Tác động của tín dụng đến tăng trưởng và lạm phát
Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đã chứng minh rằng trong dài hạn, GDP thực tăng trưởng
như là kết quả của các nhân tố bên cung trong nền kinh tế, như tiến bộ kỹ thuật, tích lũy vốn, và
mức độ và chất lượng của lực lượng lao động. Một số chính sách của chính phủ có thể ảnh
hưởng đến các nhân tố bên cung này, nhưng CSTT nói chung không thể tác động trực tiếp đến
các yếu tố bên cung được ( có tác động gián tiếp chút ít đến bên cung), ít nhất là không làm
tăng khuynh hướng tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, những thay đổi của CSTT có ảnh
hưởng đến hoạt động kinh tế trong ngắn hạn. Chính vì vậy ở hầu hết các nước, nhất là các
nước phát triển sử dụng CSTT với mục tiêu duy nhất là để ổn định giá cả, và qua ổn định giá cả
sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hơn nữa, mức độ tăng, giảm tín dụng là sự biểu hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hay thắt
chặt. Sự gia tăng tín dụng sẽ có tác động làm tăng cung tiền, qua đó tác động đến lạm phát.
ảnh hưởng của tín dụng đến lạm phát và tăng trưởng kinh tế sẽ không giống nhau giữa các
quốc gia, và trong mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tiền tệ thì mức tác động của tín dụng
đến nền kinh tế trong cùng một quốc gia cũng không giống nhau. Tuy nhiên, sự tác động của
CSTT đến lạm phát và tăng trưởng qua các kênh ( tín dụng, lãi suất , giá tài sản tài chính, tỷ
giá) luôn phải có độ trễ nhất định. Kinh nghiệm thực tế đã chứng minh rằng, trung bình mất
khoảng một năm ở Anh và trong các nền kinh tế công nghiệp khác sự thay đổi CSTT có tác
động tối đa đến cầu và sản xuất, và nó mất thêm một năm nữa đối với những thay đổi cầu và
sản xuất có tác động đầy đủ nhất đến tỷ lệ lạm phát. Như vậy, CSTT của Anh và các nước
công nghiệp phát triển phải sau 2 năm mới tác động đến lạm phát.
Từ vấn đề lý thuyết và thực tiễn các nước, cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò của CSTT nói
chung và tín dụng nói riêng đối với tăng trưởng kinh tế và lạm phát, để từ đó có những nhận
định và giải pháp phù hợp hơn.
Đối với trường hợp của Việt Nam, trong ngắn hạn tín dụng cũng có vai trò nhất định đối với
tăng trưởng kinh tế, nhưng ảnh hưởng của tín dụng đối với lạm phát là lớn hơn. Một số nghiên
cứu gần đây về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế và ảnh hưởng của nó đến
CPI , cũng đã đưa ra kết luận rằng: Giả định những nhân tố khác không thay đổi, thì trong giai
đoạn 1990-1999 58,5% thay đổi trong sản lượng là do sự thay đổi thay đổi của các cú sốc tín
dụng, còn trong giai đoạn 2000-2005 là 38,8% thay đổi trong sản lượng là do thay đổi của các
cú sốc tín dụng với độ trễ 6 tháng ( Việt Hà 2006). Nghiên cứu này chỉ ra rằng, cũng với sự phát
cùng kỳ .. đã giảm sức ép vốn vay ngân hàng, tạo điều kiện cho các NH mở rộng các tiện ích
ngân hàng khác, không quá phụ thuộc vào đầu tư tín dụng và có điều kiện chuyển dịch cơ cấu
đầu tư , nâng cao chất lượng tín dụng nhằm tăng năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh trong
xu thế hội nhập. Điều này, cũng phản ánh sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn cho đầu tư phát triển
theo chiều hướng tích cực và đúng với định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ là
phát huy nội lực nhưng cũng tranh thủ tối đa nguồn vốn bên ngoài.
Thêm vào đó, sức ép tăng chỉ số giá tiêu dùng đến nay vẫn còn lớn, tính đến thời điểm
tháng 7/2006 chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,4% so với thàng 12/2005 và CPI bình quân 7 tháng là
7,84% thấp hơn cùng kỳ năm ngoái, nhưng cao hơn mục tiêu đề ra. Để tăng trưởng kinh tế bền
vững, kiểm soát lạm phát ở mức sát mục tiêu và ổn định là rất cần thiết. Vì vậy, trong bối cảnh
hiện nay, khi mà CPI còn chưa ổn định, để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, CSTT hướng vào mục
tiêu kiểm soát lạm phát sẽ hữu hiệu hơn là thông qua tăng trưởng tín dụng để hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Hạ thấp mức lạm phát và duy trì ổn định là điều kiện quan trọng
để ổn định lãi suất thị trường ở mức thấp, qua đó kích thích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng.
Từ những phân tích và nhận định trên có thể thấy tăng trưởng tín dụng ở mức bình quân
17% trong 6 tháng qua là không đáng lo ngại đến tăng trưởng kinh tế và phù hợp với mục tiêu
kiểm soát lạm phát, khi mà vẫn còn nhiều sức ép tăng giá (giá cả chưa ổn định)./.
ThS. Nguyễn thị Kim Thanh