Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính tại các công ty niêm yết ở việt nam , luận văn thạc sĩ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRỊNH THANH THANH

TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN
BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRỊNH THANH THANH

TĂNG CƯỜNG THÔNG TIN HỮU ÍCH TRÊN
BÁO CÁO KIỂM TOÁN VỀ BÁO CÁO TÀI
CHÍNH TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT
NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. HÀ XUÂN THẠCH

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013

2.1.2.1 Thu thập và xử lý dữ liệu...................................................................................................... 30
2.1.2.2 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua bảng câu hỏi.............................................. 30
2.1.2.3 Khảo sát thực trạng thông tin thông qua các bài viết................................................. 46
2.2 Đánh giá chung thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty
niêm yết ở Việt Nam................................................................................................................ 49
2.2.1 Những vấn đề đã đạt được....................................................................................................... 49
2.2.2 Những tồn tại................................................................................................................................ 49
2.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại............................................................................................. 52
Kết luận chương 2.................................................................................................................................. 53


Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên báo cáo kiểm toán về báo cáo tài
chính tại các công ty niêm yết ở Việt Nam..................................................................... 54
3.1 Quan điểm về giải pháp................................................................................................................ 54
3.2 Các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về
BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam................................................................... 55
3.2.1 Đối với Bộ tài chính................................................................................................................... 55
3.2.2 Đối với công ty niêm yết.......................................................................................................... 61
3.2.3 Đối với công ty kiểm toán....................................................................................................... 62
3.2.4 Đối với Hội nghề nghiệp kiểm toán..................................................................................... 65
3.2.5 Đối với UBCKNN...................................................................................................................... 66
3.2.6 Đối với người sử dụng BCKT................................................................................................ 68
3.3 Những hạn chế của đề tài............................................................................................................. 68
Kết luận chương 3.................................................................................................................................. 70
KẾT LUẬN.............................................................................................................................................. 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................... 73
PHỤ LỤC.................................................................................................................................................. 77


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết

BCKT

Báo cáo kiểm toán

BCTC

Báo cáo tài chính

CMKiT

Chuẩn mực kiểm toán

CMKT

Chuẩn mực kế toán

DVD

Công ty Cổ phần Dược Viễn Đông

FEE

The Federation of European Accountants (Liên đoàn kế toán Châu Âu)

GAAP

Generally Accepted Accounting Principles (Nguyên tắc kiểm toán được chấp


Kiểm toán viên
The Dutch Professional Accountancy Association (Hiệp hội kế toán nghề

NĐT

nghiệp Hà Lan)

PCAOB

Nhà đầu tư
Public Company Accounting Oversight Board (Ủy ban giám sát các công ty

SAP

niêm yết Hoa Kỳ)

SAS

Statements of Auditing Practice (Thông lệ báo cáo kiểm toán)

SEC

Statement on Auditing Standards (Chuẩn mực báo cáo kiểm toán)

SGDCK

Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ

TTCK


Bảng 2.7: Trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả của cuộc
kiểm toán
Bảng 2.8: Trách nhiệm của KTV trong mối quan hệ với gian lận được thể hiện rõ ràng
trên BCKT
Bảng 2.9: BCKT giải thích rõ ràng các thủ tục kiểm toán chung được thực hiện bởi các
KTV
Bảng 2.10: BCKT hàm ý rằng BCTC được kiểm toán không còn sai sót nào
Bảng 2.11: Cơ sở của ý kiến kiểm toán được thể hiện rõ ràng trên BCKT
Bảng 2.12: BCKT trình bày rõ ràng tính xét đoán của KTV khi hình thành ý kiến kiểm
toán
Bảng 2.13: Đánh giá của KTV về tình trạng hoạt động liên tục


Bảng 2.14: Giải thích về mức trọng yếu thực tế mà KTV đã dựa vào để thực hiện các
thủ tục kiểm toán
Bảng 2.15: Đánh giá về chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ nên được trình bày
trên BCKT
Bảng 2.16: Trình bày các rủi ro có thể dẫn đến sai sót trọng yếu và cách thức của các
nhà quản lý để kiểm soát chúng


1

LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết của đề tài

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, vai trò của KTĐL ngày
càng thể hiện rõ nét hơn cùng với sự ra đời và lớn mạnh của thị trường chứng khoán.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu khái quát và hệ thống các vấn đề liên quan đến BCKT về BCTC và thông
tin trên BCKT, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin trên BCKT về BCTC tại
các công ty niêm yết. Các nội dung này sẽ là cơ sở cho phần nghiên cứu thực trạng và
các nguyên nhân tồn tại.
Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC thông qua
khảo sát thực trạng nhận thức của người sử dụng đối với các thông tin trên BCKT
bằng bảng câu hỏi và các bài viết liên quan đến thông tin trên BCKT về BCTC của các
công ty niêm yết tại Việt Nam. Từ đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng
cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt
Nam.
3.

Tổng quan những nghiên cứu liên quan

Những nghiên cứu trước đây trên thế giới liên quan đến đề tài chủ yếu là các nghiên
cứu riêng lẻ, ngắn về thực trạng thông tin trên BCKT qua các giai đoạn phát triền. Tác
giả cũng trình bày tóm tắt một số nghiên cứu và quan điểm trên thế giới liên quan đến
thông tin trên BCKT về BCTC trong chương 1. Do nội dung khá dài nên tác giả đã
đưa một số tóm tắt nghiên cứu vào phụ lục để người đọc có thể tham khảo thêm.
Phần này tác giả tóm tắt nội dung một vài nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài
mà tác giả tìm thấy được:
-

Xây dựng cơ chế kiểm toán chất lượng cho hoạt động KTĐL tại Việt Nam, luận

văn tiến sĩ kinh tế, Trần Khánh Lâm, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Luận
án đề xuất các quan điểm xây dựng cơ chế và giải pháp hoàn thiện cơ chế KSCL hoạt



Như Nguyệt, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: Nghiên cứu này giúp người
viết nhìn nhận được thực tế việc vận dụng và sự hiểu biết của các đối tượng liên quan
đối với VSA số 700 về BCKT thông qua khảo sát một số đối tượng liên quan đến
BCKT tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ việc tìm hiểu lý thuyết và tiếp cận thực tế,
người viết đã đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện VSA về BCKT.


4

4.

Phạm vi, đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu
Ở Việt Nam, nhu cầu kiểm toán chủ yếu tập trung cho các doanh nghiệp bắt buộc phải
kiểm toán theo pháp luật Việt Nam. Có thể nhận thấy BCKT về BCTC của doanh
nghiệp niêm yết là phổ biến nhất, số liệu được công bố trên phương tiện thông tin đại
chúng để phục vụ chủ yếu cho các nhà đầu tư, các nhà quản trị doanh nghiệp, các chủ
nợ…Nghiên cứu này sẽ giới hạn phạm vi đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về
BCTC tại các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
4.2

Đối tượng nghiên cứu

Dựa trên các công trình nghiên cứu liên quan và mục đích của đề tài, tác giả xác định
đối tượng nghiên cứu của đề tài là thông tin trên BCKT về BCTC và các yếu tố tác
động đến thông tin trên BCKT về BCTC. Để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu, tác giả
sử dụng các câu hỏi nghiên cứu sau:
-

thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết.
-

Trình bày lược sử hình thành thông tin trên BCKT, hình thức và nội dung cơ

bản của BCKT chấp nhận toàn phần theo quy định của ISA.
- Nêu các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến đề tài để tham khảo và đánh
giá.
-

Đánh giá thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC tại các công ty niêm yết và

các yếu tố tác động.
-

Đề xuất các kiến nghị và giải pháp để tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT

về BCTC tại các công ty niêm yết.
KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng, biểu đồ, kết luận, tài
liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Thực trạng thông tin trên BCKT về BCTC của các công ty niêm yết ở Việt
Nam.
Chương 3: Tăng cường thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC của các công ty niêm
yết ở Việt Nam.


6


tin vào thông tin được cung cấp bởi các nhà quản lý. Đồng nghĩa với nhu cầu thông tin
được cung cấp bởi các nhà quản lý cần được kiểm toán.
- Lý thuyết cảm tính (Limperg’s Theory of Inspired Confidence)
Lý thuyết này được phát triển vào cuối những năm 1920 bởi giáo sư người Hà Lan
Theodore Limperg (Hayes và các cộng sự, 1999:36). Dưới lý thuyết này, thông tin
được kiểm toán bởi KTV sẽ cung cấp độ tin cậy cao hơn không chỉ mang lại lợi ích
cho cổ đông mà cho toàn xã hội. Ví dụ như trong trường hợp công ty bị phá sản không
chỉ ảnh hưởng đến cổ đông mà ảnh hưởng rất nhiều đến các đối tượng sử dụng BCTC
khác như các chủ nợ, các nhà cung cấp… Và tùy vào mức độ đảm bảo mà KTV cung
cấp các dịch vụ kiểm toán khác nhau, phù hợp với mong đợi của người sử dụng dịch
vụ kiểm toán. Lý thuyết niềm tin cảm tính kết nối nhu cầu của cộng đồng về tính đáng
tin cậy của thông tin tài chính với khả năng của những kỹ thuật kiểm toán để thỏa mãn
các nhu cầu này. Theo thuyết niềm tin cảm tính sự tồn tại của chức năng kiểm toán có
nguồn gốc từ niềm tin của cộng đồng vào sự hiệu quả của hoạt động kiểm toán, vào ý
kiến kiểm toán. Niềm tin này là điều kiện cho sự tồn tại của chức năng kiểm toán. Nếu
như niềm tin này mất đi, chức năng kiểm toán cũng sẽ không còn bởi nó không còn
hữu dụng. Liên quan đến đề tài, qua lý thuyết này có thể thấy được chức năng của
kiểm toán là nâng cao độ tin cậy của thông tin tài chính. Tuy nhiên, chức năng này chỉ
tồn tại khi cộng đồng còn tin tưởng, đặt niềm tin vào KTV, vào công ty kiểm toán.
- Lý thuyết ủy nhiệm (Agency Theory)
Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng, nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (cổ đông và người
quản lý công ty) đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người
quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức
các cổ đông của công ty. Các đặc tính tự nhiên của quan hệ ủy nhiệm dẫn đến giả thiết
rằng, các cổ đông cần thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty
nhằm đảm bảo lợi ích của mình. Lý thuyết ủy nhiệm nhấn mạnh rằng các cổ đông cần
phải sử dụng các cơ chế thích hợp để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông


8


9

cẩn nghiêm trọng thì KTV có thể chịu trách nhiệm đối với bên hưởng lợi thứ ba. Trong
khoảng thời gian này, mức tăng trưởng trong con số của những thành viên tham gia
vào thị trường chứng khoán dẫn đến việc chính phủ đã quyết định đưa ra những quy
luật cho thị trường chứng khoán nhằm bảo vệ đầu tư trong chứng khoán. Các quy luật
này bắt đầu ra đời vào năm 1934, khi đó xảy ra một vụ sụp đổ chứng khoán khổng lồ
Great Cash, Quốc hội đã thông qua các đạo luật giao dịch và đảm bảo. Từ đây đã hình
thành nên SEC. SEC nắm giữ các quy tắc được bắt đầu từ đạo luật và tiếp tục sửa đổi
bổ sung những sai sót, những quy định cho nhà đầu tư. Bao gồm cả việc giám sát thủ
tục của công ty phát hành cổ phiếu ra công chúng và đảm bảo các thông tin liên quan
cho các nhà đầu tư tiềm năng. Ngoài ra SEC cũng giám sát các hoạt động hàng ngày
của sở giao dịch chứng khoán và đảm bảo an ninh giao dịch cho nhà đầu tư. Sau các sự
kiện này đã dẫn đến kết quả là BCKT chuẩn ra đời gồm hai đoạn.
Năm 1947, nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi tại Mỹ ra đời đã xác lập chuẩn
mực báo cáo. Năm 1948, SAP 24 ra đời đã điều chỉnh BCKT tiêu chuẩn với các từ ngữ
được sử dụng phù hợp với chuẩn mực đã xác lập. Tuy nhiên vẫn là báo cáo dạng ngắn,
gồm 2 đoạn.
Vào năm 1974, Liggio lần đầu tiên định nghĩa về “khoảng cách kỳ vọng” là khoảng
cách giữa mong đợi và thực tế. Vào năm 1978, Ủy ban Cohen đã báo cáo về khoảng
cách giữa mong đợi và thực tế về trách nhiệm của KTV đề cập những hành động cần
thiết của KTV để rút ngắn khoảng cách này. Năm 1988, SAS 58 ra đời hoàn thiện
BCKT tiêu chuẩn với đặc điểm là giải thích rõ hơn về công việc và trách nhiệm của
KTV cũng như những hạn chế tiềm tàng của KTV và hình thành báo cáo 3 đoạn. Vào
năm 1994, ISA 700 “BCKT về BCTC” ra đời sử dụng kiểu báo cáo dài tương tự SAS
58.
Vào năm 2005, ISA 700 được ban hành mới, tiếp tục bổ sung BCKT chuẩn, có hiệu
lực thi hành từ 31.12.2006, tập trung vào các BCKT trong trường hợp chấp nhận toàn
phần không có nhấn mạnh, các điều chỉnh được chuyển sang ISA 701 tập trung vào

1.2.2 Thông tin hữu ích trên BCKT về BCTC
Thông tin trên BCKT có vai trò quan trọng đối với các đối tượng sử dụng là do tính
hữu ích mà nó mang lại. Thông tin nói chung tự bản thân nó không có tính hữu ích thật
sự. Do vậy, chính những tính chất đặc trưng của thông tin mới làm cho nó trở nên hữu
ích qua việc thông tin phải được quan tâm, được tin cậy và sử dụng để mang lại lợi
ích. Các tính chất làm cho thông tin trên BCKT trở nên hữu ích xoay quanh ba tính
chất đặc trưng của thông tin là thích hợp, đầy đủ và có thể hiểu.
-

Tính thích hợp: Tính thích hợp là tiêu chuẩn thể hiện chất lượng của thông tin,

bao gồm tính phù hợp và tính đáng tin cậy


Tính phù hợp: Thông tin có thể giúp người sử dụng thiết lập được các dự báo

về kết quả của các sự kiện trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, xác nhận hoặc hiệu
chỉnh các kỳ vọng.


Tính đáng tin cậy: Tính đáng tin cậy rất quan trọng đối với thông tin. Thông tin

đáng tin cậy phải được người sử dụng đặt niềm tin vào đó để ra quyết định. Thông tin
trên BCKT được trình bày trên sự độc lập, chính trực, khách quan của KTV.


Mặt khác thông tin thích hợp phải mang tính kịp thời, nghĩa là thông tin có

được cho người ra quyết định trước khi nó mất tác dụng.
-

trên BCKT nữa là sự tương tác với các CMKT. Khi CMKT thay đổi thì CMKiT cũng
thay đổi theo. Ví dụ cho trường hợp này là sự phát triển của CMKT trong việc xử lý sự
thay đổi chính sách kế toán và tình huống chưa rõ ràng. Đối với sự thay đổi chính sách
kế toán, theo SAS 2 (1974) thì KTV phải nhận xét rằng việc áp dụng chính sách kế
toán có nhất quán không và sự thay đổi chính sách kế toán sẽ dẫn đến một ý kiến ngoại
trừ mặc dù các khai báo cần thiết đã thực hiện. Sau đó theo SAS 58 (1988), nếu doanh
nghiệp đã thỏa mãn ba điều kiện (chính sách mới được áp dụng bởi chuẩn mực, xử lý
đúng ảnh hưởng của sự thay đổi và người quản lý giải trình được về sự thay đổi) thì ý
kiến chấp nhận toàn phần sẽ được đưa ra cùng với đoạn nhấn mạnh.
-

Quy định liên quan đến công bố thông tin đối với các công ty niêm yết: Đối với

thị trường chứng khoán thì yêu cầu về minh bạch thông tin tài chính mang tính sống
còn. Ngoài hệ thống CMKT, CMKiT còn có các quy định về công bố thông tin. Với
các quy định chặt chẽ, hoàn thiện sẽ gia tăng tính minh bạch thông tin thông qua gia
tăng tính kịp thời, đầy đủ và dễ hiểu của thông tin.
Nhận thức không đầy đủ của người sử dụng BCKT đối với sự phức tạp của
các thuật ngữ chuyên môn trên BCKT.


13

1.2.4 Hình thức và các nội dung cơ bản của BCKT
Nội dung của phần này sẽ trình bày về hình thức và các nội dung cơ bản của một
BCKT tiêu chuẩn căn cứ vào ISA 700 “Hình thành ý kiến kiểm toán và BCKT về
BCTC”, có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 12 năm 2009, phiên bản mới nhất của
ISA 700. Chuẩn mực quy định và hướng dẫn trách nhiệm của KTV trong việc đưa ra ý
kiến kiểm toán về BCTC. Chuẩn mực này được áp dụng cho cuộc kiểm toán một bộ
BCTC đầy đủ cho mục đích chung. Theo ISA 700, hình thức và nội dung của một

Trách nhiệm của Ban giám đốc đối với BCTC
Mục này trong BCKT mô tả trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm lập và
trình bày BCTC tại đơn vị được kiểm toán. BCKT không nhất thiết phải đề cập một


14

cách cụ thể đến “Ban Giám đốc” mà sẽ sử dụng thuật ngữ thích hợp, tùy thuộc vào
từng trường hợp.
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của Ban Giám đốc (hay một
thuật ngữ thích hợp khác)”.
BCKT phải mô tả trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc lập và trình bày BCTC,
trong đó giải thích thêm rằng Ban Giám đốc chịu trách nhiệm lập và trình bày BCTC
theo khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng, và chịu trách nhiệm về
KSNB mà Ban Giám đốc xác định là cần thiết để đảm bảo cho việc lập và trình bày
BCTC không có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn.
Trong trường hợp BCTC được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, phần giải thích
về trách nhiệm của Ban Giám đốc đối với BCTC trong BCKT phải đề cập đến “trách
nhiệm lập và trình bày trung thực và hợp lý BCTC của Công ty”.
Trách nhiệm của KTV
BCKT phải bao gồm một mục có tiêu đề là “Trách nhiệm của KTV”.
BCKT phải nêu rõ trách nhiệm của KTV là đưa ra ý kiến về BCTC dựa trên kết quả
cuộc kiểm toán.
BCKT phải nêu rõ rằng công việc kiểm toán đã được tiến hành theo các ISA. BCKT
cũng phải giải thích rằng các chuẩn mực đó yêu cầu KTV phải tuân thủ chuẩn mực và
các quy định về đạo đức nghề nghiệp, phải lập kế hoạch và thực hiện cuộc kiểm toán
để đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc BCTC có còn sai sót trọng yếu hay không.
BCKT phải mô tả về cuộc kiểm toán bằng cách nêu rõ:
(a)


Khi đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC được lập theo khuôn khổ về tuân
thủ, ý kiến kiểm toán phải nêu rõ là BCTC đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu,
tuân thủ khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng.
Nếu khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng được đề cập đến trong ý kiến
kiểm toán không phải là chuẩn mực lập và trình bày BCTC quốc tế do Uỷ ban CMKT
Quốc tế ban hành thì ý kiến kiểm toán phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập
và trình bày BCTC đó.
Căn cứ vào ISA hiện hành, mục tiêu của KTV là đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC
trên cơ sở đánh giá các kết luận rút ra từ bằng chứng kiểm toán thu thập được và trình
bày ý kiến kiểm toán một cách rõ ràng bằng văn bản, trong đó nêu rõ cơ sở của ý kiến
đó. Tính trọng yếu là sự cân nhắc chủ yếu khi KTV hình thành ý kiến kiểm toán.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng


16

BCTC. Đánh giá tính trọng yếu phụ thuộc vào xét đoán của KTV, đây là một việc thật
sự khó khăn. Theo ISA’s phân biệt bốn loại ý kiến kiểm toán:
-

Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi KTV kết luận rằng

BCTC đã được lập trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình
bày BCTC được áp dụng.
Trong dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có thêm dạng ý kiến chấp nhận toàn phần có
đoạn nhấn mạnh hoặc đoạn vấn đề khác khi muốn lưu ý người đọc BCTC về một vấn
đề không ảnh hưởng đến ý kiến của KTV.
-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status