Thực trạng tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập của Việt
Nam
2.1. Thực trạng tăng trưởng kinh tế
2.1.1. Thành tựu về tăng trưởng kinh tế
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế
hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tái
cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, thực hiện mở cửa
nền kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác với nước ngoài,… Nền kinh tế nước ta
đã đạt được những thành tựu tăng trưởng đáng kể. Sau đây là một số chỉ tiêu
nổi bật đánh giá thành tựu đã đạt được của tăng trưởng.
- Về tốc độ tăng trưởng.
Từ khi đổi mới chính sách kinh tế (năm1986) đến nay nền kinh tế Việt
Nam đã trải qua nhiều biến động tuy nhiên điều đáng nói ở đây là Việt Nam đã
vượt qua tình trạng khó khăn và đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều
năm liền.
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 1986-2008
Nguồn: Niên giám thống kê
Giai đoạn1986-1990, đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới, nền kinh
tế gặp phải rất nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng còn thấp, chỉ đạt mức
4.9%/năm. Tuy nhiên đây cũng là giai đoạn mở đầu cho sự thay đổi cơ cấu
kinh tế, mở ra cho đất nước một giai đoạn mới với nhiều thành tựu.
Giai đoạn 1991-1995, với động lực của tăng trưởng kinh tế là công
nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn được cải thiện và ở mức cao, đạt tới
đỉnh điểm là 9.5% (1995) mức tăng trưởng cao nhất đạt được từ trước tới giờ.
Giai đoạn cũng đánh dấu những bước đầu tiên của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giai đoạn 1996-2000, khoảng thời gian tốc độ tăng trưởng kinh tế có
chiều hướng đi xuống, do chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới,
tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm chỉ đạt 7%/năm giảm so với giai đoạn
trước
Giai đoạn từ 2001 cho đến nay tăng trưởng kinh tế nước ta đã đạt được
những bước tiến mới. Thời kỳ 2000-2007, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính-
vào năm 2008. Mặc dù tỷ trọng nông – lâm – ngư nghiệp trong cơ cấu kinh tế
quốc dân có xu hướng giảm dần, nhưng khu vực kinh tế này vẫn giữ vai trò
chủ đạo trong sự phát triển kinh tế của đất nước và có mức tăng trưởng ổn
định trong nhiều năm liền. Cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đang chuyển
dịch theo hướng phát huy lợi thế về tài nguyên sinh học đa dạng, chuyển mạnh
sang phát triển các loại cây con có giá trị kinh tế cao và có khả năng cạnh tranh
trên thị trường. Trình độ kỹ thuật của sản xuất được nâng cao rõ rệt, đầu tư cơ
sở hạ tầng ở nông thôn được chú trọng. Đời sống vật chất và tinh thần của dân
cư theo đó được cải thiện nhiều hơn.
Công nghiệp được phát triển với tốc độ cao và ngày càng thể hiện rõ hơn
vai trò nòng cốt cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu công
nghiệp được điều chỉnh theo hướng phát triển mạnh các ngành công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu trong nước và phục vụ xuất khẩu,
phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp nặng. Theo đó, các ngành
công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản được phát triển
mạnh. Công nghiệp nặng được phát triển tập trung hơn vào các ngành điện
lực, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, hoá chất, khai thác khoáng sản… Cùng
với quá trình đổi mới công nghệ và mở rộng quy mô của các doanh nghiệp
hiện có, hàng loạt doanh nghiệp mới với trình độ kỹ thuật hiện đại đã làm thay
đổi bộ mặt công nghiệp của đất nước.
Tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ trong GDP cũng có xu hướng tăng
lên và ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Hoạt động dịch
vụ với trình độ công nghệ ngày càng hiện đại phục vụ thiết thực yêu cầu của
sản xuất, và đời sống nhân dân. Các loại hình dịch vụ được phát triển đa dạng,
bên cạnh loại hình dịch vụ truyền thống, hàng loạt loại hình dịch vụ mới đã ra
đời phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
Cũng nhờ sự phát triển của các ngành công nghiệp mà các ngành thương mại
– dịch vụ, giao thông vận tải cũng có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, tạo
điều kiện cho các loại hình dịch vụ khác phát triển theo.
- Về đóng góp của các thành phần kinh tế
2005 39.0 46.7 15.5 8.56 7.23 10.23
Nguồn: Tổng cục
thống kê
Cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển biến khá rõ nét. Có thể nói tăng
trưởng kinh tế cao trong những năm qua là nhờ sự đóng góp rất lớn của khu
vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Mở rộng các cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, khuyến
khích đầu tư trong nước của khu vực tư nhân, đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ
gia đình, đưa ra những chính sách, văn bản pháp lý hỗ trợ việc đẩy mạnh sản
xuất kinh doanh…khiến cho quy mô sản xuất khu vực kinh tế ngoài nhà nước
ngày càng được mở rộng và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng.
Việc triển khai thực hiện các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tiếp nhận
được một số kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong một số ngành kinh tế như
thông tin viễn thông, thăm dò dầu khí, sản xuất phụ tùng, lắp ráp xe máy, hoá
chất, trồng trọt theo công nghệ tiên tiến, công nghệ chế biến thực phẩm… tiếp
nhận kinh nghiệm, phương pháp quản lý kinh doanh góp phần quan trọng trong
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tỷ trọng đóng góp của khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong GDP dần tăng lên.
- Về cơ cấu lao động
Kết quả của việc chuyển dịch cơ cấu hoạt động sản xuất nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ cũng làm cho cơ cấu lao động dịch chuyển theo.
Lao động trong nông nghiệp giảm từ 73.02% từ những năm 90 xuống còn
71.25% vào năm 95, tiếp tục giảm xuống còn 65.09% vào năm 2000 và chỉ còn
56.8% vào năm 2005, thay vào đó là sự tăng lên của lao động tham gia vào
các ngành công nghiệp và dịch vụ. Cơ cấu lao động nước ta đã có những
bước chuyển biến tích cực.
Bảng 3: Cơ cấu lao động Việt Nam phân theo nhóm ngành kinh tế
1990 1995 2000 2005
NN 73.02 71.25 65.09 56.8
CN 11.24 11.36 13.11 17.9
nhà nước
Khu vực có vốn
đầu tư nước
ngoài
Tỷ
đồng
%
Tỷ
đồng
%
Tỷ
đồng
% Tỷ đồng %
1995 72447 100 30447 42 20000 27.6 22000 30.4
2000 151183 100 89417 59.1 34594 22.9 27172 18
2005 343135 100 161635 47.1 130398 38 51102 14.9
2006 404712 100 185102 45.7 154006 38.1 65604 16.2
2007 532093 100 197989 37.2 204705 38.5 129399 24.3
2008 637376 100 184435 28.9 263081 41.3 189960 29.8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cơ cấu vốn đầu tư đã có sự dịch chuyển đáng kể. Đầu tư cho khu vực
kinh tế nhà nước có xu hướng giảm dần từ 42% năm 1995 xuống còn 28.6%
năm 2008, thay vào đó là đầu tư cho khu vực kinh tế ngoài nhà nước tăng lên
hơn 40% trong năm 2008 và giữ một vị trí quan trọng trong cơ cấu vốn đầu tư.
Nhờ Đảng và nhà nước ta tạo điều kiện thông thoáng, khuyến khích đầu
tư nước ngoài vào những lĩnh vực ưu tiên, sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật
hiện đại nhằm phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; ưu
tiên đầu tư vào địa bàn miền núi, vùng sâu vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn, kinh tế tăng trưởng khá ; thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài tiếp tục tăng và đạt kết quả cao. Nếu tính nguồn vốn đăng ký thì năm
ứng được nhu cầu của các nước trên thế giới.
Xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực
ngoài nhà nước đã có mức tăng trưởng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
Mở rộng quan hệ quốc tế giúp Việt Nam thu hút được khoản vốn đầu tư
nước ngoài lớn lên tới 16 tỉ USD chiếm 20% GDP (năm 2007), tạo nguồn lực
cho tăng trưởng kinh tế, phát triển ngành nghề, tạo công ăn việc làm cho người
dân. Từ đó góp phần cải thiện thu nhập của người dân.
2.1.2. Những mặt hạn chế của tăng trưởng kinh tế
Mặc dù tăng trưởng Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi
nhận nhưng trong đó không phải là không có những thiếu sót đáng lưu tâm.
- Chất lượng tăng trưởng còn thấp.
Nước ta trong thời gian qua mặc dù đã có nhiều biến chuyển tích cực
xong nó vẫn là quá chậm để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển với các
nước trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt trong năm 2008 nền kinh tế nước
ta đã phải chống đỡ với một cơn khủng hoảng kinh tế mới, lạm phát tăng cao,
nền kinh tế có dấu hiệu giảm sút trong năm 2009, điều này chứng tỏ kinh tế
Việt Nam vẫn còn nhiều yếu điểm, dễ rơi vào khủng hoảng, suy thoái.
Kinh tế tăng trưởng chủ yếu là theo chiều rộng, chủ yếu nhờ vào sự đóng
góp của nguồn nhân lực rồi dào và từ nguồn vốn, yếu tố công nghệ còn chiếm
một tỷ trọng thấp trong tăng trưởng kinh tế.
Bảng 5: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP theo
tỷ lệ %
thời kỳ 1993-1997 1998-2002 2003-2006
Vốn 69.3 57.4 52.73
Lao động 15.9 20.0 19.07
TFP 14.8 22.6 28.2
Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương và Thời báo kinh tế Việt
Nam
Mặc dù chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện, mức độ đóng góp của
đầu người đã được cải thiện nhưng cùng với tốc độ tăng trưởng cao là sự gia
tăng bất bình đẳng. Đầu tiên ta sẽ đi xem xét sự thay đổi hệ số Gini của Việt
Nam trong những năm gần đây.
Bảng 6: Hệ số Gini của Việt Nam
Năm 1993 1998 2002 2004 2006
Gini theo thu nhập 0.35 0.39 0.42 0.41 0.43
Gini theo chi tiêu 0.34 0.35 0.37 0.37 0.36
Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam
Có thể thấy tăng trưởng kinh tế cao nhưng đi cùng với nó là sự gia tăng
về hệ số Gini. Hệ số Gini tính theo thu nhập và theo chi tiêu của cả nước luôn
ở mức cao, biểu hiện tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở nước ta là khá lớn.
- Chênh lệch thu nhập các nhóm giàu nghèo
Biểu đồ 3: Mức độ gia tăng hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu
nhất và nhóm nghèo nhất ở Việt Nam.
Nguồn: Tổng cục thống kê