CHƯƠNG XI: THUYẾT TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ
I. SỰ PHÂN LOẠI CÁC QUỐC GIA, TĂNG TRƯỞNG VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ:
1. Định Nghĩa:
Vào cuối những thập kỷ 40 và đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX, sự phân biệt
giàu nghèo giữa các quốc gia trên thế giới quá cách biệt. Các nước giàu bao
gồm các nước Tây – Bắc Âu, Mỹ, Úc, Newzealand và Nhật Bản; còn các
nước nghèo tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Nhưng khoảng
cách này dần dược thu hẹp vào những năm 90 của thế kỷ XX. Song nói chung
các nước ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh vẫn là các nước nghèo.
Sự phân chia các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước kém
phát triển được nhiều nước quan tâm.Sự phân loại trình độ phát triển các quốc
gia chủ yếu dựa trên thu nhập GDP bình quân đầu người. Dựa vào tiêu chí
này, năm 1986 Ngân hàng thế giới (WB) đã phân chia trình độ phát triển các
quốc gia trên thế giới thành 3 nhóm:
Một là, nhóm các nước có thu nhập thấp, là những quốc gia có thu nhập
bình quân đầu người dưới 450 đô/người/năm.
Hai là, nhóm các nước có thu nhập trung bình, là những quốc gia có thu
nhập bình quân đầu người dưới 450 đến 6000 đô/người/năm.
Ba là, nhóm các nước có thu nhập cao, là những quốc gia có thu nhập bình
quân đầu người dưới 6000 đến 10000 đô/người/năm.
2. Đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển:
Hầu hết trước đây là thuộc địa của Tây Âu
Kinh tế nông nghiệp chiếm tới 65 – 75% GDP
Thiếu vốn và công nghệ hiện đại; kỹ thuật sản xuất công nghiệp lạc hậu;
tỷ lệ tăng trưởng GDP thấp.
Ngoại thương kém phát triển, thường là nhập siêu
Dân số tăng nhanh 2,1%/năm. Dân số ở các nước đang phát triển chiếm
¾ dân số thế giới, mật độ dân số cao.
Trang 1
Năm là, thể chế chính trị và quản lý nhà nước: thể chế chính trị càng ổn
định, tiến bộ thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh. Nhà nước càng đề ra được
các đường lối, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn thì tăng trưởng kinh tế
càng nhanh.
b. Phát triển kinh tế:
Theo WB, trong “Sự thách thức của phát triển” năm 1991 cho rằng: Phát
triển kinh tế là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống bao gồm tiêu dùng
vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường.
Cũng theo WB trong “Báo cáo về phát triển năm 1992 – Phát triển và môi
trường” cho rằng: Phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi của nhân dân,
nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe và bình đẳng về cơ
hội.
Nhà kinh tế học E. Wayne Nafziger trong tác phẩm “Kinh tế học của các
nước đang phát triển” thì cho rằng: Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh
tế theo những thay đổi về phân phối sản lượng và cơ cấu kinh tế.
Hiện nay người ta định nghĩa khái quát phát triển kinh tế như sau: Phát
triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đi kèm với sự tiến bộ của cơ cấu
kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống.
§ Như vậy, phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất là, sự tăng trưởng là sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội và thu
nhập bình quân đầu người.
Thứ hai là, sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng: Tỷ trọng ngành nông
nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng
tăng trong tổng sản phẩm quốc dân.
Thứ ba là, đời sống của nhân dân ngày càng cao về phúc lợi xã hội, tiêu
chuẩn sống, giáo dục, sức khỏe và sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội.
Mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế mà cơ
bản hơn là phát triển kinh tế bền vững.
Trang 3
Phát triển kinh tế phụ thuộc các yếu tố sau:
Robert Solow va Danison.
Trang 4
Giai đoạn ba: Cuối những năm 60 đến cuối những năm 70 của thế kỷ XX,
giai đoạn này là sự hình thành của thuyết “Tư bản nhân lực” với mô hình tăng
trưởng của Theodore Schultz.
Giai đoạn bốn: từ đầu những năm 80 của thế kỷ đến nay. Giai đoạn này là
sự thống trị của thuyết “Thu nhập tăng dần” còn gọi là thuyết “Tăng trưởng
mới” với mô hình tăng trưởng của Romo Rucas và Scost.
Nhìn về xu hướng phát triển thì thuyết “Tích lũy tư bản” có xu hướng ngày
càng giảm hiệu lực; thuyết “Kỹ trị” ngày càng có ảnh hưởng; thuyết “Tư bản
nhân lực” dần dần thâm nhập và hòa tan vào các lý thuyết khác; còn thuyết
“Tăng trưởng mới” của thu nhập tăng dần với việc nhấn mạnh tri thức đặc thù
và sự tích lũy tư bản nhân lực chuyên môn hóa đang dần chiếm ưu thế và trở
thành dòng chính trong lý luận về tăng trưởng kinh tể.
III. MỘT SỐ LÝ THUYẾT TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN:
1. Lý thuyết cất cánh của W.W.Rostow:
Lý thuyết này do nhà kinh tế học, giáo sư Walter Wiliam Rostow (người
Mỹ) đưa ra. Lý thuyết cất cánh được trình bày trong tác phẩm “Các giai
đoạn tăng trưởng kinh tế” (The Stages of Economic growth – 1961) nhằm
nhấn mạnh các giai đoạn tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Theo ông,
quá trình tăng trưởng kinh tế phải trải qua năm giai đoạn:
a. Giai đoạn xã hội truyền thống:
Ở giai đoạn này năng suất lao động thấp do lao động chủ yếu bằng công cụ
thủ công lạc hậu, vật chất thiếu thốn; hoạt động xã hội kém linh hoạt; nông
nghiệp giữ vị trí thống trị, sản xuất mang nặng tính tự cung, tự cấp; nền sản
xuất xã hội kém phát triển.
b. Giai đoạn chuẩn bị cất cánh:
Trong giai đoạn này tầng lớp chủ xí nghiệp có đủ khả năng thực hiện đổi
mới, phát triển cơ cấu hạ tầng, đặc biệt là giao thông; xuất hiện các nhân tố
người tăng cao. Theo W.W.Rostow thì nước Mỹ cần khoảng 100 năm để
chuyển từ giai đoạn trưởng thành sang giai đoạn cuối cùng này.
*Hạn chế của Rostow:
-Tăng trưởng là quá trình liên tục chứ không phải đứt đoạn nên không thể
phân chia thành những giai đoạn chính xác như vậy. Mặt khác, tăng trưởng và
phát triển ở một số nước không nhất thiết phải giống phân chia 5 giai đoạn
như trên. Câu hỏi đặt ra là :”Tại sao cất cánh lại xảy ra ở nước này mà không
xảy ra ở nước khác ?”, lý thuyết chưa giải thích được điều đó.
- Cách tiếp cận không lấy tính đặc thù của mỗi nước làm điểm xuất phát.
Trang 6
*Nhận xét: Mô hình của Rostow mặc dù có nhiều hạn chế về cơ sở của sự
phân đoạn trong phát triển kinh tế cũng như sự nhất quán về đặc trưng của
mỗi giai đoạn so với thực tế, nhưng đứng trên góc độ mối quan hệ giữa sự
chuyển dịch cơ cấu với quá trình phát triển thì mô hình đã chỉ ra 1 sự lựa chọn
hợp lý về dạng cơ cấu ngành tương ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định
của mỗi quốc gia.
2. Lý thuyết về “cái vòng luẩn quẩn” và “cú huých” từ bên ngoài:
- Samuellson cho rằng 1 quốc gia muốn đạt được tới sự tăng trưởng &
phát triển cần phải có 4 nhân tố: nhân lực, tài nguyên, tư sản, kĩ thuật.
Trong điều kiện cụ thể của các quốc gia nghèo thi cả 4 nhân tố này đều
ở trong tình trạng khan hiếm & chất lượng thấp.
Về nhân lực: Ở các nước nghèo, tuổi thọ trung bình thấp, tỉ lệ người
biết chữ thấp, mức sống thấp, chỉ số HDI thấp. Lao động tập trung quá
nhiều ở trong ngành nông nghiệp, tình trạng thất nghiệp trá hình cao. Vì
vậy, những nước này cần phải đầu tư cho hệ thống y tế giáo dục, đa dạng
hoá việc làm ở nông thôn để khắc phục tình trạng thất nghiệp trá hình.
Về tài nguyên: Ở các nước nghèo, tài nguyên cũng nghèo, lại phân chia
cho một số dân đông đúc, khả năng phát huy được hiệu quả kinh tế của tài
nguyên là rất thấp. Tài nguyên quan trọng nhất đối với những nước này là
tài nguyên đất nông nghiệp. Vì vậy, cần có chế độ canh tác & sử dụng hợp