MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở NƯỚC TA TRONG NHỮNG NĂM TỚI - Pdf 67

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÁT HÀNH
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở NƯỚC TA
TRONG NHỮNG NĂM TỚI.
3.1 – Nhu cầu vốn đầu tư phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt
Nam từ nay cho tới năm 2015.
3.1.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2015.
Trong các văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc trong những năm gần đây
của Đảng đã quyết định Chiến lược phát triển KTXH 2005 – 2015 với mục tiêu
tổng quát là:
Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật
chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp hoá theo hướng hiện đại. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
được hình thành về cơ bản; vị trí của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
Mục tiêu tổng thể của Chiến lược đã được cụ thể hoá bằng các mục tiêu
sau:
• Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền
kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu
sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô; cán cân thanh toán quốc
tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ; bội chi ngân sách, lạm phát, nợ nước ngoài
được kiểm soát trong giới hạn an toàn và tác động tích cực đến tăng trưởng.
Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30%GDP. Nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2
lần nhịp độ GDP. Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp là 16 đến 17%, công
nghiệp là 40 – 41%.
• Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta. Tốc độ tăng
dân số đến năm 2015 còn khoảng 1,1%. Xoá hộ đói, giảm nhanh hộ nghèo. Giải
quyết việc làm ở cả thành thị và nông thôn (thất nghiệp ở thành thị dưới 5% quỹ
thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn khoảng 80 – 85%); nâng tỷ lệ
người lao động được đào tạo nghề lên khoảng 40%. Trẻ em đến tuổi đi học đều
được đến trường; hoàn thành phổ cập trung học cơ sở trên cả nước. Người có

52 tỷ USD, chiếm 36% tổng nguồn vốn.
Dự kiến phân định các chủ thể đầu tư như sau:
• Nguồn vốn đầu tư được bố trí trong dự toán NSNN hàng năm chiếm tỷ trọng 23
– 24% tổng vốn đầu tư, tương đương 35 -36 tỷ USD ( nguồn vốn này dự kiến sẽ
dành khoảng 65 – 70% để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng
kinh tế và khoảng 30 – 35% kết cấu hạ tầng xã hội).
• Nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước chiếm tỷ trọng 17 -18% tổng vốn đầu tư,
tương đương 27 – 28 tỷ USD.
• Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng 17 – 18% tổng vốn
đầu tư, tương đương 26 – 27 tỷ USD.
• Vốn đầu tư từ khu vực dân cư và doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng 24 –
25% tổng vốn đầu tư, tương đương 36 – 37 tỷ USD.
• Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm tỷ trọng 16 - 17% tổng vốn đầu tư,
tương đương 25 – 26 tỷ USD.
Đối với NSNN: với mức phấn đấu thu ngân sách bình quân hàng năm đạt tỷ
lệ 20 – 21% GDP, trong đó thuế và phí khoảng 18 – 20%. Bội chi ngân sách và
lạm phát được khống chế ở mức độ hợp lý (bội chi NSNN: 5% GDP; lạm phát:
6 – 8%/năm). Trên cơ sở đó, dự tính cân đối ngân sách thời kì 2005 – 2015 như
sau:
- Tổng thu Ngân sách khoảng 1.805 nghìn tỷ đồng.
- Tổng chi Ngân sách khoảng 2.276 nghìn tỷ đồng, trong đó:
+ Chi thường xuyên và trả nợ 1.590 nghìn tỷ đồng, chiếm 69,8%
tổng số chi NSNN
+ Chi ĐTPT 686 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,2% tổng chi NSNN.
- Bội chi ngân sách cả giai đoạn 2005 – 2015 là 471 nghìn tỷ đồng; trong
đó, dự kiến vay trong nước là 309 nghìn tỷ đồng, vay nước ngoài là 162 nghìn
tỷ đồng. Số tiền bội chi này Nhà nước phải huy động thêm, mục tiêu của yếu là
dành cho ĐTPT. Giai đoạn 2006 – 2010 chúng ta còn phải huy động cho NSNN
khoảng 347 nghìn tỷ đồng, trong đó, vay trong nước 225 nghìn tỷ đồng, vay
nước ngoài 122 nghìn tỷ.

hàng, công ty chứng khoán hoặc các tổ chức kinh tê khác có thể tham gia vào
thị trường OTC và kiểm soát được các rủi ro; cơ chế giám sát cũng cần được
thiết lập để chống lại các rủi ro của hệ thống tài chính.
3.1.3.2 Giai đoạn 2011 – 2015.
Sau khi hoàn thành được các mục tiêu trong giai đoạn trên, cùng với việc
đi vào hoạt động của thị trường OTC nhất thiết phải hình thành được thị trường
mua lại để nâng cao tính thanh khoản của thị trường. Cần quan tâm đến kỹ năng
quản lý rủi ro của những thành viên tham gia thị trường và cần được cải thiện
một cách đáng kể trong giai đoạn này.
Để thị trường có tín thanh khoản, cần thiết phải có dịch vụ thông tin về giá
cả. Việc sử dụng thông tin của các nhà cung cấp như Reuter, Bloomberg có thể
còn quá đắt so với các tổ chức tài chính của Việt Nam ở giai đoạn đầu. Do đó,
sẽ là hữu ích nếu xem xét cân nhắc sử dụng hệ thống thông tin nối mạng (như
của Thái Lan đang làm), thông qua đó các thành viên tham gia thị trường có thể
tiếp cập thông tin với giá không quá đắt. Trong giai đoạn này, Chính phủ Việt
Nam có thể đa dạng hoá các trái phiếu của mình, qua đó đường cong lợi nhuận
của thị trường sẽ được thiết lập trong tương lai dài hạn, hệ thống thanh toán bù
trừ cũng cần được nâng cấp.
3.1.3.3.Giai đoạn từ 2015 trở đi.
Ở giai đoạn này có thể xem xét khả năng các tổ chức tài chính đa quốc gia
phát hành trái phiếu bằng đồng Việt Nam tại thị trường trong nước. Qua đó,
những trái phiếu này sẽ đóng vai trò là trái phiếu chuẩn cùng với TPCP.
Việc có được một đường cong lợi nhuận chuẩn và tăng tính thanh khoản
của thị trường TPCP sẽ được coi là những điều kiện cơ bản cho việc phát triển
thị trường TPCP, thị trường vốn của Việt Nam.
3.2 – Những giải pháp hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu Chính phủ
cho đầu tư phát triển ở nước ta.
3.2.1 Các giải pháp về cơ chế chính sách và tổ chức bộ máy.
3.2.1.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động vốn và cơ chế phát hành công
trái XDTQ.

hành Nghị định về cơ chế chuyển giao, nhượng bán có thời hạn các công trình
được Nhà nước đầu tư đã hoàn thành và đang được khai thác có hiệu quả.
Bên cạnh việc phát hành TPCP huy động vốn cho NSNN và cho ĐTPT,
trong trường hợp đặc biệt, cần huy động một khối lượng vốn lớn trong một thời
gian ngắn, có thể tổ chức các đợt phát hành công trái XDTQ với cơ chế phát
hành, thanh toán đã được cải tiến, phục vụ nhanh chóng, thuận tiện cho người
mua. Lãi suất công trái được xác định trên cơ sở bảo đảm lợi ích của người đầu
tư, kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và động viên tinh thần yêu nước của tầng
lớp nhân dân.
Nguồn vốn huy động từ phát hành công trái được đầu tư cho các công trình
có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí và đời sống
tinh thần cho người dân ở các vùng sâu, vùng xa, có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn.
Sau Pháp lệnh về phát hành Công trái XDTQ số 12/1999/PL-
UBTVQH10 ngày 27/4/1999 đến nay, chưa có Nghị định hướng dẫn thực hiện
Pháp lệnh như điều 17 của Pháp lệnh đã quy định mà chỉ có Nghị định cụ thể
phát hành từng đợt. Vì vậy, mỗi lần phát hành công trái tốn khá nhiều thời gian
trong việc xây dựng và ban hành Nghị định cũng như các văn bản dưới luật và
công tác triển khai thực hiện. Từ tình hình trên, để thực hiện cải cách thủ tục
hành chính, cần soạn thảo một Nghị định chung về phát hành công trái xây
dựng tổ quốc, theo hướng Chính phủ giao cho Bộ Tài chính quyết định khối
lượng, lãi suất và thời điểm phát hành từng đợt để KBNN hướng dẫn việc tổ
chức triển khai phát hành công trái XDTQ.
3.2.1.2 Nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá phát hành TPCP.
Sau khi thành lập cơ quan quản lý nợ quốc gia, cơ quan này sẽ có nhiệm vụ
phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng kế hoạch huy
động vốn cho ĐTPT, phù hợp với nhu cầu đầu tư của Nhà nước và khả năng của
thị trường, đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả, tiết kiệm chi phí cho NHNN.
Kế hoạch huy động vốn được xây dựng theo từng chủ thể phát hành, bao
gồm các nội dung chủ yếu sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status