ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
PHẠM VĂN HOÀNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG
VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------
PHẠM VĂN HOÀNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG, HIỆN TRẠNG
VÀ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành:
Mã số:
Quản lý tài nguyên và môi trƣờng
60850101
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết .......................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................1
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...........................................................................................2
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................................2
6. Cấu trúc luận văn .................................................................................................2
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU DU LỊCH SINH THÁI ...........3
1.1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI ......................................................3
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu du lịch sinh thái ..........................................................3
1.1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái ...............................................................8
1.2. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU, PHƢƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH
NGHIÊN CỨU ......................................................................................................18
1.2.1. Quan điểm nghiên cứu .............................................................................18
1.2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ..........................................................................20
1.2.3. Quy trình nghiên cứu ................................................................................26
Chƣơng 2. ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI HUYỆN MAI
CHÂU TỈNH HÒA BÌNH ......................................................................................28
2.1. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN .......................................................................28
2.1.1. Vị trí địa lý ...............................................................................................28
2.1.2. Địa chất.....................................................................................................29
2.1.3. Địa hình ....................................................................................................30
2.1.4. Khí hậu .....................................................................................................30
2.1.5. Thủy văn ...................................................................................................33
2.1.6. Thảm thực vật (các khu bảo tồn và VQG) ...............................................35
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. 1. Cấu trúc DLST .........................................................................................11
Hình 1. 2. Sơ đồ quy trình nghiên cứu luận văn .......................................................26
Hình 2. 1. Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu ...........................................................29*
Hình 2. 2. Bản đồ địa chất khu vực nghiên cứu ......................................................30*
Hình 3. 3. Mô hình số độ cao ..................................................................................31*
Hình 2. 4. Biểu đồ số giờ nắng và nhiệt độ trung bình của Mai Châu năm 2013 .....32
Hình 2. 5. Biểu đồ thể hiện số ngày mƣa các tháng trong năm 2013 của Mai Châu 33
Hình 2. 6. Bản đồ kinh tế - xã hội huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.......................40*
Hình 2. 7. Dệt thủ công ở huyện Mai Châu ..............................................................41
Hình 2. 8. Trang phục ngƣời Thái .............................................................................42
Hình 2. 9. Nhà truyền thống ngƣời Thái - bản Lác ...................................................42
Hình 2. 10. Lễ hội Xên Bản, Xên Mƣờng ở Mai Châu .............................................44
Hình 2. 11. Đặc sản ẩm thực Mai Châu ....................................................................46
Hình 2. 12. Đặc sản lợn nƣớng và cơm Lam ............................................................46
Hình 2. 13. Bản đồ tài nguyên du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ................47*
Hình 3. 1. Sự thay đổi số lƣợng khách du lịch tới Mai Châu giai đoạn 2011 - 2013.....56
Hình 3. 2. Doanh thu từ hoạt động du lịch của Mai Châu giai đoạn 2011 - 2013 ....61
Hình 3. 3. Bản đồ hiện trạng du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ...................66*
Hình 3. 4. Thay đổi lối sống - văn hóa ......................................................................71
Hình 3. 5. Thƣơng mại hóa sản phẩm lƣu niệm ......................................................71
Hình 3. 6. Thay đổi kinh tế - văn hóa bản địa ...........................................................71
Hình 3. 7. Sự thay đồi thái độ của dân địa phƣơng đối với du lịch ..........................72
Hình 3. 8. Bản đồ định hƣớng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu, tỉnh Hòa
Bình .........................................................................................................................30*
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2. 1. Nhiệt độ không khí thấp nhất (Đơn vị oC) ..............................................31
nên sự đa dạng phong phú cho nền văn hóa Việt Nam. Với những đặc thù về địa lý
và truyền thống sẵn có, nhân dân huyện Mai Châu đã và đang phát huy, giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc đồng thời thúc đẩy tiềm năng du lịch đặc biệt là du lịch sinh
thái nhằm giới thiệu tới bạn bè bốn phƣơng những nét tinh túy nơi đây. Cụ thể
huyện Mai Châu đã xây dựng và nhân rộng mô hình các bản du lịch sinh thái: bản
Văn, Pom Coọng, Lác, Nhót, Nà Phòn và xã Hang Kia, Pà Cò.
Với giá trị du lịch sinh thái đặc sắc, huyện Mai Châu hứa hẹn sự phát triển
mạnh mẽ trong tƣơng lai. Tuy nhiên, do phát triển du lịch một cách nhanh nhƣng
chƣa có quy hoạch cụ thể dẫn đến phá vỡ cảnh quan, thay đổi bản sắc văn hóa vùng,
làm cho bản làng mang dáng dấp đô thị; giảm tính hoang sơ, bình dị, yên tĩnh vốn
có của địa phƣơng dẫn đến suy giảm chất lƣợng, hình ảnh du lịch sinh thái nơi đây.
Trƣớc thực trạng đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tiềm
năng, hiện trạng và định hướng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu,
tỉnh Hòa Bình” cho luận văn thạc sỹ của mình. Hy vọng đề tài sẽ là đóng góp định
hƣớng phát triển du lịch sinh thái tại huyện Mai Châu nói riêng và du lịch Hòa Bình
nói chung, bền vững hơn trong tƣơng lai.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác lập cơ sở khoa học trên cơ sở đánh giá tiềm năng và hiện trạng phục vụ
yêu cầu định hƣớng phát triển du lịch sinh thái huyện Mai Châu, nhằm nâng cao
1
mức sống của dân cƣ địa phƣơng, bảo tồn môi trƣờng, giảm áp lực lên các nguồn
lợi tự nhiên và giữ gìn bản sắc văn hóa vùng.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan những vấn đề lý luận và thực tiễn của DLST ở Việt Nam và trên
Thế giới.
- Phân tích, đánh giá điều kiện phát triển DLST huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đánh giá hiện trạng du lịch huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
liền với thiên nhiên [25], đƣợc miêu tả qua các chuyến thám hiểm của Herodorus,
Aristotle, Marco Polo, Ibn Batuta.... Trải qua một giai đoạn dài không đƣợc nghiên
cứu và tìm hiểu trong thời kỳ trung cổ, du lịch và các hình thức du lịch gắn với thiên
nhiên đƣợc quan tâm trở lại thông qua nhu cầu của con ngƣời và các dự án gắn liền
với phát triển du lịch trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp. Tuy nhiên, trong giai
đoạn này thì du lịch biển và du lịch núi là hai trào lƣu chính của loại hình du lịch gắn
với thiên nhiên. Với loại hình du lịch gắn với mục tiêu bảo vệ môi trƣờng và đảm bảo
tính chất ban đầu của tự nhiên thì chƣa đƣợc đề cập tới trong thời kỳ này.
Trong nhiều thập kỷ, du lịch trên thế giới đã phát triển rộng rãi và bắt đầu
xuất hiện những ảnh hƣởng tiêu cực đến kinh tế, văn hóa – xã hội và đặc biệt là môi
trƣờng tại những địa điểm khai thác du lịch. Vì vậy, xu hƣớng nghiên cứu về vấn đề
tính bền vững trong khai thác du lịch đang đƣợc các nhà nghiên cứu về du lịch trên
thế giới quan tâm, đặc biệt là gắn liền với môi trƣờng.
Đi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực này phải kể đến một số công trình:
Budowski “Tourism and Environmenttal Consevervation: Conflict, Coexistence or
Symbiosis?” (1976); Tangi, Mathieson&Wall “Tourism: Physical Environmental,
economic and Social impacts” (1982); Lea “Tourism an development in the Third
World” (1988); Buckley&Pannell “Environmental impacts of tourism and
recreation in national parks and conservation reserves” (1990); thuật ngữ “DLST”
đƣợc Hector Ceballos - Lascurain chính thức đƣa ra vào năm 1987 và ngay lập tức
đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp. Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế
(TIES) ba năm sau đó (1990) bƣớc đầu khẳng định vị thế của DLST với tƣ cách là
3
một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch. Trong tuyên
ngôn của mình, Hiệp hội DLST thế giới đã khẳng định sứ mạng của mình là “liên
kết sự cộng tác của hơn 90 quốc gia thành viên và hơn 40 tổ chức DLST quốc tế và
khu vực, có vai trò quan trọng toàn cầu trong việc truyền bá tri thức, hỗ trợ hoạt
Quebec về DLST (Canada). Roberto López-Espinosa de los Montero trong “Đánh
giá vai trò của du lịch sinh thái trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở La Paz Bay,
Baja California Sur, Mexico: Du lịch sinh thái hay du lịch dựa vào tự nhiên?” [30]
đƣợc hoàn thành vào năm 2002. Đóng góp của dự án này chính là đƣa ra cơ sở lý
luận về vai trò của du lịch trong các khu bảo tồn và vƣờn quốc gia, bên cạnh đó
không thể thiếu chính là cơ sở để khai thác nguồn tài nguyên du lịch trong các khu
bảo tồn: du lịch tham quan, du lịch sinh thái,... Từ những phân tích sâu về du lịch
sinh thái và những ảnh hƣởng của loại hình này tới tự nhiên mà các nhà khoa học đã
nhấn mạnh vấn đề “bền vững” gắn với hoạt động du lịch đặc biệt là các loại hình du
lịch trong các khu bảo tồn, vƣờn quốc gia. Với cơ sở lý luận đạt đƣợc nhƣ vậy thì
nghiên cứu này còn đƣợc mở rộng ra nhiều quốc gia khác trên thế giới, trong đó
phải kể tới nghiên cứu tại phía Bắc của Thái Lan do nhà khoa học ngƣời Ireland
thực hiện và hoàn thành năm 2013.
Năm năm sau đó (năm 2007), Hội nghị DLST quốc tế tại Oslo (Nauy) đã
tổng kết những thành công, hạn chế cũng nhƣ thách thức của hoạt động DLST trên
quy mô thế giới và đƣa ra khuyến nghị về 4 lĩnh vực: phát triển bền vững, bảo tồn,
giáo dục và truyền thông và những vấn đề nhạy cảm của DLST.
Những năm gần đây thì nghiên cứu về vấn đề này lại ngày càng đƣợc đề cao:
Campbell, W. Bruce, López Ortíz, Silvia trong dự án “Lồng ghép sản xuất
nông nghiệp với vấn đề bảo tồn và du lịch sinh thái trong sự ảnh hƣởng của xã hội”
đƣợc công bố năm 2012. Bên cạnh việc phân tích các yếu tố trong quá trình sản
xuất nông nghiệp, hay những hoạt động trong công tác bảo tồn các hệ sinh thái cộng
thêm việc đi sâu nghiên cứu các hoạt động từ du lịch gây ảnh hƣởng thế nào tới môi
trƣờng, tự nhiên , con ngƣời và xã hội từ đó dự án đã tìm ra một số ”lỗ hổng” trong
công tác quản lý cũng nhƣ một số ảnh hƣởng gây ra cho cuộc sống hằng ngày của
con ngƣời từ đó đã đề xuất một số hƣớng để giải quyết vấn đề đó [26].
Một nghiên cứu khác cũng xoay quanh vấn đề Du lịch – Cộng đồng – Môi
trƣờng là: Nhận thức của ngƣời dân địa phƣơng về tác động và tầm quan trọng của du
5
các vấn đề DLST, du lịch với môi trƣờng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc và
6
quốc tế quan tâm thảo luận (Gray, J.C. “Phát triển du lịch sinh thái trên cơ sở cộng
đồng”; Cao Văn Sung “Tiềm năng du lịch sinh thái ở Việt Nam”; Phạm Trung Lƣơng
“DLST ở VIệt Nam: Những triển vọng và thách thức đối với sự phát triển”...).
Trong đề tài: “Cơ sở khoa học của phát triển DLST ở Việt Nam” của Viện
nghiên cứu phát triển du lịch với Hội thảo về DLST với phát triển du lịch bền vững
ở Việt Nam (tại Hà Nội, tháng 4/1998), đã tập hợp đƣợc sự đóng góp, tham luận của
nhiều tác giả (Nguyễn Thƣợng Hùng “Phát triển DLST trên quan điểm phát triển
bền vững”, Nguyễn Quang Mỹ & nnk “Kết quả bƣớc đầu nghiên cứu DLST ở Việt
Nam”, Đặng Huy Huỳnh “Vai trò đa dạng sinh học trong phát triển DLST ở Việt
Nam”, Lê Văn Lanh “Sinh thái và quản lý môi trƣờng du lịch ở các VQG Việt
Nam”, Võ Trí Chung “Sinh thái nhân văn trong DLST Việt Nam”...). Các báo cáo
tham luận chủ yếu tổng quan một số khía cạnh lý luận về DLST và đã có một số
nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST ở Việt Nam. Điểm mới của đề tài là đã vận
dụng quan điểm phát triển bền vững vào nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái.
(Phạm Trung Lƣơng, Nguyễn Quang Mỹ & nnk “Kết quả bƣớc đầu nghiên cứu
DLST ở Việt Nam”, Koeman. A. “DLST trên cơ sở phát triển du lịch bền vững”...).
Ngoài ra, nhiều chƣơng trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ, thạc sỹ cũng đã tiếp
cận về các vấn đề du lịch liên quan đến tự nhiên và sinh thái môi trƣờng (Đặng Duy
Lợi, “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện
Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”[6]- luận án PST 1992; Nguyễn Trần Cầu
“Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển”-đề tài 03.18, 1993; Phạm Quang
Anh “Phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hƣớng tổ chức du lịch
xanh ở Việt Nam”
[1]
kinh tế, xóa đói giảm nghèo gắn liền với bảo vệ môi trƣờng những khu vực thiên
nhiên còn tƣơng đối nguyên sơ, bản sắc văn hóa dân tộc bản địa đặc sắc hay với các
khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị sinh thái cao. Dựa trên những cơ sở lý luận đã có
cùng điều kiện tự nhiên và đặc trƣng văn hóa bản địa huyện Mai Châu, tỉnh Hòa
Bình để nghiên cứu thực trạng từ đó tìm ra những giải pháp nhằm phát triển loại
hình du lịch sinh thái ở khu vực này.
1.1.2. Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái
a. Khái niệm về du lịch và DLST
Khái niệm du lịch
Ứng với mỗi hoàn cảnh (thời gian, khu vực), mục tiêu nghiên cứu thì du lịch
lại đƣợc hiểu theo nghĩa khác nhau. Đúng nhƣ một chuyên gia về du lịch đã nhận
định: “đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”.
8
Trong công trình nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thị Sơn đã tổng hợp trong số
những học giả đƣa ra định nghĩa ngắn gọn nhất (tuy không phải là đơn giản nhất)
phải kể đến Ausher và Nguyễn Khắc Viện. Theo Ausher thì du lịch là nghệ thuật đi
chơi của các cá nhân, còn viện sĩ Nguyễn Khắc Viện lại quan niệm rằng du lịch là
sự mở rộng không gian văn hóa của con ngƣời [16].
Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch
họp ở Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa: “Du lịch là tổng hợp các mối
quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và
lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờng xuyên của họ hay ngoài
nƣớc họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lƣu trú không phải là nơi làm việc của
họ” [7]. Định nghĩa này là cơ sở cho định nghĩa du khách đã đƣợc Liên minh quốc tế
các tổ chức du lịch chính thức, tiền thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.
Trong các từ điển tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học Xã hội. Hà Nội
1995), du lịch đƣợc giải thích là đi chơi cho biết xứ ngƣời.
Western – “Ecotourism: Aguide for Planners and Managers” (1993) và
Wight – “Journal of Travel Research” (1993) đã chỉ ra rằng DLST nhƣ là du lịch
liên quan đến việc “khai sáng những kinh nghiệm du lịch tự nhiên”, có trách nhiệm
với môi trƣờng và tôn trọng sự hòa hợp với cộng đồng địa phƣơng.
“DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi. Nó phải
đóng góp vào sự bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương” (L.Hens, 1998).
“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa
và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái,
đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi
ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, 1998).
“DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi
trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi ích cho
sinh thái” (Hiệp hội DLST Australia).
DLST là một khái niệm tƣơng đối mới và đã nhanh chóng thu hút đƣợc sự
quan tâm của nhiều ngƣời hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Đây là một khái
niệm rộng, đƣợc biểu hiện theo nhiều cách khác nhau từ những góc độ khác nhau.
10
DLST còn có thể đƣợc biết đến dƣới nhiều tên gọi khác nhau: “Du lịch dựa
vào thiên nhiên, du lịch môi trường, du lịch đặc thù, du lịch xanh, du lịch thám
hiểm, du lịch bản xứ, du lịch có trách nhiệm, du lịch nhạy cảm, du lịch nhà tranh,
du lịch bền vững” [2].
Đối với một số ngƣời, DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của hai khái
niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy nhiên đứng ở góc nhìn
rộng hơn, tổng quát hơn thì một số ngƣời quan niệm rằng DLST là một loại hình du
lịch liên quan đến thiên nhiên.
Ở Việt Nam, tại hội thảo “Xây dựng chiến lƣợc quốc gia về phát triển DLST
tại Việt Nam” từ 07/09/1999 đến 09/09/1999 đã đƣa ra định nghĩa về DLST:
pháp lý cho DLST phát triển.
- Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cho du lịch sinh thái
Cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) cho phát triển DLST là toàn bộ các
phƣơng tiện kỹ thuật trong nền kinh tế có thể đƣợc sử dụng để đáp ứng các yêu cầu
trong hoạt động và trong quản lý hoạt động của các điểm DLST. Bao gồm hệ thống
kết cấu hạ tầng phục vụ DLST và các điều kiện vật chất kỹ thuật trong ngành du
lịch phục vụ nhu cầu lƣu trú, ăn uống, giải trí, các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu
cầu của khách DLST.
Hệ thống kết cấu hạ tầng đƣợc khai thác cho phát triển DLST là những
phƣơng tiện của toàn xã hội xây dựng nên, nhƣ: Hệ thống đƣờng sá, nhà ga, sân
bay, bến cảng, đƣờng sắt, công viên, mạng lƣới thƣơng nghiệp, hệ thống thông tin
viễn thông, hệ thống điện, ,... Đây là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động KTXH nói
chung và là một trong những điều kiện để khai thác các tài nguyên DL và nâng cao
12
chất lƣợng sản phẩm DL. Ngƣợc lại phát triển du lịch cũng thúc đẩy trở lại việc
hoàn thiện, mở rộng và nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng.
CSVCKTDL là các phƣơng tiện vật chất kỹ thuật của các tổ chức DL giúp
cho việc thoả mãn các nhu cầu của khách DL về ăn, ở, đi lại,... nhƣ khách sạn, nhà
hàng, hệ thống phƣơng tiện vận chuyển, các khu giải trí, cửa hàng, công viên,
đƣờng sá, hệ thống cấp thoát nƣớc, mạng lƣới điện,... trong khu vực cơ sở kinh
doanh du lịch. CSVCKT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận tài nguyên
DLST, góp phần làm tăng cầu của DLST, tăng thêm sức hấp dẫn của tài nguyên
DLST và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu của khách DLST.
- Nguồn nhân lực du lịch sinh thái
Điều kiện về về nguồn nhân lực cho phát triển DLST: phản ánh thông qua số
lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu lao động trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động
DLST trong hiện tại, mức độ đáp ứng nhu cầu của khách DL và khả năng cải thiện
bình và yếu cho từng địa phƣơng và cho toàn vùng.
Trên cơ sở đánh giá tiềm năng và đánh giá các điều kiện để khai thác tài
nguyên DLST, các địa phƣơng tiến hành quy hoạch và chuẩn bị các điều kiện để
triển khai hoạt động DLST một cách có hiệu quả.
c. Nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái
DLST đƣợc phát triển trên cơ sở những nguyên tắc hƣớng tới phát triển bền
vững. Các nguyên tắc đƣợc đảm bảo trong DLST là các nguyên tắc không chỉ cho
các nhà quy hoạch, quản lý, điều hành mà còn cho cả các hƣớng dẫn viên DLST.
Hoạt động DLST cần tuân theo một số nguyên tắc sau [7]:
Nguyên tắc tắc thứ nhất: Có hoạt động giáo dục và diễn giải nhằm nâng cao
hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong của hoạt động DLST tạo ra
sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác. Du
khách khi rời khỏi nơi mình đến tham quan sẽ phải có đƣợc sự hiểu biết cao hơn về
các giá trị của môi trƣờng tự nhiên, về những đặc điểm sinh thái khu vực và văn hóa
bản địa. Dựa trên những hiểu biết đó các du khách sẽ có thái độ cƣ xử đƣợc thể hiện
bằng những nỗ lực tích cự hơn trong hoạt động bảo tồn và phát triển những giá trị
về tự nhiên sinh thái và văn hóa khu vực.
14
Nguyên tắc thứ hai: Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng nhƣ hoạt động của các loại hình khác hoạt động DLST tiềm ẩn những
tác động tiêu cực đối với môi trƣờng và tự nhiên. Nếu nhƣ đối với những loại hình
du lịch khác thì vấn đề bảo vệ môi trƣờng, duy trì hệ sinh thái chƣa phải là những
ƣu tiên hàng đầu thì ngƣợc lại, DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản
quan trọng cần tuân thủ bởi:
- Việc bảo vệ môi trƣờng và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu hoạt
động của DLST.
việc khai thác tự nhiên, đồng thời sẽ nhận thấy ích lợi của việc bảo vệ các nguồn tài
nguyên thiên nhiên để phát triển DLST. Sức ép của cộng đồng đối với môi trƣờng
vốn đã tồn tại từ bao đời nay sẽ giảm đi và chính cộng đồng dân cƣ địa phƣơng sẽ là
những ngƣời chủ thực sự, những ngƣời bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và
văn hóa bản địa nơi diễn ra hoạt động DLST.
d. Một số mô hình DLST trên Thế giới và ở Việt Nam
Du lịch sinh thái ở một số quốc gia trên thế giới
Tuỳ vào điều kiện môi trƣờng sinh thái của các quốc gia mà ngƣời ta phát triển
các loại hình DLST khác nhau, các loại hình du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú:
- Ở Trung Quốc: Ngƣời ta phát triển loại hình DLST cho những ngƣời quan
tâm nghiên cứu khoa học, địa chất do các giáo sƣ môn khoa học địa chất của các
trƣờng đại học hƣớng dẫn. Ngoài ra ngƣòi ta còn tổ chức các hình thức du lịch nhƣ
ngồi bè đi dọc sông Trƣờng Giang để khám phá và thƣởng ngoạn phong cảnh hai
bên bờ sông.
- Inđônêxia: Là một đất nƣớc có địa hình đa dạng với trên 3.000 hòn đảo lớn
nhỏ. Nền văn hoá phong phú và đầy màu sắc riêng nó làm cho du lịch đặc biệt là
DLST ở quốc gia này rất phát triển. Có rất nhiều loại hình du lịch sinh thái đƣợc áp
dụng ở đây nhƣng độc đáo hơn cả là loại hình DLST đi tìm các bộ lạc bị lãng quên
trong rừng sâu.
- Ở Mêhicô: là đất nƣớc với nền văn hoá phong phú, đa sắc tộc, địa hình tự
nhiên, môi trƣờng sinh thái đa dạng nhất là môi trƣờng biển bởi thế hình thức DLST
lặn biển để thăm quan hang động rất đƣợc quan tâm và phát triển ở quốc gia này.
16
- Ở Mông Cổ: Là một đất nƣớc với địa hình sa mạc là chủ yếu, cuộc sống du
mục tạo ra một nền văn hoá riêng có ở Mông Cổ. Rất nhiều du khách quan tâm đến
du lịch ở quốc gia này ở đây ngƣời ta đƣa ra loại hình DLST độc đáo là săn bắn
chim ƣng cùng ngƣời du mục địa phƣơng.
món ăn đặc sản, kiến trúc nghệ thuật, lối sống, sinh hoạt lễ hội và văn hoá dân
gian… loại hình này rất hấp dẫn du khách nƣớc ngoài; một số địa chỉ mà du khách
đặc biệt chú ý là: Bản của ngƣời Thái ở thung lũng Mai Châu - Hoà Bình, Các bản
dân tộc Giao, Thái, Nùng… ở vùng núi Tây Bắc nhƣ SaPa – Lao Cai, Yên Bái,
Điện Biên… và các buôn, sóc, ấp ở núi rừng Tây nguyên.
- Tham quan, nghiên cứu rừng nguyên sinh: Đây là loại hình du lịch sinh thái
phổ biến thu hút nhiều nhóm thị trƣờng khách khác nhau. Đặc biệt là các nhà nghiên
cứu, học sinh sinh viên, khách du lịch nƣớc ngoài. Đây là hoạt động du lịch sinh thái
đƣợc ƣa thích ở nhiều nƣớc trên thế giới; ở Việt Nam, đi bộ trong rừng là hoạt động
chủ yếu kết hợp với các mục đích tham gia nghiên cứu các khu bảo tồn thiên nhiên và
rừng nguyên sinh. Hiện nay loại hình này thƣờng đƣợc phát triển cho du khách đi
thăm quan, đi dạo trong các khu rừng thông, trồng mới, và có thể là các khu rừng sản
xuất…Những địa điểm thu hút nhiều du khách là: Rừng quốc gia Cúc Phƣơng, Cát
Bà, Ba Vì ở Miền Bắc; Cát Tiên ở Miền Nam; Bạch Mã ở Miền Trung…
Đó chỉ là một số loại hình DLST tiêu biểu hiện có và đang đƣợc nhiều du
khách trong và ngoài nƣớc quan tâm. Trên thực tế còn nhiều hình thức khác đã và
dang đƣợc các công ty lữ hành và du khách quan tâm và từng bƣớc đi vào khai thác.
1.2. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU, PHƢƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.2.1. Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Hệ thống tự nhiên đƣợc cấu thành từ nhiều thành phần có quan hệ chặt với
nhau theo những quy luật nhất định tạo thành các đơn vị địa tổng thể. Mỗi địa tổng
thể lại là những thành phần của một hệ thống lớn hơn. Vì vậy, nếu không nghiên
cứu các thành phần tự nhiên trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống tự nhiên,
không nghiên cứu các lãnh thổ trong mối quan hệ với các lãnh thổ xung quanh thì
sẽ không có những nhận định đúng về đặc điểm của địa lý tự nhiên, nguyên nhân
diễn biến và các mối tƣơng quan giữa chúng.
18