Ảnh hưởng của cấu trúc thuế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia đang phát triển ở châu á – thái bình dương - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM ANH KHOA

ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC THUẾ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG
PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM ANH KHOA

ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC THUẾ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ CỦA CÁC QUỐC GIA ĐANG
PHÁT TRIỂN Ở CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG

Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. NGUYỄN HỒNG THẮNG

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019

CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT................................................................ 6
2.1. Cơ sở lý thuyết ........................................................................................... 6
2.1.1.

Khái niệm TTKT ................................................................................. 6

2.1.2.

Cơ cấu thuế .......................................................................................... 7

2.1.3. Lý thuyết giải thích tác động của cơ cấu thuế đến TTKT ..................... 8
2.2. Tổng quan nghiên cứu thực nghiệm có liên quan ...................................... 10
CHƯƠNG 3.

DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................... 27


3.1. Mô hình hồi quy ....................................................................................... 27
3.2. Kỳ vọng dấu ............................................................................................. 28
3.2.1. Cơ cấu thuế ........................................................................................ 28
3.2.2. Lạm phát ............................................................................................ 30
3.2.3. Độ mở thương mại ............................................................................. 31
3.2.4. Tăng trưởng dân số ............................................................................ 33
3.2.5. Đầu tư nội địa .................................................................................... 34
3.2.6. Chi tiêu chính phủ .............................................................................. 35
3.3. Dữ liệu nghiên cứu ................................................................................... 38
3.4. Phương pháp phân tích ............................................................................. 39
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................... 42
4.1. Mô tả sơ bộ mẫu nghiên cứu..................................................................... 42
4.2. Kiểm tra đa cộng tuyến............................................................................. 47

of Phương pháp moment tổng
quát

Organization for Economic Tổ chức Hợp tác và Phát
OECD

Co-operation

and triển Kinh tế

Development
OLS

Ordinary least square

Phương pháp hồi quy bình
phương bé nhất

TTKT

Economic growth

Tăng trưởng kinh tế

VIF

Variance inflation factor

Hệ số phóng đại phương sai


Luận văn nghiên cứu tác động của cơ cấu thuế đến tăng trưởng kinh tế của 38
quốc gia đang phát triển ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn 2000 –
2016, trong đó cơ cấu thuế được luận văn xác định theo hai loại thuế chính là thuế tiêu
dùng và thuế thu nhập trong tổng số thu thuế mà chính phủ thu được. Luận văn áp
dụng phương pháp tiếp cận mà các nghiên cứu trước đây như Petru – Ovidiu (2015)
và Yanikkaya và Turan (2018) đã dùng khi nghiên cứu tác động của cơ cấu thuế đến
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Sau khi sử dụng phương pháp GMM để khắc
phục nội sinh, tự tương quan, phương sai thay đổi để ước lượng mô hình nghiên cứu
giải thích tác động của cơ cấu thuế đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, luận văn
nhận thấy rằng cả hai đại diện cho cơ cấu thuế là thuế thu nhập và thuế tiêu dùng đều
có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ở mức ý nghĩa
thống kê 1%. Kết quả này cho thấy rằng các quốc gia càng thu thuế thu nhập hoặc
thuế tiêu dùng thì đều làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia này. Đồng
thời, so với thuế thu nhập, thuế tiêu dùng sẽ có tác động mạnh mẽ hơn đến tăng
trưởng kinh tế của các quốc gia. Điều này ngụ ý rằng việc gia tăng thuế suất có liên
quan đến quyết định tiêu dùng của người dân sẽ làm cho tăng trưởng kinh tế giảm
mạnh hơn so với việc thay đổi thuế thu nhập của quốc gia. Ngoài ra, luận văn cũng tìm
thấy các tác động đáng kể của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia. Cụ thể, các quốc gia càng mở cửa thương mại, có mức đầu tư nội địa
càng cao và càng chi tiêu chính phủ nhiều thì sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngược
lại, các quốc gia có lạm phát càng cao và có dân số tăng trưởng càng cao thì sẽ suy
giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, cơ cấu thuế, thuế thu nhập, thuế
tiêu dùng, GMM, Châu Á – Thái Bình Dương.


Abstract
The thesis examines the impact of tax structure on the economic growth of 38
developing countries in the Asia-Pacific region for the period 2000 to 2016, in which


Chủ đề xem xét yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế (TTKT) của một quốc gia
và các yếu tố có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhận được nhiều sự thu hút và quan
bởi bởi các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách của các quốc
gia trên toàn thế giới. Đặc biệt các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng thuế là yếu tố
quan trọng có ảnh hưởng đến các quyết định của các quốc gia bởi vì thuế có tác động
đáng kể đến việc làm, tiết kiệm và đầu tư (Yanikkaya và Turan, 2018). Chẳng hạn như,
thuế đánh vào thu nhập của lực lượng lao động (thuế thu nhập cá nhân) có thể làm
giảm động cơ để làm việc cũng như quyết định đầu tư của người dân trong quốc gia
khi thu nhập thực mà họ nhận được đã bị suy giảm do thuế thu nhập cá nhân, điều
này cho thấy rằng thuế có khả năng bóp méo các quyết định của người dân. Cho nên,
các nghiên cứu trước đây lập luận rằng chính sách thuế có thể là một trong những
chính sách hoặc yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến các hoạt động của nền kinh tế
cũng như vấn đề TTKT của các quốc gia (Yanikkaya và Turan, 2018). Đồng thời, theo
mô hình lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển được đề xuất bởi Solow (1956), chính sách
tài khóa (chẳng hạn như sự thay đổi về thuế suất) được ghi nhận rằng không có ảnh
hưởng đến tốc độ TTKT của một quốc gia trong dài hạn. Trong mô hình lý thuyết này,
chỉ có yếu tố công nghệ là được cho rằng có ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng trong thu
nhập bình quân đầu người của một quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
nhiều mô hình lý thuyết kinh tế đã được phát triển để giải thích các yếu tố quyết định
TTKT cũng như các yếu tố thúc đẩy TTKT ở một quốc gia và thường được gọi là các
mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh (Barro, 1990; Barro và Sala – I – Martin, 1992;
King và Rebelo, 1990; Lucas, 1990; Rebelo, 1991). Các mô hình lý thuyết này đều nhấn
mạnh tầm quan trọng của chính sách tài khóa trong việc thúc đẩy TTKT của quốc gia.
Từ khi các mô hình lý thuyết này đề cập đến vai trò của chính sách tài khóa, thì chủ đề
về chính sách tài


2


3

(2012) đã kết luận rằng các thành phần của thuế có các ảnh hưởng khác
biệt đến TTKT của các quốc gia.
Từ đây có thể thấy rằng, cơ cấu thuế có ảnh hưởng đáng kể đến TTKT của các
quốc gia, cũng như chủ đề về cơ cấu thuế nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà
nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới. Nhưng các đề tài nghiên
cứu này chỉ tập trung ở các quốc gia đã phát triển, hầu như các nghiên cứu ở các
quốc gia đang phát triển thì còn tương đối khan hiếm. Cho nên, đó chính là lý do học
viên lưa chọn đề tài “Ảnh hưởng của cấu trúc thuế đến TTKT của các quốc gia đang
phát triển ở Châu Á – Thái Bình Dương” làm đề tài luận văn thạc sỹ.

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn có hai mục tiêu như sau:
Mục tiêu đầu tiên của luận văn là nhằm làm rõ tác động của cơ cấu thuế đến
TTKT của các quốc gia đang phát triển thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Mục tiêu thứ hai của luận văn là từ các kết quả thu được, đưa ra
các hàm ý chính sách dành cho các nhà hoạch định chính sách trong
việc thúc đẩy TTKT bằng cách sử dụng các chính sách thuế phù hợp.
1.3.

Câu hỏi nghiên cứu

Để khám phá mục tiêu nghiên cứu, luận văn tiến hành đi tìm các
câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Các thành phần của thuế có tác động đáng kể đến TTKT hay

1.5.

Phương pháp nghiên cứu

Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu và giải quyết mục tiêu nghiên cứu, luận
văn đề cử hai phương pháp hồi quy hai bước và hồi quy GMM để ước lượng mô
hình nghiên cứu giải thích tác động của cơ cấu thuế đến TTKT của các quốc gia
do có thể giải quyết được vấn đề nội sinh có tồn tại trong mô hình nghiên cứu.
Tuy nhiên, để quyết định lựa chọn phương pháp hồi quy nào, luận văn tiến
hành kiểm tra tự tương quan và phương sai thay đổi. Trong trường hợp có tự tương
quan hoặc/và có phương sai thay đổi thì phương pháp hồi quy GMM sẽ được sử dụng
do có thể khắc phục các hiện tượng tự tương quan hoặc, phương sai thay đổi


5

và nội sinh. Ngược lại, nếu không có tự tương quan và không có phương
sai thay đổi thì luận văn sử dụng phương pháp hồi quy hai bước.

1.6.

Bố cục đề tài

Luận văn dự kiến bao gồm 05 chương như sau:
Chương 1. Mở đầu đề tài
Chương 2. Khung lý thuyết
Chương 3. Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu
Chương 4. Kết quả và thảo luận nghiên cứu
Chương 5. Kết luận và hàm ý chính sách
1.7.

nhập bình quân đầu người được đo lường bởi tổng sản lượng quốc nội
(giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi nền kinh tế của
một quốc gia trong một năm nhất định) chia cho tổng dân số của quốc gia.
Tuy nhiên, Kuznets (1974) cho rằng không nên định nghĩa tăng trưởng
trong một phạm vi hạn hẹp. Cụ thể, tác giả cho rằng không nên giới hạn phạm vi
định nghĩa TTKT trong khuôn khổ sản lượng hoặc thu nhập, mà nên bao gồm
những thay đổi trong cơ cấu của nền kinh tế và những thay đổi lớn trong điều
kiện xã hội và thể chế. Trong đó những thay đổi này sẽ làm kích thích TTKT bằng
cách tăng sản lượng hoặc thu nhập mà người dân trong nền kinh tế đạt được.
Trong công trình nghiên cứu của tác giả, tác giả đã xác định TTKT của một quốc
gia như là một sự gia tăng lâu dài trong khả năng cung cấp hàng hóa kinh tế ngày
càng đa dạng hơn cho người dân trong nền kinh tế, sự gia tăng trong khả năng
cung cấp này sẽ dựa vào công nghệ tiên tiến, chất lượng thể chế.


7

Về cơ bản, theo Bowden (1992), TTKT của bất kỳ quốc gia nào phải
được xây dựng dựa trên nền tảng về sự phát triển một lực lượng lao động tốt
hơn (sử dụng lao động tốt hơn, giáo dục tốt hơn, thái độ và kỹ năng tốt hơn)
và đạt được vốn nhiều hơn (xây dựng thêm nhà máy, và sản xuất hoặc nhập
khẩu nhiều máy móc và thiết bị tiên tiến hơn). Ở góc độ truyền thống, có ba
thành phần chính của TTKT. Các thành phần này bao gồm sự tích lũy vốn, tăng
trưởng trong lực lượng lao động và việc cải thiện trình độ công nghệ kỹ thuật.
Tích lũy vốn là quá trình tăng vốn trong nền kinh tế, trong khi đó tăng trưởng
lực lượng lao động nhìn chung xảy ra khi tổng dân số của quốc gia gia tăng.
Mặt khác, việc cải thiện trình độ công nghệ kỹ thuật của một quốc gia thì được
xem như là sự gia tăng trong kiến thức khoa học dưới hình thức phát minh
hoặc đổi mới có liên quan đến cả vốn vật chất và vốn con người.



2.1.3. Lý thuyết giải thích tác động của cơ cấu thuế đến TTKT
Có nhiều lý thuyết giải thích ảnh hưởng tác động của thuế đến
TTKT của các quốc gia, nhưng nhìn chung có 04 lý thuyết giải thích tốt
mối quan hệ giữa hai biến số này. Theo đó các lý thuyết này bao gồm lý
thuyết tăng trưởng cổ điển, lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, lý thuyết
trường phái Keynes và lý thuyết thu thuế truyền thống.
Đầu tiên, luận văn sẽ trình bày đến lý thuyết của Keynes. lý thuyết Keynes
là một trong các lý thuyết giải thích tác động của thuế đến TTKT. Trong khuôn khổ
Keynes cổ điển, các chính sách tài khóa làm xáo trộn tiêu dùng và tiết kiệm cá
nhân thông qua thu nhập khả dụng và tỷ suất sinh lợi. Theo đó, việc giảm thuế sẽ
thúc đẩy tiêu dùng cá nhân bằng cách tăng thu nhập khả dụng. Tuy nhiên, việc
giảm thuế tạm thời sẽ có tác động không đáng kể đến tiêu dùng cá nhân theo giả
thuyết thu nhập thường xuyên. Trong thuyết cân bằng Ricardo, việc giảm thuế sẽ
không có tác động nào lên tiêu dùng khi người tiêu dùng tiết kiệm hơn là chi tiêu
trong trường hợp kỳ vọng thuế tăng lên trong tương lai.
Việc gia tăng tài trợ chi tiêu Chính phủ thông qua việc thu thuế cao hơn có
thể làm gia tăng các tác lực gây lạm phát, tác động tiêu cực đến sự tích lũy vốn.


9

Việc này bắt nguồn từ thực tế rằng nó liên hệ với sự không chắc chắn lớn hơn
với lợi tức tiết kiệm hiện tại cũng như với các mức giá tương đối trong tương
lai vốn quan trọng đối với lợi tức đầu tư (ROI). Tỷ lệ lạm phát cao dẫn đến lãi
suất thực bất lợi đối với người gửi tiết kiệm, làm giảm dòng tiết kiệm, hạn chế
đầu tư. Tuy nhiên, nhờ tác dụng của hiệu ứng Tobin-Mundell, việc lạm phát
được dự đoán ở mức cao sẽ làm thay đổi hạng mục đầu tư từ số dư tiền thực
và sang vốn thực, từ đó khuyến khích đầu tư và vì thế thúc đẩy TTKT.
Lý thuyết cuối cùng mà luận văn trình bày chính là lý thuyết thu thuế truyền


Kneller và các cộng sự (1999) đã tiến hành nghiên cứu tác động của cơ cấu
thuế và chi tiêu chính phủ đến TTKT của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn
1970 – 1995. Trong đó mẫu nghiên cứu của tác giả bao gồm 22 quốc gia thuộc
nhóm quốc gia OECD. Hơn thế nữa, mô hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế
bóp méo các yếu tố tăng trưởng của quốc gia (bao gồm thuế thu nhập, thuế tài
sản) và thuế không bóp méo (thuế tiêu dùng) để đại diện cho cơ cấu thuế của các
quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu này, các tác
giả đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người, cũng sử dụng đầu
tư nội địa, tăng trưởng lực lượng lao động, thặng dư ngân sách để đại diện cho
các biến độc lập giải thích TTKT của các quốc gia. Bằng cách sử dụng phương
pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng các yếu tố
đại diện cho cơ cấu thuế có các tác động đến TTKT của các quốc gia ở mức ý
nghĩa thống kê 10%. Tuy nhiên tác động cụ thể của các loại thuế thì có sự khác
biệt. Cụ thể thuế bóp méo đến các yếu tố tăng trưởng có tác động ngược chiều
đến TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Ngược lại, thuế không
bóp méo thì lại có mối tương quan cùng chiều với TTKT nhưng lại không có ý
nghĩa thống kê. Qua đó các tác giả cho rằng các quốc gia có thể cải thiện TTKT
bằng cách dịch chuyển tỷ trọng của thuế bóp méo sang thuế không gây bóp méo.
Bleaney và các cộng sự (2001) đã tiến hành giải thích mối quan hệ giữa cơ cấu
thuế và TTKT của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1970 – 1995. Trong đó mẫu
nghiên cứu của tác giả bao gồm 22 quốc gia có thu nhập cao trên thế giới. Hơn thế
nữa, mô hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế bóp méo các yếu tố tăng trưởng
của quốc gia (bao gồm thuế thu nhập, thuế tài sản) và thuế không bóp méo (thuế tiêu
dùng) để đại diện cho cơ cấu thuế của các quốc gia trong mẫu nghiên


11

cứu. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu này, các tác giả đo lường TTKT bởi sự gia


giữa TTKT và cơ cấu thuế ở các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1970 – 1997.
Trong đó mẫu nghiên cứu của tác giả bao gồm 70 quốc gia thu nhập cao, thu nhập
trung bình và thu nhập thấp. Hơn thế nữa, mô hình nghiên cứu của các tác giả sử
dụng thuế thu nhập cá nhân, và thuế thu nhập doanh nghiệp để đại diện cho cơ cấu
thuế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu
này, các tác giả đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người, cũng sử
dụng vốn con người, độ mở thương mại, chất lượng thể chế, tăng trưởng dân số và
lạm phát để đại diện cho các biến độc lập giải thích TTKT của các quốc gia. Bằng cách
sử dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy
rằng các yếu tố đại diện cho cơ cấu thuế có các tác động khác biệt đến TTKT của các
quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Chẳng hạn như trong khi thuế thu nhập doanh
nghiệp có tác động tiêu cực đến TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%
thì thuế thu nhập cá nhân lại không có tác động đáng kể. Điều này cho thấy rằng thuế
thu nhập doanh nghiệp quốc gia càng có tỷ trọng cao thì sẽ chắc chắn sẽ làm giảm
TTKT của quốc gia. Ngoài ra các biến độc lập khác cũng cho thấy tác động đáng kể
đến TTKT. Cụ thể, tăng trưởng dân số và lạm phát có tác động tiêu cực đến TTKT của
các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Bên cạnh đó, vốn con người, độ mở
thương mại và chất lượng thể chế lại cho thấy mối quan hệ cùng chiều với TTKT của
các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%.
Arnold và các cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu tác động của cơ cấu
thuế đến TTKT của các quốc gia trên thế giới trong giai đoạn 1971 – 2004. Trong đó
mẫu nghiên cứu của tác giả bao gồm 21 quốc gia thuộc nhóm quốc gia OECD. Hơn thế
nữa, mô hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế thu nhập (bao gồm thuế thu nhập
cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp), thuế tiêu dùng, và thuế tài sản để đại diện
cho cơ cấu thuế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, trong mô hình
nghiên cứu này, các tác giả đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người,
cũng sử dụng đầu tư nội địa, vốn con người, tăng trưởng dân số và tổng thu chính
phủ để đại diện cho các biến độc lập giải thích TTKT của các quốc gia. Bằng cách sử
dụng phương pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu và

nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đều được tìm thấy có tác động ngược chiều đến
TTKT của các quốc gia. Điều này cho thấy rằng quốc gia mà có tỷ trọng thuế thu nhập
cá nhân và tỷ trọng thuế thu nhập doanh


14

nghiệp càng cao thì sẽ càng cản trở TTKT của quốc gia. Tuy nhiên kết quả của
các tác giả chỉ vững chắc đối với tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngoài ra các biến độc lập khác cũng cho thấy tác động đáng kể đến TTKT. Cụ
thể, chi tiêu chính phủ có tác động tiêu cực đến TTKT của các quốc gia ở mức
ý nghĩa thống kê 10%. Bên cạnh đó, độ mở thương mại lại cho thấy mối quan
hệ cùng chiều với TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống kê 10%.
Ojede và Yamarik (2012) tiến hành nghiên cứu tác động của cơ cấu thuế
đến TTKT của 48 tiểu bang ở Mỹ trong giai đoạn 1967 - 2008. Mô hình nghiên cứu
của các tác giả sử dụng thuế thu nhập (bao gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế
thu nhập doanh nghiệp), thuế tài sản và thuế tiêu dùng để đại diện cho cơ cấu
thuế của các tiểu bang ở Mỹ. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu này, các tác giả
đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong thu nhập thực của các cá nhân ở tiểu bang,
cũng sử dụng đầu tư nội địa, chi tiêu chính phủ của từng tiểu bang, thâm hụt ngân
sách và thu thuế của từng tiểu bang để đại diện cho các biến độc lập giải thích
TTKT của các tiểu bang. Bằng cách sử dụng mô hình PMG (Pooled Mean Group)
để hồi quy mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng cơ cấu thuế và TTKT có mối quan
hệ trong dài hạn ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Tuy nhiên, tác động của từng loại
thuế đến TTKT lại có sự khác nhau. Chẳng hạn như thuế tiêu dùng và thuế tài sản
thì có ảnh hưởng tiêu cực đến TTKT ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Điều này cho
thấy rằng thuế tiêu dùng và thuế tài sản càng chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong
cơ cấu thuế của các tiểu bang thì sẽ làm suy giảm TTKT của các tiểu bang. Đồng
thời, thuế thu nhập không cho thấy tác động có ý nghĩa thống kê đến TTKT của
các tiểu bang. Ngoài ra, các biến độc lập khác cũng cho thấy tác động đáng kể

cứu của tác giả bao gồm 15 quốc gia thuộc nhóm quốc gia OECD. Hơn thế nữa, mô
hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế thu nhập (bao gồm thuế thu nhập cá nhân
và thuế thu nhập doanh nghiệp), thuế tiêu dùng, và thuế tài sản để đại diện cho cơ cấu
thuế của các quốc gia trong mẫu nghiên cứu. Đồng thời, trong mô hình nghiên cứu
này, các tác giả đo lường TTKT bởi sự gia tăng trong GDP trên đầu người, cũng sử
dụng đầu tư nội địa, vốn con người và chi tiêu chính phủ để đại diện cho các biến độc
lập giải thích TTKT của các quốc gia. Bằng cách sử dụng phương


16

pháp hồi quy OLS để ước lượng mô hình nghiên cứu và tìm thấy rằng các yếu tố đại
diện cho cơ cấu thuế có các tác động đến TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa thống
kê 10%. Tuy nhiên tác động cụ thể của các loại thuế thì có sự khác biệt. Cụ thể, ở các
quốc gia có chất lượng thể chế thấp, thuế thu nhập cho thấy tác động tiêu cực đến
TTKT của các quốc gia ở mức ý nghĩa 1%. Điều này cho thấy rằng các quốc gia có
chất lượng thể chế thấp, khi tỷ trọng thuế thu nhập càng lớn thì sẽ làm giảm TTKT. Kết
quả này có phần tương tự ở các quốc gia có chất lượng thể chế cao nhưng ở các
quốc gia này, thuế tài sản lại thể hiện tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến TTKT
ở mức ý nghĩa thống kê 10%. Điều này cho rằng ở các quốc gia có chất lượng thể chế
cao, thuế tài sản sẽ góp phần thúc đẩy TTKT. Ngoài ra các biến độc lập khác cũng cho
thấy tác động đáng kể đến TTKT. Cụ thể, đầu tư nội địa thể hiện tác động cùng chiều
đến TTKT của các quốc gia bất kể chất lượng thể chế cao hay thấp ở mức ý nghĩa
thống kê 1%. Nhưng chi tiêu chính phủ lại cho thấy tác động cùng chiều đến TTKT của
các quốc gia có chất lượng thể chế cao và ngược lại phản ánh tác động ngược chiều
ở các quốc gia có chất lượng thể chế thấp.
Stoilova (2017) thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu tác động của cơ cấu thuế đến
TTKT của các quốc gia thuộc khu vực Châu Âu trong giai đoạn 1996 – 2013. Trong đó
mẫu nghiên cứu của tác giả thu thập bao gồm 28 quốc gia ở Châu Âu. Đồng thời, mô
hình nghiên cứu của tác giả sử dụng thuế tài sản, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status