Luận văn tốt nghiệp: "Tăng cường quản lý
chi Ngân sách Nhà nước với yêu cầu xã
hội hoá các hoạt động y tế trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm"
1
Lời nói đầu
Trong thế giới tự nhiên, xã hội loài người là một hình thức tổ chức
cao nhất, trong đó con người luôn đóng vai trò là nhân tố trung tâm của mọi
hoạt động diễn ra trong xã hội và mọi hoạt động đó cũng không nằm ngoài
mục đích nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người. Để có được
những thành tựu to lớn trên mọi phương diện của đời sống con người như
phát triển thì chất lượng các hoạt động y tế tuyến cơ sở có tính chất quyết
định và hiện thực nhất với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Nhận thức được tầm quan trọng của các hoạt động sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở và từ quá trình nghiên cứu, thực tập tại phòng Tài chính - Vật
giá qu
ận Hoàn Kiếm đã định hướng cho em đi sâu nghiên cứu đề tài:
"Tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước với yêu cầu xã hội
hoá các hoạt động y tế trên địa bàn quận Hoàn Kiếm".
Kết cấu đề tài gồm 3 phần chính:
Chương I: Sự cần thiết phải quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho
sự nghiệp y tế
Chương II: Thực trạng công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước
trong lĩnh vực y tế trên địa bàn quậ
n Hoàn Kiếm
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị tăng cường quản lý chi
Ngân sách Nhà nước với yêu cầu xã hội hoá các hoạt động y tế trên địa
bàn quận Hoàn Kiếm
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em đã được sự giúp đỡ tận tình
của thầy giáo TS. Phạm Quang Trung và sự chỉ bảo của các cán bộ Phòng
Tài chính - Vật giá quận Hoàn Kiếm. Nhưng do kiến thức còn hạn chế nên
bài viết củ
a em không thể tránh khỏi những sai sót, em kính mong sự góp ý
của các Thầy, cô giáo Khoa Ngân hàng - Tài chính Trường Đại học Kinh tế
Quốc dân và các cán bộ Phòng Tài chính - Vật giá quận Hoàn Kiếm.
Em xin chân thành cảm ơn! 3
Chương 1
bởi sự thay đổi thường xuyên của môi trường sống cùng với
sự vận động của thế giới tự nhiên. Các hoạt động y tế mà con người sáng
4
tạo ra cũng chính nhằm mục đích điều hoà những tác động không tốt của
môi trường sống tới con người.
Do đó, các hoạt động y tế là không thể thiếu được trong đời sống con
người. Tuy mỗi con người có cuộc sống khác nhau nhưng các hoạt động y
tế lại đóng vai trò tác động chung tới từng người nhằm duy trì và phát triển
giống nòi. Qua những tác động to lớn của y tế
tới đời sống con người như
vậy cho nên mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cần phải
chú trọng và lấy mục tiêu chăm sóc sức khoẻ cho con người làm gốc, định
hướng cho các chương trình kinh tế – xã hội khác vì một mục tiêu chung là
phát triển bền vững. Điều này cũng được thể hiện xuyên suốt trong đường
lối xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta, khẳ
ng định
một cách rõ ràng trong Nghị quyết TW4 của Ban chấp hành trung ương
Đảng khoá VII: Con người là nguồn tài nguyên qúi báu nhất của xã hội,
con người quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó sức khoẻ là vốn
qúi nhất của mỗi con người và của toàn xã hội. Do vậy, với bản chất nhân
đạo và định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, ngành y tế phải
đảm bảo sự công bằng và hiệ
u qủa trong chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.
Nhu cầu về các dịch vụ y tế
Trong sự phát triển ngày nay, khoa học – kỹ thuật ngày một hiện đại
cũng là điều kiện để phát triển lĩnh vực y tế theo kịp và đáp ứng nhu cầu đa
dạng của con người. Không chỉ khi mắc bệnh thì con người mới có nhu cầu
được chạy chữa mà chăm sóc sức khoẻ ban đầu l
ại là hết sức quan trọng.
tin tưởng vào bộ máy Nhà nước, hệ thống chính trị.
Tìm hiểu về thị trường dịch vụ y tế
Xuất phát từ nhu cầu các dịch vụ y tế của con người và các nhu cầu
này lại có khả năng chi trả từ phía các cá nhân cho nên các mức giá và sản
lượng tương ứng sẽ được xác định, theo đó hình thành nên cầu về
các dịch
vụ y tế. Có cầu thì có cung đó là điều mà các nhà kinh tế học đã chứng
minh: Cung các dịch vụ y tế là cung hạn chế bởi tính đặc thù và chuyên
môn cao vốn có của ngành y tế. Khi cung và cầu về y tế gặp nhau hình
thành nên thị trường các dịch vụ y tế.
Điều quan trọng ở đây không phải là chúng ta đi tìm hiểu xem thị
trường các dịch vụ y tế hoạt động ra sao, mà điểm cố
t lõi là đặc trưng của
6
thị trường này có gì khác biệt với các thị trường khác, nhằm định hướng
cho công tác triển khai các hoạt động trong sự nghiệp y tế với nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước.
Trong nền kinh tế thị trường thì mọi hàng hoá, dịch vụ được định giá
bởi thị trường nhưng dịch vụ y tế lại không nên để thị trường kiểm soát mà
phải có sự quản lý của Chính phủ và được trợ cấp bởi Chính phủ theo một
số điểm quan trọng sau:
+ Thị trường dịch vụ y tế hoạt động phải đem lại mục tiêu công
bằng, nhất là đối với xã hội XHCN tồn tại ở nước ta. Nếu giá cả và khối
lượng dịch vụ y tế được xác định hoàn toàn bởi thị trường thì gây ra tình
trạ
ng mất công bằng, chỉ có những người có đủ tiền mới được hưởng
những dịch vụ y tế có thể với chi phí cao mà những người có thu nhập thấp
hơn không thể có được.
+ Để đạt được công bằng trong thị trường các dịch vụ y tế thì phải
phù hợp.
Sự
nghiệp y tế đặt ra cho nền kinh tế nước ta
Mục tiêu và bản chất nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự
quản lý của Nhà nước ở nước ta, một Nhà nước “của dân, do dân và vì
dân”, phải coi y tế là một sự nghiệp chung cũng giống như sự nghiệp cách
mạng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vậy.
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là m
ột trong những công việc hết
sức to lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội.
Với phương châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn
diện, coi trọng yếu tố quyết định là con người thì không thể đặt các hoạt
động y tế ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội được.
Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã
hội ở nướ
c ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết
quả về chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất. Phấn đấu để mọi người dân
đều được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp
cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng. Mọi người đều được sống
trong cộng đồ
ng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ
mắc bệnh, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
8
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển cơ chế mới thì sự nghiệp y tế
được xác định là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí
hoạt động thường xuyên hay là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn
bộ chi phí hoạt động thường xuyên, cụ thể được xác định như sau:
(1)
thường xuyên của
đơn vị sự nghiệp
[A](%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
X100%9
+ Chi các hoạt động nghiệp vụ.
+ Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí.
+ Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ ( kể cả chi nộp thuế,
trích khấu hao tài sản cố định).
+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: nhà
cửa, máy móc thiết bị...
+ Chi khác.
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt độ
ng thường
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo được toàn bộ chi phí
hoạt động thường xuyên, ngân sách không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt
động thường xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A lớn hơn
hoặc bằng 100%).
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự
nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí
hoạt động thường xuyên, Ngân sách Nhà nước cấp một phần chi phí hoạt
động thường xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A nhỏ hơn
100%).
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay được chủ động hơn
quy định đối với số lao động trong biên chế dôi ra.
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ sở
vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt
động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự
án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3Riêng đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí, nguồn Ngân
sách Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên. Mức kinh phí Ngân
sách Nhà nước cấp được ổn định theo định kỳ 3 n
ăm và hàng năm được
tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Hết thời hạn 3
năm, mức Ngân sách Nhà nước bảo đảm sẽ được xác định lại cho phù hợp.
(1)
Được quy định theo Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính
11
Ngoài nguồn từ Ngân sách Nhà nước, chi cho các hoạt động sự
nghiệp y tế còn bao gồm các khoản khác như: nguồn thu sự nghiệp của các
đơn vị ( đã nêu ở phần 1.2.1.) và các nguồn khác theo quy định ( các dự án
viện trợ, quà biếu tặng...).
Nội dung các hoạt động trong sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế tuyến cơ sở ( gồm y tế thôn, bản, xã, phường, qu
ận,
huyện, thị xã ) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người
dân được chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện
công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự
an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa. Do
vậy, các hoạt động y tế c
ơ sở phải là toàn diện và nằm trong các hoạt động
chủ yếu sau:
hấp cấp, thấp tim, giun sán... Tham gia triển khai chương trình sức khoẻ
sinh sản và kế hoạch hoá gia đình như truyền thông, tuyên truyền sinh đẻ
có kế hoạ
ch, chăm sóc sản khoa...
+ Tổ chức cai nghiện ma tuý và tuyên truyền tác hại của ma tuý sâu
rộng trong mọi tầng lớp nhân dân.
+ Các hoạt động y tế khác.
Các hoạt động sự nghiệp y tế ở tuyến cơ sở trực tiếp tác động đến
đời
sống nhân dân trên các địa bàn dân cư nên việc thực hiện quản lý các hoạt
động này có ý nghĩa quan trọng bậc nhất và tạo cơ sở vững chắc củ
a cả
thực hiện các chủ trương chính sách về y tế của Nhà nước cũng như giảm
bớt gánh nặng cho các tuyến y tế cấp trên.
Công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y
tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế có tính chất quan trọng trong các chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước ta đề ra, đặt dưới sự lãnh đạo của
các cơ quan Hành chính sự
ngiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước nên các
đơn vị sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế được xác định lấy nguồn từ
13
Ngân sách Nhà nước đảm bảo cho hầu hết các hoạt động của mình. Do vậy,
việc quản lý Ngân sách Nhà nước chi cho sự nghiệp y tế là yêu cầu không
thể thiếu trong điều kiện cần phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả của y tế
trong đời sống kinh tế – xã hội.
Để quản lý các khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế
cũng nảy sinh nhiều cách thức phân chia khác nhau nhưng một cách tổng
quát có thể
- Nhóm ba: Chi khác. Đây là các khoản chi phát sinh không thường
xuyên, đột xuất và không thuộc các khoản chi trên.
Các khoản chi Ngân sách Nhà nước hiện nay được cấp phát theo một
số hình thức sau:
+ Phương thức cấp phát theo hạn mức kinh phí: định kỳ cơ quan tài
chính cấp phát h
ạn mức cho các đơn vị sự nghiệp, căn cứ vào hạn mức mà
các đơn vị rút tiền từ Kho bạc để chi tiêu, hết hạn thời hạn của hạn mức mà
hạn mức chi không hết sẽ bị xoá bỏ. Phương thức này chủ yếu được sử
dụng trong cấp phát kinh phí chi thường xuyên.
+ Phương thức cấp phát theo lệnh chi: kinh phí sau khi cấp phát theo
lệnh chi qua Kho bạc nhà nước quận, huyện tài kho
ản tiền gửi của các đơn
vị sẽ được tăng thêm đúng bằng số ghi trong lệnh chi, sau khi hết niên độ
kế toán mà đơn vị không chi hết số kinh phí đó thì số còn lại nằm trong số
dư của tài khoản tiền gửi sẽ được chuyển sang năm sau. Phương thức này
dùng cho các cơ quan, đơn vị không có quan hệ thường xuyên với Ngân
sách Nhà nước hay các khoản chi đầu tư, mua sắm tài sản c
ố định của đơn
vị sự nghiệp.
+ Phương thức cấp phát ủy quyền: phương thức này chủ yếu áp dụng
cho quan hệ giữa Ngân sách Nhà nước Trung ương và Ngân sách Nhà nước
địa phương, áp dụng phương thức này khi các đơn vị thực hiện các nhiệm
vụ chi tiêu trên địa bàn do Ngân sách Nhà nước Trung ương đảm nhận; khi
quyết toán thuộc về Ngân sách Nhà nước trung ương.
+ Phương thức ghi thu- ghi chi: cho phép các đơn vị sự
nghiệp sử
dụng các khoản thu sự nghiệp để chi tiêu trực tiếp.
15
- Các khoản chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp, trợ
cấp theo lương: tính theo lương cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp
(1)
Đơn vị sự nghiệp có thu lập dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nước hàng năm thực hiện theo quy định
tại Thông tư số 103/1998/TT-BTC ngày 18/07/1998 của Bộ tài chính và Thông tư số 25/2002/TT-BTC
ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính.
16
lương theo quy định hiện hành đối với từng ngành nghề, công việc. Quỹ
tiền lương, tiền công của đơn vị sự nghiệp được xác định như sau:
Sau khi xác định quỹ tiền lương của đơn vị, việc trả lương cho từng người
lao động được xác định như sau:
Từ cách xác định trên, tính được tổng số kinh phí Ngân sách Nhà nước chi
cho các đơn vị sự nghiệp y tế của quận, huyện bằng cách lấy tổng quỹ
lương của từng đơn vị cộng lại.
Đối với đơn vị sự nghiệp có thu áp dụng đơn giá, định mức lao động
được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì tiền lương, tiền công
tính theo đơn giá. Trường hợp nguồn thu, chi giảm sút, không bảo đảm
mức tiền l
lương
tối
thiểu
Hệ số
lương
cấp
bậc
bình
quân
và hệ
số
phụ
cấp
lương
bình
quân
=
X ( 1+ ) X
Biên
chế và
lao
động
hợp
đồng
từ 1
năm
trở lên
X X 12 tháng
Tiền
lương
Trong đó:
C
NVi
: chi nghiệp vụ chuyên môn của Ngân sách Nhà nước dự kiến kỳ kế
hoạch cho đơn vị thứ i.
C
NV
: số chi Ngân sách Nhà nước cho nghiệp vụ chuyên môn của sự nghiệp
y tế tuyến cơ sở.
- Chi quản lý hành chính(C
QL
): vật tư văn phòng, dịch vụ công
cộng, công tác phí... theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền quy định, được xác định theo công thức sau:
)(
1
CNi
n
i
QLi
QL
SMC ×=
∑
=
Trong đó:
QLi
M
y tế, bác
s
ĩ…
Số dự
kiến chi
về các
khoản
khác
= + + +
18
thực hiện của năm trước, tính hao mòn tài sản cố định theo chế độ áp dụng
hiện hành.
- Chi mua sắm, sửa chữa: được xác định dựa vào yêu cầu thực
tế của các đơn vị sự nghiệp theo công thức sau:
∑
=
×=
n
i
iiMS
TNGC
1
)(
Trong đó:
MS
C
: chi cho mua sắm, sửa chữa lớn và xây dựng nhỏ của sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở theo kế hoạch.
Trung ương ( trước 15/8 hàng năm).
- Bước 5: Sau khi cân đối với dự toán Ngân sách Nhà nước
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Sở Tài chính – Vật giá ấn định số
giao dự toán cho sự nghiệp y tế của quận, huyện.
- Bước 6: Phòng Tài chính – Vật giá quận, huyện sau khi nhận
được số giao dự toán từ Sở Tài chính – Vật giá tiến hành phân bổ Ngân
sách Nhà nước chính thức cho các
đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở để các đơn
vị này có thể chủ động trong chi tiêu ( chậm nhất vào ngày 05 tháng 01 của
năm tài chính).
- Việc giao dự toán của Phòng Tài chính – Vật giá quận, huyện
cũng phải được Chủ tịch UBND cùng cấp ra văn bản xác định đơn vị sự
nghiệp thuộc loại tự bảo đảm chi phí hoặc đơn vị sự nghiệp bảo
đảm một
phần chi phí; giao dự toán thu, chi Ngân sách Nhà nước cho các đơn vị trực
thuộc, trong đó có mức Ngân sách Nhà nước bảo đảm hoạt động thường
xuyên ( đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí).
3Lập dự toán 2 năm tiếp theo của thời kỳ ổn định.
Riêng đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí: nguồn Ngân sách
Nhà nước cấp kinh phí ho
ạt động thương xuyên. Mức kinh phí Ngân sách
Nhà nước được cấp ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng năm được tăng
thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Hết thời hạn 3 năm,
mức Ngân sách Nhà nước bảo đảm sẽ được xác định lại cho phù hợp.
20
3Yêu cầu lập dự toán chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế
tuyến cơ sở:
+ Dự toán của các đơn vị dự toán trong sự nghiệp y tế phải phản ánh đầy
đủ các khoản chi tiêu theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của cơ quan
đơn vị sự nghiệp qua Kho bạc nhà nước quận, huyện vào mục 134 “ chi
khác” của Mục lục Ngân sách Nhà nước để các đơn vị chi chủ động và phù
hợp với tình hình thực tế đơn vị hơn; nhưng kế toán và quyết toán các
khoản chi phải theo các mục chi của Mục lục Ngân sách Nhà nước tương
ứng. Đối với các khoả
n kinh phí khác của đơn vi sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
( kinh phí thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước; kinh phí chương
trình mục tiêu quốc gia; vốn đối ứng các dự án và vốn đầu tư, mua sắm
trang thiết bị y tế...) được cấp phát theo dự toán đã được phê duyệt của cấp
có thẩm quyền.
Trong qúa trình thực hiện, các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở
được điều
chỉnh dự toán chi hoạt động sự nghiệp, kinh phí hoạt động thường xuyên đã
được giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị gửi Phòng Tài
chính – Vật giá quận, huyện và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị giao dịch để
theo dõi quản lý. Đối với các khoản kinh phí thuộc Ngân sách Nhà nước
buộc các đơn vị sự nghiệp y tế cơ sở phải mở tài kho
ản tại Kho bạc nhà
nước quận, huyện để thực hiện chi qua Kho bạc. Ngoài ra, đơn vị sự nghiệp
có thu được mở tài khoản tại Ngân hàng hoặc tại Kho bạc nhà nước để
phản ánh các khoản thu – chi của hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ.
Yêu cầu đặt ra của chấp hành chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp
y tế tuyến cơ sở là phải thường xuyên được sự ki
ểm tra, thanh tra, kiểm
soát của các cơ quan chủ quản ( Phòng Tài chính – Vật giá quận, huyện;
Kho bạc nhà nước quận, huyện; Sở y tế ) và các cơ quan Nhà nước có liên
quan( UBND, HĐND quận, huyện).
÷ Quyết toán chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
Sau ngày 31 tháng 12 năm Ngân sách, các đơn vị sự nghiệp y tế thực
hiện khoá sổ kế toán và lập quyết toán của đơn vị mình gửi lên Trung tâm y
kinh phí thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước đặt hàng; các nhiệm vụ đột
xuất được cấp có thẩm quyền giao; vốn đầu tư xây dựng cơ bản... của năm
trước chưa được thực hiện không được chuyển sang năm sau trừ trường
hợp đặc biệt theo quy định củ
a Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản
hướng dẫn hiện hành của Bộ tài chính.
23
Sau khi quyết toán chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế cơ sở
được hoàn tất đòi hỏi Phòng Tài chính – Vật giá quận, huyện triển khai
ngay công tác kiểm toán đối với các đơn vị để có những điều chỉnh khi cần
thiết theo các văn bản pháp luật về quản lý Ngân sách Nhà nước hiện hành.
Trong quá trình quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế cơ sở
đòi hỏi các đơn vị phải thực hiệ
n công khai Ngân sách Nhà nước như sau:
(1)
+Công khai dự toán thu – chi đã được Nhà nước giao ( năm đầu) và
dự toán thu – chi do đơn vị lập ( 2 năm tiếp theo ), kể cả điều chỉnh hoặc bổ
sung trong năm ( nếu có).
+ Công khai quyết toán thu – chi Ngân sách Nhà nước hàng năm của
đơn vị và thông báo duyệt quyết toán của đơn vị dự toán cấp trên.
+ Công khai phương án chi trả tiền lương cho người lao động, trong
đó có hệ số điều chỉnh tăng thêm cho từ
ng người lao động.
+ Công khai việc trích lập và sử dụng các quỹ.
+ Công khai quy định tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi tiêu nội bộ.
1.1.3. Xu hướng xã hội hoá các hoạt động y tế trong điều kiện hiện nay
chính sách khuyến khích về cơ sở vật chất, đất đai; về thuế, phí, lệ phí; về
tín dụng; về bảo hiểm; về ch
ế độ khen thưởng, phong tặng danh hiệu... do
Nhà nước đề ra; những nội dung này được coi có tính quyết định trong chủ
trương của Nhà nước góp phần vào khuyến khích xã hội hoá các hoạt động
y tế. Cùng với việc phát triển các cơ sở công lập hoạt động phục vụ chăm
sóc, khám chữa bệnh nhân dân cần phải tích cực hơn nữa trong phát huy
tính tự chủ và năng động của các đơn vị sự nghi
ệp y tế tuyến cơ sở. Sự phát
triển bền vững sự nghiệp y tế nước nhà phải luôn được đặt trong mối quan
hệ hỗ trợ qua lại giữa phát triển các đơn vị y tế công lập và dân lập mà các
chính sách xã hội hoá đã đề ra.
Yêu cầu khuyến khích xã hội hoá đối với sự nghiệp y tế
Sự nghiệp y tế nếu chỉ được bảo đảm từ phía Nhà nước sẽ không tạo
đà cho sự phát triển nhanh và bền vững, nên yêu cầu khuyến khích xã hội
hoá đối với sự nghiệp y tế là thực sự cần thiết và đang đặt ra cho phát triển
(1)
Điều 1, Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/08/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với
các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao.