LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPTình hình phát triển
thị trường xuất khẩu
của Việt Nam
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG
I
. THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ CHIẾN LƯỢC HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU
1. Tầm quan trọng của thương mại quốc tế với tăng trưởng và phát triển
kinh tế
Trong tác phẩm “Sự giàu có của các Quốc gia” A.Smith đã chỉ rõ: Thương mại
quốc tế là một trong những hình thức đem lại sự giàu có và thịnh vượng cho mỗi
dân tộc, là nhân tố đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Thương mại quốc tế phát triển, thị tr
ường được mở rộng, cho phép tăng chuyên
môn hoá sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế,
nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân. Thương mại
quốc tế cho phép các quốc gia mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hoá một
cách sâu sắc. Thương mại quốc tế mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước. Nó
cho phép một n
ước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có
Các chỉ số trên cho ta thấy rằng để tăng trưởng 1% GDP, kim ngạch xuất
nhập khẩu, trong đó có tính đến tác động của cả nhập khẩu phải đạt mức tăng
trưởng nhất định. Nếu trung bình cho thời kỳ 5 năm hoặc 10 năm, các chỉ số này
sẽ có tác dụng dự báo các chỉ tiêu GDP tươ
ng ứng với tăng trưởng kim ngạch
xuất nhập khẩu hoặc tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu tương ứng.
2. Chiến lược hướng về xuất khẩu
Cơ sở lý luận của chiến lược hướng về xuất khẩu dựa trên nguyên lý của
Keynes về tổng cầu chứ không phải tổng cung là yếu tố quyết định mức sản xuất
(lý luận về tổng cầu hiệu quả). Từ đó, mở ra lập luận mới về nền kinh tế mở, lấy
nhu cầu thị trường thế giới làm mục tiêu cho nền sản xuất trong nước. Tình hình
đó đòi hỏi người ta phải có phương thức phù hợp, cách đi hợp lý, cấu trúc lại nền
kinh tế sở tại, sao cho thích ứng với những đòi hỏi của thị trường thế giới. Đây
chính là cơ sở lý luận của chiến lược hướng về xuất khẩu hay còn gọi là chiến
lược thúc đẩy xuất khẩu hướng ngoại.
Đóng góp cho
1% tăng trưởng
GDP của XK
=
Tỷ lệ tăng trưởng XK (%)
thời kỳ (t+1)
Tỷ lệ tăng trưởng GDP (%)
thời kỳ t
x
XKt+1
GDPt+1
kiểm soát nhập khẩu chặt chẽ, tỷ giá hối đ
oái ít khuyến khích xuất khẩu thì đặc
trưng của chiến lược hướng về xuất khẩu là mức bảo hộ thấp, hạn chế sử dụng
hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu và các biện pháp hạn chế nhập khẩu, sử dụng
nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu, tỷ giá hối đoái ủng hộ xuất khẩu.
Ưu thế của chiế
n lược hướng về xuất khẩu là gắn sản xuất và nền kinh tế
trong nước với nền kinh tế thế giới, liên kết các nền kinh tế quốc gia với nhau, tạo
ra không gian và nhu cầu kinh tế rộng lớn hơn nhờ liên kết và buôn bán quốc tế,
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu. Đối với nước ta, chiến lược hướng về xuất khẩu
có nhiều ý nghĩa lớn :
- Xuấ
t khẩu giúp cho việc tạo ra và tăng thu ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, máy
móc thiết bị phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
- Hạn chế bảo hộ công nghiệp địa phương mà thực chất là nuôi dưỡng tính ỷ
lại và thay thế vào đó là nâng đỡ và hỗ trợ cho các ngành sản xuất hàng xuất khẩu
- Bảo đảm môi trường đầu tư cho các nhà tư bản n
ước ngoài thông qua một hệ
thống các chính sách khuyến khích và kinh tế tự do để thu hút đến mức tối đa vốn
đầu tư của các công ty nước ngoài, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 4
hiện đại hoá đất nước. Nhanh chóng đổi mới hiện đại hoá công nghệ sản xuất và
công nghệ kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong
nước,
- Chiến lược hướng về xuất khẩu vừa là tác nhân vừa là hệ quả và là sự bảo
đảm thắng lợi cho quá trình tự do hoá thương mại,
5
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm và đặc điểm của thị trường.
1.1 Khái niệm
Theo Samuelson, “thị trường là một quá trình trong đó người mua và
người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và
lượng hàng hoá”. Với định nghĩa này, ông đã đơn giản hoá rằng, đây là một quá
trình mua bán diễn ra trực tiếp giữa người mua và bán mà ít bị sự điều khiển hoặc
các yếu tố bên ngoài chi phối tới cả quá trình. Nhưng với David Begg, thị trường
được xem xét dưới nhiề
u khía cạnh hơn “thị trường là sự biểu hiện thu gọn của
quá trình mà thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng
nào, quyết định của các công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và các
quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được dung hoà
bằng sự điều chỉnh của giá cả”. Nói tóm lại, thị trường là tổng hoà các mối quan
hệ
kinh tế để thực hiện việc trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế hàng hoá và cụ
thể hơn, ở đó cung cầu về hàng hoá gặp nhau và được thoả mãn.
1.2 Đặc điểm của thị trường
Kinh tế thị trường được hiểu là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao
dựa trên sự phát triển của phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất và
trao đổi sản phẩm làm ra của những người sản xuất với nhau. Nền kinh tế thị
trường bị chi phối bởi các quy luật khác nhau: quy luật cung cầu, quy luật giá trị,
quy luật cạnh tranh và quy luật lưu thông tiền tệ...
Quy luật giá trị đòi h
ỏi các nhà sản xuất kinh doanh hàng hoá phải căn cứ
tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào của sản xuất –
kinh doanh, không ngừng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ,
cạnh tranh tước quyền thống trị và độc quyền về kinh tế.
Quy luật lưu thông tiền tệ chỉ ra trong thị trường, khối lượng tiền lư
u thông
phải phù hợp với tổng giá trị hàng hoá lưu thông trên thị trường. Nếu quy luật này
bị vi phạm sẽ dẫn tới ách tắc trong lưu thông và gây khó khăn dẫn đến mất ổn
định nền kinh tế. Do vậy, để tồn tại và phát triển thị trường hàng xuất khẩu, các
thành phần tham gia vào thị trường đều phải tự giác tuân thủ theo các quy luật thị
trường một cách nghiêm túc.
Nói về thị trườ
ng quốc tế, “thị trường quốc tế của một nước là tập hợp
những khách hàng nước ngoài tiềm năng có nhu cầu về những mặt hàng nào đó
của nước đó”
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 7
2. Thị trường hàng hoá xuất khẩu
2.1 Hàng hoá xuất khẩu
Hàng hoá xuất khẩu được hiểu gắn với khái niệm thương mại hàng hoá
(phân biệt với xuất khẩu dịch vụ gắn với khái niệm thương mại dịch vụ) theo quy
ước của Liên hợp quốc và WTO là những sản phẩm hàng hoá hữu hình được sản
xuất hoặc gia công tại các cơ sở sản xuất, gia công và các khu chế xuất với mục
đích để tiêu thụ tại thị
trường ngoài nước (xuất khẩu). Hàng tạm nhập tái xuất
cũng được coi là hàng hoá xuất khẩu. Hàng hoá quá cảnh không thuộc diện của
gian). Chẳng hạn, một nước nào đó tạm nhập tái xuất hàng hoá của Việt nam hoặc
nhập hàng hoá của Việt nam rồi đem xuất khẩu sang thị trường khác cũng được
coi là thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt nam.
2.2.2 Phân loại thị trường hàng hoá xuất khẩu
Căn cứ vào vị trí địa lý:
Thị trường Châu lục
Thị trường khu vực
Thị trường nước và vùng lãnh thổ
Căn cứ vào lịch sử quan hệ ngoại thương
Thị trường truyền thống
Thị trường hiện có
Thị trường mới
Thị trường tiềm năng
Căn cứ mức độ quan tâm và tính ưu tiên trong chính sách phát triển thị
trường của nước xuất khẩu đối với các thị trường xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu trọng điểm hay thị trường chính. Đối với loại thị
trường này, trong quan hệ ngoại thương, nước xuất khẩu có thể phải
chấp nhận một số thiệt thòi về lợi ích trước mắt để thu được lợi ích lâu
dài (nhất là trong đàm phán ký kết các hiệp định thương mại cấp Chính
phủ). Đây là những thị trường mà một n
ước sẽ nhằm vào khai thác
chính và trong một tương lai lâu dài.
các doanh nghiệp của nước xuất khẩu:
Thị trường xuất khẩu có ưu thế cạnh tranh
Thị trường xuất khẩu không có ưu thế cạnh tranh
Căn cứ vào các thoả thuận thương mại cấp Chính phủ và các yêu cầu của
đối tác thương mại về việc có hạn chế hay không hạn chế định lượng nhập khẩu
một số mặt hàng:
Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch
Thị trường xuất khẩu không có hạn ngạch
Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường:
Thị trường độc quyền
Thị trường độc quyền “nhóm’
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 10
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo : một dạng của loại hình này đã
được nhiều nước ứng dụng thành công khi tìm kiếm thị trường là thị
trường ngách
Thị trường ngách được xem như một loại hình thị trường cạnh tranh không
hoàn hảo. Thị trường này đóng một vai trò rất quan trọng cho các nước đang phát
Kim
ngạch
XNK
206.4 381.4 696 1154.4 1356.3 1656.1 2367.3 3211 3240
Thâm
hụt
TMQT
-11.4 -19 -149 87.4 80.5 43.9 53.5 -149.6 -198.2
(Nguồn: IMF, Intellegent Unit, 1998 và Keigetsu ho - Toyo Kenzai 9 - 99, No. 9,
Vol. 59, P 45 – 46)
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc thời kỳ 1978 - 1998 tăng trung
bình 16.5% hàng năm. Sau khủng hoảng tài chính khu vực, Trung quốc cam kết
duy trì ổn định đồng Nhân dân tệ với mục tiêu ngăn chặn mức độ ảnh hưởng của
khủng hoảng đối với nền kinh tế khu vực. Đồng Nhân dân tệ trong giai đoạn này
bị đánh giá cao, trong khi sức cạnh tranh của các nền kinh tế
khủng hoảng được
cải thiện nhờ phá giá, tốc độ tăng trưởng của xuất khẩu Trung quốc giảm đáng kể.
Đồ thị 1.2 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Trung quốc
Đồ thị 1.2 Thâm hụt cán cân thương mại Trung quốc
-20.0%
0.0%
20.0%
40.0%
60.0%
80.0%
100.0%
120.0%
140.0%
1978 1980 1985 1990 1991 1992 1994 1997 1998
-50.0%
-40.0%
-30.0%
-20.0%
-10.0%
0.0%
10.0%
20.0%
1978
1980 1985 1990 1991 1992 1994 1997 1998
Th©m hôt/xuÊt khÈu
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 13
nghiệp có vốn đầu tư khác nhau: vốn trong nước, vốn nước ngoài hay vốn liên
doanh.
Trung Quốc còn ưu tiên tập trung mở cửa các thành phố ven biển. Trung
Quốc tiến hành mở cửa 14 thành phố vùng duyên hải, thành lập tại đây các khu
công nghiệp kỹ thuật cao, thực thi chính sách khuyến khích các loại hình gia công
xuất khẩu để tận dụng nguồn lao động dồi dào, đồng thời áp dụng các biện pháp
để nhanh chóng chuyển đổi cơ cấ
u ngành nghề vùng ven biển. Các thành phố ven
biển là các khu vực mở cửa về kinh tế - kỹ thuật, trở thành những cầu cảng lớn
giúp Trung Quốc hướng ra thị trường Thái Bình Dương, Tây Âu và Bắc Hoa Kỳ.
Các thành phố này được hưởng các quy chế ưu tiên như tại các đặc khu kinh tế
trong hoạt động xuất khẩu nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
Ngoài ra, Trung Quốc còn tích cực mở cửa các cửa khẩu biên giới Đông
Bắc và Tây Nam. Phát huy
Bên cạnh việc đưa quyền tự chủ kinh doanh xuống các địa phương, Trung
Quốc còn thực hiện chế độ trách nhiệm khoán ngoại thương. Hình thức khoán
được thực hi
ện theo phương thức: Tổng công ty ngoại thương Trung ương giao
khoán xuất nhập khẩu trực tiếp cho các địa phương. Các địa phương chịu trách
nhiệm về mặt xuất khẩu, thu ngoại tệ xuất khẩu và giao nộp ngoại tệ lên trên, bảo
đảm đầy đủ chỉ tiêu với nhà nước. Sau khi đã nhận khoán, các địa phương giao
chỉ tiêu khoán xuống các doanh nghiệp và cơ sở hoạt động ngoại thương trong
tỉnh, thành phố hay huyện. Chế độ khoán này được xây dựng dựa trên cơ sở điều
chỉnh hối suất, xoá bỏ chế độ bù lỗ xuất khẩu đối với các xí nghiệp ngoại thương.
Thứ nhất, Trung Quốc đã mạnh dạn cái cách thể chế kế hoạch ngoại
thương từ chế độ hai chiều sang chế độ một chiều là chính. Địa phương là ng
ười
chính thức nhận khoán trực tiếp nhiệm vụ xuất nhập khẩu ngoại thương của Nhà
nước. Lấy mốc kế hoạch xuất khẩu của năm 1988, Nhà nước xác định những năm
về sau, phần hàng hoá xuất khẩu thực hiện theo kế hoạch quản lý một chiều giữa
Trung ương và địa phương chiếm 70% kế hoạch, phần hàng hoá xuất khẩu thực
hi
ện theo chế độ quản lý hai chiều chiếm 30%. Về kế hoạch xuất khẩu, hàng hoá
xuất khẩu thuộc kế hoạch có tính pháp lệnh chiếm 30% tổng mức xuất khẩu hàng
hoá, hàng hoá thuộc kế hoạch có tính chất hướng dẫn chiếm khoảng 15% tổng
mức xuất khẩu, 55% tổng mức xuất khẩu được buông lỏng, thực hiện tự do kinh
doanh thả nổi, do thị trường điề
u tiết. Việc làm này khiến cho các địa phương có
được tính tự chủ trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá.
Thứ hai, Trung Quốc đã thực hiện thể chế quản lý tài chính ngoại thương.
Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện buông lỏng quan hệ tài vụ ngoại thương, tách
rời sự bó buộc tài chính giữa Trung ương với địa phương để thúc đẩy hoạt động
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường
gia tăng đã nộp (áp dụng VAT đầu ra bằng 0% cho hàng xuất khẩu).
Chế độ hoàn thuế xuất khẩu được Trung Quốc b
ắt đầu áp dụng từ năm
1983. Đến nay, các loại thuế sản phẩm được được hoàn lại bao gồm: thuế sản
phẩm, thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và thuế tiêu dùng. Đối với việc áp
dụng chế độ này, Quốc vụ viện đã yêu cầu phải thực hiện theo nguyên tắc thu bao
nhiêu thì hoàn bấy nhiêu, hoàn thuế triệt để, không thu thì không hoàn. Để đảm
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 16
bảo chính sách này được thi hành triệt để, ngành thuế vụ Trung Quốc còn phối
hợp với các ngành hữu quan để có các biện pháp quản lý hoàn thuế xuất khẩu và
đặc biệt chú trọng tới việc hoàn thiện chính sách này.
Đối với chính sách trợ cấp xuất khẩu, Trung Quốc thực hiện chính sách này
ngay từ những năm đầu mở cửa. Để chuẩn bị ra nhập WTO, Trung quốc xoá bỏ
trợ cấp cho xuất khẩu kể
từ 1/1/1999. Nhưng các doanh nghiệp sản xuất hàng
xuất khẩu vẫn nhận được trợ cấp gián tiếp như giảm giá năng lượng, nguyên liệu
thô và nhân công; ưu đãi tín dụng (doanh nghiệp xuất khẩu được vay với lãi suất
ưu đãi, bảo hộ rủi ro theo thông lệ quốc tế).
Hỗ trợ về tài chính. Ngân hàng Trung Quốc, Ngân hàng đầu tư Trung
Quốc, Tổng cục kiểm soát ngoại tệ là những t
ổ chức tài chính quan trọng được
thành lập với nhiệm vụ trợ giúp tài chính cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu. Tất cả cơ quan có quan
hệ buôn bán với nước ngoài đều phải mở tài khoản ở Ngân hàng Trung Quốc và
thông qua đó để thực hiện để thực hiện mọi giao dịch ngoại tệ. Ngân hàng Trung
Quốc thực hiện giám sát các công ty, các xí nghiệp s
xét nếu có điều kiện chín muồi thì có thể huy động vốn bằng cổ phiếu.
Trung Quốc đã thiết lập hệ thống kênh phân phối thông qua h
ệ thống mạng
lưới Hoa kiều ở khắp nơi trên thế giới với số lượng lớn.
Ngoài ra, Trung Quốc còn tìm cách vượt hàng rào kỹ thuật của các nước
nhập khẩu. Trung Quốc cố gắng ký kết các hiệp định thương mại với các nước để
được hưởng những nhượng bộ về buôn bán. Đồng thời, Trung Quốc còn nghiên
cứu kỹ hàng rào kỹ thuật trong thương mạ
i của các nước bạn hàng để xem ảnh
hưởng như thế nào đối với việc xuất khẩu những mặt hàng chủ yếu của mình, từ
đó đưa ra các biện pháp đối phó thích hợp.
Kinh nghiệm quan trọng trong thúc đẩy thị trường hàng hoá xuất khẩu của
Trung Quốc là việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Trung Quốc đề ra kế
hoạch lấy khoa học kỹ thuật thúc đẩy phát triển mậ
u dịch. Nội dung của kế hoạch
này gồm: trong 3 năm xây dựng một loạt các cơ sở sản xuất sản phẩm kỹ thuật
cao của 5 ngành: tin học, công nghệ sinh học, vật liệu xây dựng, hàng điện tử,
hàng tiêu dùng; đẩy nhanh tốc độ xuất khẩu hàng kỹ thuật cao, đối với các sản
phẩm xuất khẩu chủ đạo cần có bản quyền sở hữ
u công nghiệp; tạo môi trường
thuận lợi để tiếp cận kỹ thuật cao, đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật để thúc đẩy
phát triển sản xuất trong nước; tổ chức các xí nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sản
phẩm cao đạt tiêu chuẩn ISO.
Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu được chia thành 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 sẽ lấy
xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ sử
dụng nhiều lao động làm trọng tâm, thay thế
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường
Xuất khẩu/GDP 22.6 34.9 58.6 57.1
Thâm hụt/GDP -7.6 -3.5 12.9 9.1
Thâm hụt/xuất khẩu -33.27 -9.88 21.74 15.87
Nguồn: Tác giả tính toán từ số liệu của Ngân hàng thế giới, World Development
Indicator 2001, CD-ROM
Đồ thị 2.1 Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu và GDP của Thái lan
Đồ thị 2.2 Thâm hụt cán cân thanh toán của Thái lan thời kỳ 1979-1999
-25
-20
-15
-10
-5
0
5
10
15
20
25
1979 1989 1998 1999 1999-03
T¨ng tr−ëng GDP T¨ng tr−ëng xuÊt khÈu T¨ng tr−ëng nhËp khÈu
-50
-40
-30
-20
-10
0
10
20
30
Uỷ ban đầu tư dành ưu tiên cho các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, sử dụ
ng
nguyên vật liệu trong nước hoặc thuê một lực lượng lớn lao động, thu được ngoại
tệ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế vùng ngoài thủ đô. Bất cứ một dự án khả thi
nào mà xuất khẩu được 80% hoặc nhiều hơn thì được Uỷ ban đầu tư hỗ trợ. Các
biện pháp mà Uỷ ban đầu tư dành ưu đãi cho các dự án có định hướng xuất khẩu
gồm:
Miễn thuế nhập khẩu và thuế kinh doanh đối với các nguyên vật liệu và các
chi tiết nhập khẩu.
Miễn thuế nhập khẩu và thuế thuế kinh doanh đối với các mặt hàng tái xuất.
Chương I:
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 21
Miễn thuế kinh doanh cho các nhà sản xuất hoặc các thương nhân buôn bán
nguyên vật liệu hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu.
Uỷ ban cũng sẽ cung cấp ưu đãi đầu tư nếu dự án đáp ứng các tiêu chuẩn
như tăng ngoại tệ thông qua sản xuất hàng xuất khẩu, hỗ trợ phát triển nguồn
nhân lực trong nước, tăng đáng kể công ăn việc làm, ho
ạt động ở các tỉnh, bảo vệ
được nguồn năng lượng hoặc thay thế các nguồn nguyên liệu sản xuất phải nhập
khẩu và thiết lập hoặc phát triển các ngành cơ bản làm nền tảng cho những bước
phát triển tiếp theo của các ngành khác.
Bên cạnh Uỷ ban đầu tư, Cục xúc tiến xuất khẩu và Uỷ ban phát triển xuất
khẩu có chức năng tăng cường sự
công nhận quốc tế về các sản phẩm của Thái
nào đó có thể không thích hợp đối với kinh doanh của họ. Ví dụ như việc thuê
người thông thạo làm các thủ tục giấy tờ, nhiều khi chi phí này cao hơn khoản họ
được hưởng.
Đối với hệ thống tài chính cho xuất khẩu. Kinh nghiệm đã thực hiện tại
Thái lan cho chúng ta thấy, các nhà xuất khẩu mới và nhỏ nhiều khi phải đối mặt
với những trở ngại lớn để nhậ
n được tài trợ từ các ngân hàng của mình. Họ gặp
nhiều khó khăn trước khi có đủ điều kiện để nhận được tài trợ từ ngân hàng. Họ
cũng gặp bất lợi trong quá trình tìm kiếm khoản hỗ trợ tài chính vì thiếu các
khoản thế chấp hữu hình. Mặc dù cơ cấu mới có kế hoạch phân bổ nguồn tín dụng
cho các nhà xuất khẩu nhỏ thì một số vấn đề v
ẫn tồn tại trong việc hỗ trợ các nhà
xuất khẩu nhỏ. Những nhà xuất khẩu nào có giấy phép xuất khẩu đều có thể nhận
được khoản tín dụng cả gói, nghĩa là nhận được hỗ trợ tài chính từ phía Chính
phủ. Mặt khác, các nhà sản xuất không vì mục đích xuất khẩu chỉ có thể nhận
khoản tín dụng này với lãi suất cao hơn. Điều này có thể gây ra sự khác biệt gi
ữa
hai nhóm nhà sản xuất. Bản thân các nhà xuất khẩu có thể sử dụng sai mục đích
hoặc không hợp lý các khoản tín dụng ưu đãi trên, dùng cho mục đích kinh doanh
khác ngoài xuất khẩu. Hơn nữa, lãi suất tín dụng cho xuất khẩu thấp hơn nhiều so
với lãi suất thị trường, nhu cầu được tái cấp vốn tăng lên đáng kể, ngân hàng
trung ương Thái lan nếu không quản lý chặt chẽ được phương th
ức này thì có thể
bị đe doạ tới tình hình phát triển kinh tế cuả đất nước.
Thái lan còn tăng cường thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân. Khu
vực này năng động đã thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu, đa dạng hoá cơ cấu xuất
khẩu cả về sản phẩm lẫn thị trường. Thái lan mạnh dạn thực hiện chính sách tự do
hoá, tư nhân hoá một số l
ĩnh vực hoạt động công cộng. Chính sách tỷ giá linh
hoạt và hệ thống thanh toán tự do đã được thực hiện. Chính những chính sách này
Lý luận chung liên quan đến phát triển thị trường 24
Nguồn: tác giả tính toán từ số liệu của Ngân hàng thế giới, World Development
Indicator 2001
Đồ thị 3.1 Tăng trưởng xuất nhập khẩu của Hàn quốc
Đồ thị 3.2. Thâm hụt cán cân thanh toán hàn Quốc thời kỳ 1979 - 1999
-30
-20
-10
0
10
20
30
40
1979 1989 1998 1999 1999-03
T¨ng tr−ëng GDP T¨ng tr−ëng xuÊt khÈu T¨ng tr−ëng nhËp khÈu
-40
-30
-20
-10
0
10
20