THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CẢNG HẢI PHÒNG - Pdf 67

1
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN Ở CẢNG HẢI
PHÒNG
1. Thực trạng nguồn lực tại Cảng Hải Phòng.
1.1. Hệ thống cơ sở vật chất thiết bị của Cảng.
Là một doanh nghiệp lớn trực thuộc tổng công ty hàng hải Việt Nam
nên Cảng Hải phòng có hệ thống cơ sở vật chất rộng lớn và đa dạng được
phân bố theo các khu vực cụ thể. Các khu vực của Cảng Hải Phòng được
phân bố theo lợi thế về cơ sở hạ tầng, giao thông đường sắt – đường bộ -
đường thủy và được lắp đặt các thiết bị phù hợp với từng loại hàng hóa, đáp
ứng và thỏa mãn nhu cầu vận chuyển bằng nhiều phương tiện.
- Hệ thống cầu bến: Toàn Cảng có 21 cầu tàu với tổng chiều
dài 3.567 m, đảm bảo được an toàn với độ sâu trước bến từ 8,4 đến
8,7 m.
Tên / Số hiệu Dài (mét) Sâu (mét) Loại Tàu / Hàng
Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng
Diệu: 11 cầu tàu
1.717 -8.4 BH, rời, bao,
container
Xí nghiệp xếp dỡ Chùa
Vẽ: 5 cầu tàu
848 -8.5 Bách hóa, container
Bến, phao
Vùng neo Hạ Long: 7
điểm neo
-14 Bách hoá, container
Bến nổi Bạch Đằng: 3 bến
phao
-5 Bách hoá, container
Vịnh Lan Hạ: 3 bến phao -10 Bách hoá, hàng
lỏng

Tàu lai dắt, hỗ trợ 08 510 - 3.200 CV
Cần cẩu giàn (QC) 06 35.6 T
Cần cẩu giàn bánh lốp (RTG) 12 35.6 T
2
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
2
3
Trước sự phát triển mạnh mẽ của Cảng Hải Phòng trong mấy năm gần
đây hệ thống cơ sở vật chất thiết bị tại Cảng chưa thể đáp ứng được nhu cầu
của Cảng. Hiện tượng quá tải tại các cầu cảng bến bãi là hiện tượng phổ biến
tại các cảng thuộc Cảng Hải Phòng. Cảng chính Hoàng Diệu chạy dài gần 2
km với 11 cầu tàu vốn là cảng hàng rời lớn nhất trong hệ thống cảng biển Hải
Phòng từ đầu năm đến nay đang trong tình trạng ứ đọng hàng. Hiện cảng
Hoàng Diệu phải cõng trên 210 nghin tấn hàng, trong khi sức chứa tối đa của
nó chỉ có 160 nghìn tấn. Các kho bãi chật cứng phôi thép, thép tấm, máy móc
thiết bị, xe chuyên dụng... Cảng container Chùa vẽ cũng khó tìm nổi khu vực
trống để xếp hàng. Từ đầu năm đến nay cảng phải lưu bãi 14-15 nghìn TEU,
vượt xa so với công suất thiết kế tối đa 12,5 nghìn TEU... Còn tại cảng Vật
Cách từ đầu năm cảng đã phải ra quy định các tàu muốn vào cảng làm hàng
thì đều phải đăng ký trước bởi bến cảng có năng lực xếp dỡ đạt 1,7 – 1,8 triệu
tấn/ năm này đang bị dồn ứ các loại hàng nông sản, phân bón. Từ đầu năm tới
nay, lượng hàng hóa thông qua cảng tăng 30% so cùng kỳ năm trước.
Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng quá tải trên chính là do lượng tàu
tăng nhanh và lượng hàng hóa tăng đột biến. Nếu năm 2003 lượng hàng hóa
qua Cảng Hải Phòng chỉ đạt 11,9 triệu tấn thì năm 2006 đã lên tới 16,5 triệu
tấn và năm 2007 lượng hàng hóa tăng đột biến 24,1 triệu tấn (tăng 46%).
Trước những tình trạng đó Cảng Hải Phòng đã triển khai nhiều dự án
đầu tư trọng điểm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao của sản lượng hàng
hóa thông qua cảng. Tổng mức đầu tư trong 6 tháng đầu năm 2008 đã triển
khai đạt 157,2 tỷ đồng tăng 40,2 % so với cùng kỳ năm trước. Các dự án

cáp STP, cáp UTP, mạng không dây 54Mbps (wireless), cáp đồng với
9 máy chủ 315 máy trạm, thiết bị mạng Cisco.
- Hệ thống camera: 4 hệ thống lưu trữ và xử lý hình ảnh tại văn
phòng Cảng, XNXD Hoàng Diệu, XNXD Chùa Vẽ, Phòng Quân sự
bảo vệ, 22 máy camera loại quay quét lắp đặt trong phạm vi toàn
cảng.
- Công nghệ và thiết bị : bao gồm trung tâm sử lý số liệu đó là
một máy chủ song sinh với bộ sử lý HP External Storage, cùng với hệ
thống máy tính và các trang thiết bị (06 máy chủ và 300 máy trạm,
thiết bị mạng).
- Hệ thống phần mềm :
+ Hệ thống quản lý bến container Chùa Vẽ (CTMS).
+ Hệ thống thông tin quản lý (MIS-G1).
+ Hệ thống quản lý tài chính kế toán (MIS-G2).
+ Hệ thống quản lý nhân sự - tiền lương (MIS-G3).
+ Hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử EDI.
+ Hệ thống cấp phép, kiểm soát người và phương tiện ra vào
cảng.
+ Hệ thống quản lý văn thư và điều hành qua mạng.
5
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
5
6
Trong tiến trình hiện đại hóa Cảng thì việc đầu tư vào hệ thống
công nghệ thông tin là rất cần thiết. Chỉ tính 6 tháng đầu năm 2008
Cảng đã đầu tư 2,279 tỷ đồng vào công nghệ thông tin. Đây là một tín
hiệu rất đáng mừng đối với sự phát triển của Cảng. Đầu tư vào công
nghệ thông tin sẽ giúp Cảng nâng cao được công tác quản lý trong
Cảng, ngoài ra còn giúp ta có được những thông tin chính xác về thị
trường, khách hàng... từ đó đưa ra những quyết định hợp lý phù hợp

Cảng đã không ngừng khuyến khích công nhân viên học tập, trau dồi
nghiệp vụ, nâng cao trình độ tay nghề, Cảng sẵn sàng tạo điều kiện
cho đội ngũ quản lý học thêm văn bằng hai đại học hoặc cao đẳng.
Cảng còn liên hệ với các trường đại học, cao đẳng tổ chức các lớp bồi
dưỡng nhằm nâng cao kiến thức quản lý kinh tế cũng như kiến thức
về kỹ thuật cho cán bộ nhân viên mình.
1.4. Thực trạng nguồn vốn tại Cảng Hải Phòng.
Nguồn lực tài chính là một nhân tố quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc mua sắm máy móc
thiết bị, tài sản cố định, vật liệu cho sản xuất kinh doanh đến khi tạo ra
sản phẩm theo lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình.
Cảng Hải Phòng là doanh nghiệp trực thuộc tổng công ty hàng
hải Việt Nam. Hình thức hoạt động độc lập tự phát triển, tự hạch toán
trang trải đảm bảo được lợi nhuận do tổng công ty giao.
7
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
7
8
Nguồn lực tài chính tại Cảng ảnh hưởng lớn tới việc đầu tư mua
sắm máy móc thiết bị, tài sản cố định. Cảng đã không ngừn tăng
cường công tác tài chính theo đúng chế độ quy định của nhà nước.
Đây là sự đòi hỏi thường xuyên liên tục trong suốt quá trình sản xuất
kinh doanh hiện nay.
Vấn đề vốn để đầu tư cho máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh luôn là vẫn đề lớn với Cảng, nó đảm bỏa
yêu cầu kinh doanh đặt ra.
- Tình hình vốn chủ sở hữu tại Cảng năm 2007
Đơn vị : tỷ đồng.
Chỉ tiêu 2005 2006 2007
Vốn điều lệ 599,68 765,25 1.076,47

Nhập 4,088 MT 5,199 MT 6,218 MT
Xuất 2,562 MT 2,825 MT 2,684 MT
Nội địa 3,603 MT 3,127 MT 3,398MT
9
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
9
10
* Container 398,000 TEUs 464,000 TEUs 683,689 TEUs
Số tàu đến 1.675 2.056 2.452
(MT : triệu tấn, 1 TEUs= 0,0081303 triệu tấn).
Tổng sản lượng= Nhập + xuất + nội địa.
Nhìn vào bảng trên ta thấy được tổng lưu lượng hàng hóa thông qua
cảng có xu hướng tăng lên rõ rệt. Năm 2008 (tổng lưu lượng hàng hóa là
13,800 MT) tổng lưu lượng hàng hóa tăng so với 2007 là 12,19% và năm
2006 là 23,76% cho thấy Cảng đang từng bước phát triển rất vững chắc, bên
cạnh đó là số container hoạt động trong năm cũng có xu hướng tăng cao, sản
lượng container năm 2008( sản lượng container là 790,000 TEUs) tăng gần
gấp đôi so với năm 2006 (1,7 lần).
- Về hoạt động đầu tư phát triển :
• Trong những năm vừa qua Cảng Hải Phòng không ngừng đầu tư vào nâng cấp
cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại, phù hợp với các phương thức vận tải
và thương mại quốc tế. Hiện nay với gần 3.000 mét cầu tàu và các khu chuyển
tải, trên 600.000 m2 bãi chứa hàng hiện đại và 51.000 m2 kho tiêu chuẩn,
Cảng cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hoá của miền Bắc và
khu vực Nam Trung Quốc, Bắc Lào.
• Cảng Hải Phòng ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc
tế ISO 9001: 2000 trong quản lý và khai thác Cảng biển, đánh dấu một sự
thay đổi lớn về phương pháp điều hành quản lý sản xuất kinh doanh của Cảng
và mang một ý nghĩa to lớn gắn liền với sự phát triển của Cảng.
• Trong năm 2007, Cảng Hải Phòng đã tiến hành nâng cấp cải tạo giai đoạn 2

- 20,813 36,000 37,000
- Doanh thu khai thác cầu bến
- 16,738 20,000 21,000
- Doanh thu khai thác tàu lai
- 21,958 30,000 31,000
- Doanh thu từ hoạt động khác
- 35,338 63,100 61,500
2. Lãi, lỗ hoạt động khai thác Cảng
- 16,303 26,500
11
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
11
12
Nhìn vào bảng trên ta thấy được doanh thu từ hoạt động khai
thác Cảng biển của Cảng Hải Phòng có những sự tăng trưởng đáng
kể. Do sự đầu tư khá mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, hệ thống trang thiết
bị hiện đại giúp cho hoạt động khai thác biển trở nên dễ dàng hơn và
đạt được hiệu quả cao hơn. Đặc biệt nhờ có hệ thống công nghệ hiện
đại đã giúp ích rất nhiều cho hoạt động bốc dỡ hàng hóa, tạo điều kiện
cho sự nhảy vọt về doanh thu từ hoạt động bốc xếp (năm 2007 bằng
133,22% năm 2006).
+ Năm 2008 Tổng doanh thu của Cảng Hải Phòng đạt 858,9 tỷ
đồng, tăng 24,3% so với năm 2007. Cảng hoàn thành xuất sắc các chỉ
tiêu nộp ngân sách Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn Cảng, đời sống người lao động được ổn định và cải thiện với
mức thu nhập bình quân 5,04 triệu đồng/người/tháng.
+ Đồng thời, Cảng hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu nộp ngân
sách Nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn Cảng, đời
sống người lao động được ổn định và cải thiện với mức thu nhập bình
quân 5,04 triệu đồng/người/tháng, tăng 17,2% so với thực hiện năm

904
Lợi nhuận gộp về bán
hàng và cung cấp dịch vụ
33,2
23
55,4
51
69,5
6
Doanh thu hoạt động tài
chính
39,4
6
18,8
25
23,3
17
Chi phí tài chính 3,98
3
2,97
9
35,0
6
Chi phí quản lý doanh
nghiệp
31,7
42
39,1
65
35,6

97
Nộp thuế TNDN 3,90
7
7,43
3
4,98
Lợi nhuận sau thuế
TNDN
36,9
3
28,4
1
20,3
2
13
Kế hoạch 47B Đại học KTQD
13
14
Doanh thu của Cảng có xu hướng tăng lên rõ rệt thể hiện sự cố
gắng trong sản xuất kinh doanh của Cảng. Đặc biệt năm 2007 có sự
tăng trưởng rất đáng khích lệ ( tăng gần gấp rưỡi năm 2006), tuy
nhiên ta lại thấy rằng lợi nhuận sau thuế năm 2007 lại giảm đáng kể
so với 2 năm trước, nguyên nhân chủ yếu là do khoản chi phí về tài
chính năm 2007 tăng lên rất nhiều so với năm 2006. Nếu như trong
năm 2006 chi phí này chỉ là 2,979 tỷ đồng thì năm 2007 khoản chi phí
này lên tới tận 35,06 tỷ. Sở dĩ như vậy là do năm 2007 là một năm có
nhiều thay đổi đối với Cảng, trong năm này Cảng mới quyết định
chuyển từ công ty nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên với những thay đổi trong phương thức kinh doanh cùng với
việc gia tăng trong khấu hao tính vào chi phí kinh doanh. Những tác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status