
những vấn đề lý thuyết cơ bản về Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành. Cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện trên hai nội dung: (1) Số lượng các
ngành kinh tế được hình thành; (2) Mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau
bao gồm mặt số lượng và chất lượng. Một số học giả trên cho rằng xét trên khía
cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì dạng cơ cấu kinh tế ngành được xem là
quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của KHCN, lực lượng sản xuất, phân
công lao động chuyên môn hóa và hợp tác sản xuất.
Nhóm thứ hai, nghiên cứu về tiêu chí phản ánh chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế. Học giả Moe T (1984), The New Economics of Organization, và North D.C
5
(1981), Structure ans Change in Economics History cho rằng cải cách thể chế giúp
cho nền kinh tế phát triển hiệu quả, tạo ra những khuyến khích để các chủ thể kinh
tế tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để
tạo ra một nền thể chế tốt phục vụ hiệu quả cho quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia, địa phương. Các học giả Jaffe A.M (1993),
Geographical Localizaton or Knowledge Spilloves as Evidenced by Patent
Citations và Lucas R (1988), On the Mechanics of Economic Development thì cho
rằng quốc gia có nguồn nhân lực trình độ cao, đóng góp vào việc nâng cao năng
suất lao động từ đó đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế. D Ricardo, (1971),
On the principles or political economy, ans taxation đã khẳng định: “Một quốc gia
sẽ thu được lợi nhuận cao khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế về công nghệ để
sản xuất ra các loại hàng hóa dịch vụ với giá cả thấp và nhập khẩu những loại hàng
hóa, dịch vụ sẽ phải sản xuất với giá cao tại quốc gia đó”. Tức là chuyển dịch cơ cấu
kinh tế có mối liên hệ chặt chẽ với phát triển KHCN, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới
công nghệ là động lực tăng trưởng năng suất, đóng vai trò quan trọng trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
theo các góc nhìn để chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
cũng như bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung. Thứ ba, mỗi
địa phương, lãnh thổ có những đặc điểm phát triển, điều kiện đặc thù, cùng với việc
nghiên cứu về phát triển kinh tế, xã hội, những nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đã dần được chú trọng. Từ việc căn cứ vào các đặc trưng về điều kiện tự
nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên, tình hình phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội,
… các nghiên cứu đã góp phần xây dựng các cách nhìn đa chiều, cập nhật về thực
trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở các địa phương. Đây là nguồn tài liệu
tham khảo trực tiếp, có giá trị đối với đề tài này.
Bên cạnh những kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu, còn có một
số khoảng trống mà tác giả nghiên cứu, mong muốn đạt được:
- Các công trình nghiên đã đưa ra một cách hệ thống các khái niệm, nội dung,
các tiêu chí để đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào chú trọng nghiên cứu về chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn cấp huyện, xây dựng được nội dung và các
tiêu chí đánh giá một cách hệ thống. Đây là những gợi mở nghiên cứu và hướng tiếp
cận cho luận văn.
7
- Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về nâng cao chất lượng, phát triển
kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Diễn Châu, nhưng chưa có công trình nghiên cứu
về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An dưới góc độ
Kinh tế chính trị. Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế đang trong giai đoạn hội
nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng bức
thiết, cạnh tranh như hiện nay đòi hỏi phải có sự thay đổi nhanh hơn nữa trong việc
thực thi chính sách, giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nói riêng.
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn Diễn Châu cùng với những điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội hiện có, nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm phát triển kinh
gian nhất định.
Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan, phản ánh trình độ phát triển của xã hội
và các điều kiện phát triển của một quốc gia. Sự tác động từ chiến lược phát triển
kinh tế, hay sự quản lý của nhà nước có tác động thúc đẩy hay kìm hãm sự chuyển
đổi cơ cấu kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định chứ không thể hoàn toàn
thay đổi nó. Mặt khác, cơ cấu kinh tế lại mang tính xã hội nhất định. Nó được hình
thành khi quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thiết lập một
cách cân đối và sự phân công lao động diễn ra một cách hợp lý.
Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất là xu hướng phổ biến ở các
quốc gia. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người và
tự nhiên trong quá trình tái sản xuất mở rộng ở mỗi giai đoạn, mỗi quôc gia lại khác
nhau do quan hệ sản xuất, đặc trưng văn hóa – xã hội và các yếu tố lịch sử của mỗi
dân tộc. Vì vậy, các nước dù hình thái kinh tế - xã hội giống nhau lại khác nhau
trong việc hình thành cơ cấu kinh tế do đặc trưng khác nhau về điều kiện kinh tế,
chiến lược phát triển của mỗi nước.
Cơ cấu kinh tế hợp lý được hình thành khi chủ thể quản lý nhà nước có khả
năng nắm bắt các quy luật kinh tế khách quan, đánh giá đúng các nguồn lực trong
nước và bên ngoài nhằm có các tác động đến quá trình hình thành cơ cấu kinh tế.
Việc tác động này mang tính định hướng mà không can thiệp vào tính khách quan
vốn có của nó.
Cơ cấu kinh tế là cơ sở hình thành cơ cấu xã hội. Các Mác cũng đã chỉ rõ “…
chính toàn bộ các quan hệ giữa người đảm nhận sản xuất với nhau và giữa họ với tự
nhiên, tức là điều kiện trong đó họ tiến hành sản xuất, toàn bộ những quan hệ đó
3
hợp thành về mặt xã hội của nó” .
Nội dung cơ cấu kinh tế quốc dân có thể xem xét trên các góc độ khác nhau:
2 Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Tập 2. Những vấn đề kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt
Nam. Nxb TT & TT, 2011.
cần chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng, cơ cấu trong nội bộ ngành,
cơ cấu kinh tế đối ngoại… có chuyển dịch một cách toàn diện, đồng bộ như vậy,
mới có hiệu quả mong muốn.
Từ đó, cơ cấu ngành kinh tế được xem là một bộ phận cấu thành của cơ cấu
kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể kinh tế,
biểu hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng
10
giữa các ngành với nhau, được hình thành trong những điều kiện kinh tế - xã hội
nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể. Như vậy, cần phải
hiểu cơ cấu kinh tế theo những nội dung sau:
Một là, số lượng các ngành kinh tế được hình thành. Số lượng các ngành kinh
tế luôn luôn vận động, nó luôn được hoàn thiện theo sự phát triển của phân công lao
động xã hội. Từ đầu thế kỷ XIX, theo nhà kinh tế học Colin Clark, căn cứ vào tính
chất chuyên môn hóa của sản xuất đã chia thành 3 nhóm ngành: Nhóm ngành sản
xuất những sản phẩm dựa trên sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên (gồm
nông nghiệp và khai thác khoáng sản); Nhóm thứ hai, có chức năng gia công, chế
biến sản phẩm có nguồn gốc từ ngành thứ nhất: ngành công nghiệp chế biến. Ngành
thứ ba, khác với hai ngành trên, sản xuất ra sản phẩm vật chất hữu hình, sản xuất ra
sản phẩm vô hình. Đến nay, cách phân loại này vẫn được áp dụng ở phổ biến các
quốc gia. Ngoài ta, còn có nhiều cách phân loại ngành khác…và để thống nhất cách
phân loại ngành, Liên hiệp quốc (UN) thực hiện phân loại ngành kinh tế thành 3 khu
vực: Khu vực I bao gồm các ngành nông-lâm-ngư nghiệp; Khu vực II là các ngành
công nghiệp – xây dựng; Khu vực III là các ngành thương mại – dịch vụ.
Hai là, mối quan hệ tương hỗ giữa các ngành với nhau. Mối quan hệ này bao
gồm cả về mặt số lượng và mặt chất lượng. Mặt số lượng thể hiện ở tỷ trọng (tính
theo GDP, lao động, vốn, …) của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân;
còn mặt chất lượng phản ánh vị trí, tầm quan trọng của từng ngành và tính chất của
sự tác động qua lại giữa các ngành với nhau. Đó có thể là sự tác động trực tiếp
thời kỳ của từng địa phương và trong cả nước bao giờ cũng đứng trước một cơ cấu
của thời kỳ trước để lại. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh lịch sử cụ
thể, hoạt động các qui luật kinh tế đặc thù, các phương thức sản xuất sẽ quyết định
sự khác biệt về cơ cấu kinh tế mỗi vùng, mỗi nước. Cơ cấu kinh tế phản ánh tính qui
luật chung của quá trình phát triển (đó là chuyển từ cơ cấu bất hợp lý sang cơ cấu
hợp lý hơn) nhưng sự biểu hiện cụ thể phải thích ứng đặc thù của mỗi nước, mỗi
vùng về tự nhiên, kinh tế, lịch sử. Không một cơ cấu mẫu chung cho nhiều nước
khác nhau. Mỗi nước, mỗi vùng cần thiết phải lựa chọn một cơ cấu ngành kinh tế
phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển lịch sử.
- Cơ cấu ngành kinh tế luôn biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện.
Sự biến đổi đó gắn liền với sự biến đổi và phát triển không ngừng của tiến bọ
khoa học – kỹ thuật, cách mạng thông tin, … cơ cấu ngành kinh tế luôn vận động,
phát triển và chuyển hóa cho nhau. Cơ cấu ngành kinh tế cũ dịch chuyển dần dần và
hình thành cơ cấu ngành kinh tế mới. Cơ cấu ngành kinh tế mới này ra đời và thay
12
thế cơ cấu ngành kinh tế cũ. Sau đó, cơ cấu ngành kinh tế mới lại không phù hợp và
được thay thế bằng cơ cấu ngành kinh tế mới ở trình độ cao hơn, hoàn thiện hơn. Cứ
như thế, cơ cấu ngành kinh tế vận động biến đổi không ngừng từ đơn giản đến phức
tạp, từ đơn điệu đến đa dạng, từ ít hoàn thiện đén hoàn thiện hơn. Sự vận động biến
đổi đó do tác động của các qui luật kinh tế xã hội, do yêu cầu phát triển văn minh
nhân loại. Cơ cấu ngành kinh tế không chỉ giới hạn ở các quan hệ giữa các ngành và
có tính ổn định mà nó luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế
trong từng thời kỳ.
1.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Quá trình thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày
càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một phạm trù động,
thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu không ổn định.
cũng như phương pháp quản lý tiên tiến trong sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao
hiệu quả sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh
tế. Nội dung chính của quá trình đó là đưa sản xuất nhỏ, lên sản xuất lớn, thực hiện
cách mạng khoa học kĩ thuật và phân công lại lao động xã hội, do đó, nó tác động
tới tất cả các ngành kinh tế. Vấn đề quan trọng là phải hiểu một cách thống nhất bản
chất của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, từ đó vận dụng một cách phù hợp với
điều kiện thực tế của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong nội bộ ngành trong việc thực
hiện nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Điều đó thể hiện ở các
mặt:
Một là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là nhiệm vụ tất yếu, một
quy luật có tính phổ biến đối với mỗi vùng kinh tế, để chuyển từ trạng thái lạc hậu,
kém phát triển và phụ thuộc sang một xã hội phát triển và văn minh.
Hai là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là đảm bảo sự phát triển
kinh tế xã hội nhanh, ổn định và vững chắc, khai thác có hiệu quả các nguồn lực
trong nội bộ các ngành, để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, xây
dựng xã hội văn minh công nghiệp. Mục tiêu này được thực hiện dần từng bước,
trong mỗi giai đoạn đều có những ưu tiên riêng.
Ba là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm những nội dung khác nhau,
có quan hệ chặt chẽ với nhau. Những nội dung cơ bản là là ứng dụng kĩ thuật,
phương pháp quản lý tiên tiến hiện đại đối với tất cả các ngành kinh tế, trước hết là
những ngành chiếm vị trí quan trọng nhất. Xây dựng cơ cấu đa ngành, trong đó sự
14
cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực trong nội bộ ngành được xem xét trong điều
kiện kinh tế mở nhằm phát huy lợi thế của các lĩnh vực trong ngành, nội bộ ngành.
Việc khai thác nguồn lực phát gắn liền với việc bảo tồn, tái tạo và phát triển các
nguồn lực đó, đặc biệt là nguồn lực do tự nhiên mang lại. Phân công lại lao động
theo ngành, theo từng lĩnh vực trong nội bộ ngành.
- Nông nghiệp: (i)Trồng trọt; (ii)Chăn nuôi; (iii)Dịch vụ. Trong đó, sản phẩm
chính các phân ngành: Cây lương thực (lúa, ngô…); cây tinh bột lấy củ, cây CN
ngắn ngày, rau đậu các loại….; trâu, bò, lợn, gia cầm;
- Lâm nghiệp: lâm sản, gỗ khai thác…;
- Ngư nghiệp: thủy sản (tôm, cá…); sản xuất giống …; - Diêm nghiệp (sản
xuất muối).
Trong khu vực này, theo logic xu hướng phát triển ngành theo hướng tiến bộ
hơn, thì xu hướng chuyển dịch trong nội bộ nông nghiệp đó là giảm tỷ trọng ngành
nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành lâm – ngư nghiệp, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt,
tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi nhằm khai thác thế mạnh, tiềm năng của tài nguyên
như đất đai, khí hậu, tài nguyên thủy sản… đồng thời kết hợp chặt chẽ các lĩnh vực
trong nội bộ ngành để hỗ trợ nhau cùng phát triển.
* Nhóm ngành Công nghiệp: bao gồm các ngành công nghiệp và xây dựng.
Các sản phẩm chủ yếu thuộc nhóm ngành xét ở cấp độ địa phương có thể là: (i) Chế
biến thực phẩm từ sản phẩm của ngành nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt); (ii)Cơ
khí, chế tạo (Đóng tàu, phôi thép, nông cụ cầm tay, tôn lợp, nhôm kính…); (iii)Vật
liệu xây dựng (gạch nung, ngói, đá bột, thạch cao…); (iv)Công nghiệp nhẹ (May
mặc, mộc dân dụng, sản xuất đồ nhựa…); (v)Điện, nước sinh hoạt (phân phối điện,
sản xuất nước sinh hoạt). Đối với mỗi địa phương, theo tính chất của sự phân công
lao động xã hội, sẽ có những sản phẩm chủ lực riêng của mỗi vùng, địa phương
tương ứng; Tương tự như vậy, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp chế biến trong cơ cấu GDP thể hiện việc chuyển dịch theo hướng
hiện đại hơn, phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
* Nhóm ngành Dịch vụ: Ngoài việc chuyển dần các dịch vụ có hiệu quả kinh
tế thấp, mang lại giá trị gia tăng không cao. Việc phát triển các ngành dịch vụ mới
như du lịch, bảo hiểm, tài chính ngân hàng…thay thế dần cho các ngành dịch vụ có
hiệu quả kinh tế thấp, lạc hậu, không đảm bảo sự phát triển bền vững được cho là
chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành dịch vụ theo hướng hiện đại hơn. Trong cơ cấu
ngành dịch vụ của một huyện gồm các phân ngành dịch vụ quan trọng và tiêu biểu
những phương hướng phát triển lâu dài, nội dung cơ bản của nó là: Hệ thống các
quan điểm phát triển, các hướng phát triển, các mục tiêu phát triển, các nhiệm vụ và
chính sách lớn cần thực hiện. Do đó, nội dung quy hoạch tổng thể phải xác định và
thể hiện được tầm nhìn dài hạn, đánh giá sát thực những lợi thế so sánh để khai thác
tối đa nguồn lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Những mục tiêu, chỉ
17
tiêu phát triển các ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH phải phù hợp với điều kiện
thực tiễn của huyện, và triển vọng phát triển của các ngành kinh tế trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế, và thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta.
Để xây dựng chiến lược, quy hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cấp
huyệnn, trước hết chính quyền cấp huyện cần xác định, đánh giá nguồn lực, tiềm
năng, lợi thế của địa phương trong việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tiếp đó,
xác định nhu cầu thị trường để đưa ra chiến lược phát triển các ngành kinh tế phù
hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và bối cảnh ảnh hưởng đến chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh cũng như của cả nước. Trên cơ sở chiến lược quy
hoạch tổng thể chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước và của tỉnh, chính quyền
cấp huyện lập quy hoạch tổng thể, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho
từng giai đoạn, phù hợp với điều kiện nguồn lực, tiềm năng phát triển của các ngành
kinh tế. Quy hoạch, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau khi được cấp có thẩm
quyền phê duyệt phải công bố, công khai rộng rãi để nhân dân và các cơ quan liên
quan được biết.
c, Xây dựng cơ chế vận dụng pháp luật và chính sách thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Để khai thác tốt các nguồn lực, lợi thế, tiềm năng nhằm đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế, chính quyền địa phương cấp huyệnc cần xây dựng chính sách
đặc thù trên cơ sở khung pháp lý chung của nhà nước và của tỉnh. Chính sách
khuyến khích thu hút đầu tư vào các lĩnh vực, các ngành kinh tế phải được cụ thể
hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để các nhà đầu tư nghiên cứu, xem