Tác động của tài sản có rủi ro đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của ngân hàng TMCP việt nam - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TÚ KIM UYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA TÀI SẢN CÓ RỦI RO ĐẾN TỶ SUẤT
SINH LỢI CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG TMCP
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, Tháng 11 Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TÚ KIM UYÊN

TÁC ĐỘNG CỦA TÀI SẢN CÓ RỦI RO ĐẾN TỶ SUẤT
SINH LỢI CHỨNG KHOÁN CỦA NGÂN HÀNG TMCP
VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN TẤN HOÀNG


Lý do nghiên cứu ............................................................................................ 2

1.2

Vấn đề nghiên cứu .......................................................................................... 4

1.3

Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu ..................................................................... 4

1.4

Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................ 5

1.5

Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................... 5

1.6

Kết cấu luận văn ............................................................................................. 6

CHƢƠNG 2. LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .................... 7
CHƢƠNG 3. DỮ LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................. 21
3.1

Phương pháp thu thập dữ liệu....................................................................... 21

3.2


TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HNX

: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE

: Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh

WTO

: Tổ chức thương mại thế giới

NHTM

: Ngân hàng thương mại

NHNN

: Ngân hàng nhà nước

NHTW

: Ngân hàng trung ương

TCTD


CAR

: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

FEM

: Mô hình hồi quy tác động cố định

REM

: Mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Danh sách các biến của bài nghiên cứu
Bảng 4.1. Danh sách chi tiết các ngân hàng lấy mẫu
Bảng 4.2. Thống kê mô tả dữ liệu các biến
Bảng 4.3. Các kỳ vọng về dấu của hệ số hồi quy
Bảng 4.4. Bảng hồi quy mô hình theo Pool
Bảng 4.5. Bảng hồi quy mô hình theo FEM
Bảng 4.6. Bảng hồi quy mô hình theo REM
Bảng 4.7. Bảng kết quả kiểm định Hausman test
Bảng 4.8. Ma trận hệ số tương quan giữa biến giải thích RWA/TA, TCE/TA và các
biến giải thích
Bảng 4.9. Ma trận hệ số tương quan giữa biến giải thích RWA/TA, Tier 1/TA và các
biến giải thích
Bảng 4.10. Ma trận hệ số tương quan giữa biến giải thích RWA/TA, Capital/TA và
các biến giải thích
Bảng 4.11. Bảng hồi quy tương tác giữa vốn và tính thanh khoản

đo lường các rủi ro tín dụng cũng phải trải qua hàng loạt rà soát sau thời gian đó. Hiệp
ước vốn Basel II, công bố năm 2004, khuyến nghị các ngân hàng nên nắm giữ lại
lượng vốn bằng ít nhất 8% của tổng tài sản tính theo độ rủi ro.
Tài sản tính theo độ rủi ro là một yếu tố quan trọng của các chỉ số vốn dựa trên
rủi ro. Thật vậy, các ngân hàng có thể nâng mức tỷ lệ vốn tương thích của họ theo hai
cách: (i) có thể nâng tử số của tỷ lệ nghĩa là tăng khoản vốn tối thiểu nắm giữ (vốn tự
có), hay (ii) giảm mẫu số của tỷ lệ, nghĩa là giảm tài sản tính theo độ rủi ro. Mối quan
tâm chủ yếu về các phương pháp xác định tài sản tính theo độ rủi ro đang dùng hiện
nay là nó có khe hở để các ngân hàng hoạt động riêng lẻ “tối ưu hóa” các quy định về
vốn thông qua việc đánh giá thấp các rủi ro và vì vậy, đươc phép nắm giữ mức vốn
thấp hơn. Jones (2000) đã thảo luận những phương pháp kỹ thuật mà các ngân hàng có
thể sử dụng để thực hiện các đầu cơ kiếm lời vốn tối thiểu đồng thời cũng cung cấp
các bằng chứng về tầm quan trọng của những hoạt động này ở nước Mỹ. Thậm chí
dưới hệ thống Basel I, hệ thống mà trong đó các hạng tài sản cụ thể đã được phân định
các hệ số rủi ro cụ thể, mẫu số tỷ lệ vốn cũng không được nhắc đến. Merton (1995) đã
đưa ra một ví dụ trong đó, thay cho một danh mục vốn đầu tư của các tài sản thế chấp,
một ngân hàng có thể giữ một giá trị kinh tế tương đương với danh mục đó tại một hệ
số rủi ro lớn bằng 1/8. Các đổi mới trong các sản phẩm tài chính từ hiệp ước vốn Basel
I cũng có khả năng giúp cho các cơ quan tài chính thao túng việc hệ số đo lường rủi ro
tối thiểu. Acharya, Schnabl và Suarez (2010) phân tích thương phiếu có tài sản bảo


3

lãnh và đã tìm ra các kết quả cho thấy các ngân hàng đã sử dụng hình thức chứng
khoán hóa này để tập trung các rủi ro thay vì phân tán chúng trong ngành ngân hàng
trong khi giảm các mức quy định vốn ngân hàng. Cùng với các lo ngại liên quan tới
việc đánh giá thấp rủi ro tài sản, các chênh lệch trong tính toán tài sản tính theo độ rủi
ro giữa các ngân hàng cũng có thể gây ra những tác động không mong đợi lên sự ổn
định tài chính.

thiện hơn nữa hệ thống quản trị rủi ro của ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện
hoạt động cụ thể của mỗi ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của
Basel II.
Như vậy, quản trị rủi ro trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đánh
giá hiệu quả hoạt động cũng như sự tồn tại của ngân hàng trong xu thế hội nhập quốc
tế hiện nay. Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, tôi đi sâu vào tìm hiểu và nghiên cứu đề
tài sau: “Tác động của tài sản có rủi ro đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán của một số
Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”.
1.3. Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là xem xét tác động của tài sản có rủi ro đến tỷ
suất sinh lợi chứng khoán của một số Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai
đoạn từ năm 2010 đến năm 2012 để tìm hiểu liệu tài sản tính theo độ rủi ro được các
ngân hàng báo cáo có phải là một hệ số đo lường rủi ro đáng tin cậy không, điều này
phản ánh hiệu quả hoạt động của ngân hàng như thế nào, từ những tác động đó rút ra
những nhận xét và đề xuất một số giải pháp trong việc quản lý tài sản có rủi ro nhằm
tăng hiệu quả hoạt động của ngân hàng TMCP.


5

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, đề tài tập trung trả lời những câu hỏi
nghiên cứu quan trọng sau đây:
 Có phải ngân hàng có tài sản tính theo độ rủi ro ít hơn thì có tỷ suất sinh lợi
chứng khoán cao hơn trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012?
 Mối quan hệ giữa vốn và tỷ suất sinh lợi chứng khoán như thế nào?
1.4. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu một số ngân hàng
thương mại cổ phần có niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn
từ nằm 2010 đến năm 2012. Luận văn lựa chọn phạm vi nghiên cứu này vì đây là giai
đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát dữ dội vào tháng 9 năm 2008,

1.6. Kết cấu luận văn:
Luận văn được chia thành 5 chương với nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Lý thuyết và các nghiên cứu trước đây
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận


7

CHƢƠNG 2. LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
2.1. Tổng quan về cơ sở lý thuyết
Theo các khái niệm về quản trị ngân hàng thương mại, hoạt động ngân hàng là
các hoạt động rủi ro, có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường đối với công chúng và
nền kinh tế. Một ngân hàng hoạt động hiệu quả, an toàn nhưng vẫn có thể sụp đổ do
những tác động dây chuyền trong khủng hoảng tài chính.
Như vậy có thể thấy được áp lực cũng như vai trò của ngành ngân hàng ngày
càng nặng nề trong nền kinh tế như hiện nay. Tuy nhiên sự gia tăng sức ép cạnh tranh
sẽ tác động đến ngành ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi
và chịu đựng của từng ngân hàng để mang lại hiệu quả tài chính của ngân hàng đó.
Do vậy, các ngân hàng thương mại không những phải duy trì được sự ổn định
trong hoạt động của mình mà đòi hỏi các ngân hàng phải phải có một chiến lược quản
trị vốn, quản trị rủi ro hiệu quả. Theo lý thuyết một số mô hình xác định tỷ suất sinh
lợi chứng khoán thì yếu tố rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng.
Sau hàng loạt vụ sụp đổ của các ngân hàng vào thập kỷ 80, một nhóm các Ngân
hàng Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) đã tập hợp tại
thành phố Basel, Thụy Sĩ vào năm 1987 tìm cách ngăn chặn xu hướng này. Sau khi
nhóm họp, các cơ quan này đã quyết định hình thành Ủy ban Basel về giám sát ngân

chức tín dụng - có lẽ là một trong những bước tiến hết sức tích cực trong việc xây
dựng những nền tảng cần thiết về đảm bảo an toàn hệ thống, nhằm có một hệ thống tài
chính lành mạnh và ổn định, thực hiện tốt vai trò phân bổ vốn trong nền kinh tế. Thông
tư có quy định các ngân hàng phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR (Capital
adequacy Ratio – CAR = Vốn tự có/ Tổng tài sản có rủi ro), đây là một chỉ tiêu quan
trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng.
Về phía các nhà đầu tư để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận họ sẽ quan tâm
đến rủi ro và tỷ suất sinh lợi chứng khoán. Câu hỏi đặt ra liệu các nhà đầu tư làm thế


9

nào để có thể tính toán độ rủi ro các tài sản tính theo độ rủi ro của ngân hàng để xem
xét hệ số an toàn vốn, để đánh giá đúng đắn hiệu quả hoạt động của ngân hàng? Tác
giả Snali Das và Amadou đã có nghiên cứu thực nghiệm vấn đề này bằng cách kiểm
tra các yếu tố quyết định đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán và các hệ số đo lường rủi ro
thị trường.
Kế thừa kết quả nghiên cứu trên, bài nghiên cứu ứng dụng các lý thuyết, mô hình
và các biến tương tự liên quan đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán như tỷ lệ tài sản có rủi
ro và tài sản hữu hình (RWA/TA), các tỷ lệ vốn với tài sản hữu hình bao gồm 3 tỷ lệ:
vốn cổ phần hữu hình với tài sản hữu hình (TCE/TA), vốn cấp 1 với tài sản hữu hình
(Tier1/TA), vốn tự có với tài sản hữu hình (Tier1 + Tier 2/TA), tiền gửi của khách
hàng (Deposits), tỷ lệ chứng khoán đầu tư và tổng tài sản (Securities/Assets), Tỷ lệ nợ
xấu (NPL/Loans), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản trung bình (ROAA),… để làm cơ sở
kiểm tra các giả thiết và trả lời các câu hỏi của bài nghiên cứu.


10

2.2. Các nghiên cứu trƣớc đây

Bài viết của tác giả làm sáng tỏ cả hai vấn đề này bằng việc khảo sát lợi nhuận cổ
phiếu của các ngân hàng liệu có bị tác động khác nhau phụ thuộc vào tình hình vốn
của ngân hàng không. Cụ thể, tác giả sử dụng dữ liệu bảng hàng quý của ngân hàng
đối với 12 quốc gia từ 2006-2009 để nghiên cứu tác động của nguồn vốn ngân hàng và
các quy định, yếu tố tác động đến sự thay đổi giá trị thị trường của các ngân hàng. Sử
dụng cuộc khủng hoảng bắt đầu từ 08/2007 như một cú sốc bất ngờ, tác giả tìm hiểu
xem liệu người tham gia thị trường có nắm được các quy định vốn khác nhau để có sự
đo lường hiệu quả về khả năng của các ngân hàng để có thể ứng phó với sự suy giảm
hay không?
Tác giả thấy rằng trước cuộc khủng hoảng, sự chênh lệch nguồn vốn ban đầu
không ảnh hưởng liên tục đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán sau này của ngân hàng.
Mặt khác, tầm quan trọng của nguồn vốn trở nên rõ ràng hơn trong suốt giai đoạn
khủng hoảng, đặc biệt đối với các ngân hàng lớn theo minh họa của tác giả. Đây là
những ngân hàng có tầm quan trọng hơn trong hệ thống, cũng như những ngân hàng
nắm giữ nguồn vốn chất lượng thấp ở thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng. Kết quả
của tác giả cũng chỉ ra rằng trong suốt cuộc khủng hoảng, tỷ suất sinh lợi chứng khoán
của các ngân hàng lớn nhạy cảm với tỷ suất vốn vay hơn là so với tỷ suất vốn điều
chỉnh rủi ro. Điều này có thể là do những người tham gia thị trường đã xem xét kỹ việc
điều chỉnh rủi ro thông qua các quy định Basel để xử lý một cách khéo léo. Cuối cùng,
tác giả cũng thấy được mối liên hệ tích cực với tỷ suất sinh lợi chứng khoán càng
mạnh hơn với chất lượng nguồn vốn cao hơn (vốn vay cấp 1 và vốn cổ phần hữu hình).


12

Kết quả của tác giả có ý nghĩa tiềm năng đối với quá trình cải cách hiện tại. Thứ
nhất, tác giả tìm thấy sự hỗ trợ cho quan điểm rằng tình hình nguồn vốn mạnh hơn là
một tài sản quan trọng trong suốt cuộc khủng hoảng có tính hệ thống, đề nghị nhấn
mạnh việc tăng cường các yêu cầu về nguồn vốn là hoàn toàn phù hợp. Thứ hai, kết
quả của tác giả chỉ ra rằng việc đưa ra tỷ suất vốn vay tối thiểu để bổ sung vào các yêu

07/2007 đến cuối tháng 12/2008, giai đoạn này tương ứng với sự tàn phá ngân hàng
lớn nhất từ cuộc Đại khủng hoảng. Tác giả thấy rằng các ngân hàng lớn có mối quan
hệ mật thiết giữa hội đồng quản trị và các cổ đông thì sẽ hoạt động kém hơn trong suốt
giai đoạn này. Trái lại, các ngân hàng lớn với nguồn vốn cấp 1 nhiều hơn, nhiều khoản
tiền gửi hơn, và nhiều khoản nợ hơn thì hoạt động tốt hơn. Cũng như các ngân hàng ở
các quốc gia có giới hạn hoạt động ngân hàng lại có lợi nhuận cao hơn.
Nhìn chung, bằng chứng của tác giả chỉ ra rằng việc quản lý, quy định của ngân
hàng trước cuộc khủng hoảng đều rất hữu ích trong việc tìm hiểu hoạt động của ngân
hàng trong suốt cuộc khủng hoảng. Những phân tích trong cuộc khủng hoảng nhấn
mạnh tính yếu kém của các ngân hàng được cấp vốn ngắn hạn tăng lên, điều này cũng
nhấn mạnh vai trò của nguồn vốn ngân hàng. Các ngân hàng tại một số quốc gia có
thặng dư tài khoản thì tốt hơn trong suốt cuộc khủng hoảng, trong khi những ngân
hàng tại các quốc gia với hệ thống ngân hàng tiếp xúc nhiều hơn với Mỹ thì kém hơn.
Những kết quả sau này cho thấy sự mất cân bằng nền kinh tế vĩ mô liên quan đến hoạt
động của ngân hàng trong suốt cuộc khủng hoảng.
Theo đề nghị của Adam (2009), bằng chứng này phù hợp với quan điểm rằng các
ngân hàng hoạt động rủi ro hơn được thị trường đánh giá cao vì trước cuộc khủng
hoảng họ phải chịu đựng nhiều hơn khi những rủi ro này dẫn đến những thiệt hại lớn
không lường trước được. Bằng chứng thuyết phục hỗ trợ cho việc diễn giải sau này là
hoạt động của các ngân hàng lớn trong suốt cuộc khủng hoảng có liên quan tiêu cực
đến hoạt động của họ trong năm 2006. Mặt khác, các ngân hàng được thị trường ủng
hộ với tỷ suất sinh lợi chứng khoán lớn trong năm 2006 là những ngân hàng có cổ
phiếu phải chịu những thiệt hại lớn nhất trong suốt cuộc khủng hoảng. Các ngân hàng
tại các quốc gia có giới hạn hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tốt hơn, nhưng
những ngân hàng ở các quốc gia này ít rủi ro trước cuộc khủng hoảng khi rủi ro được
đo bằng việc sử dụng khoảng cách đối với việc không trả được nợ và vốn vay. Do đó,
việc giới hạn hoạt động của ngân hàng không đem lại kết quả ở những ngân hàng mạo


14


15

định. Để định lượng chi phí, tác giả sử dụng mô hình nền kinh tế vĩ mô hiện hữu để
ước tính chi phí huy động vốn và các yêu cầu thanh khoản. Kết hợp hệ thống cảnh báo
sớm (trong tính toán lợi nhuận) với mô hình kinh tế vĩ mô (trong tính toán chi phí), tác
giả đưa ra một khung hiệu quả kinh tế hoàn thiện có thể quyết định mức vốn tối ưu tác
động lên bảng cân đối chính thức giữa các chi phí và lợi nhuận của sự điều tiết tài
chính.
Các kết quả chính chỉ ra rằng mức vốn ngân hàng tối ưu có thể khác nhau đáng
kể phụ thuộc vào chỉ tiêu thanh khoản cả về tài sản và khoản nợ trong bảng cân đối tài
chính của ngân hàng cũng như điều kiện nền kinh tế vĩ mô, điển hình tượng trưng bởi
lạm phát thị trường nhà đất. Cuối cùng, khung hiệu quả kinh tế đề nghị các ngân hàng
nên điều tiết nguồn vốn phản chu kỳ tốt hơn để chuẩn bị tốt cho những khó khăn tiềm
ẩn.
Tác giả nhắc lại cả về lý thuyết và thực tế, hai khái niệm, (i) mức vốn tối ưu để
tối đa hóa khả năng phục hồi của ngân hàng và (ii) mức vốn tối thiểu quy định, cần
được bàn luận riêng biệt. Bất kì loại hiệu quả nào tiếp cận vớilợi ích của hiệu quả kinh
tế, bằng việc xây dựng, mức vốn “tối ưu” vượt quá bất kỳ sự điều tiết bổ sung nào đều
không có hiệu quả. Về mặt này, tác giả sử dụng hai phương án tiếp cận: (i) Khung hiệu
quả kinh tế để ước tính mức vốn tối ưu và (ii) khảo sát vĩ mô để tìm ra mức điều tiết
tối thiểu.
Có bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng lợi nhuận từ việc huy động vốn ngân
hàng (hoặc nguồn vốn của toàn bộ ngân hàng) không được quyết định độc lập và phụ
thuộc vào sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng (điều này hoàn toàn không thể đạt được
bởi khuôn khổ hiện hữu về trọng số rủi ro của tài sản) được ủy nhiệm, sự ổn định cơ
cấu nợ của ngân hàng, có lẽ, các điều kiện ngoại sinh khác xung quanh lĩnh vực ngân
hàng. Điều này có thể sẽ kêu gọi việc kiểm soát khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng (ví
dụ, Barell và những cộng sự năm 2009) bằng việc bổ sung các yếu tố tượng trưng cho
các nhân tố này nơi mà nguồn vốn, đối với một số phạm có thể được thay thế. Điển

sản tương đối thấp lại tiếp diễn. Tầm quan trọng của vấn đề được thể hiện rõ nét trong
cuộc khủng hoảng nợ công ở khu vực đồng Euro. Các hệ số rủi ro bằng không của cổ
phiếu các ngân hàng Châu Âu nắm giữ không đúng với các giá trị rủi ro hiện tại của


17

họ. Qua bài viết Securitization without risk transfer (2011). Tác giả phân tích các chỉ
dẫn trên báo thương mại về đảm bảo tài sản, mà nó có kinh nghiệm trong việc “điều
hành” ngân hàng ẩn và đóng vai trò trung tâm ở giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng
tài chính năm 2007-2009. Tác giả chỉ ra rằng việc kinh doanh chênh lệch giá điều tiết
là động cơ chính đằng sau việc thành lập cầu nối: bảo lãnh được cơ cấu như giảm các
yêu cầu vốn tự có, các ngân hàng với nguồn vốn ít hơn, trong khi vẫn cung cấp nguồn
cứu viện đối với bảng cân đối tài chính ngân hàng cho các nhà đầu tư bên ngoài. Nhất
quán với nguồn cứu viện này, tác giả thấy rằng các cầu nối đem lại sự chuyển nhượng
rủi ro ít trong suốt “kỳ hạn”: những thiệt hại từ các cầu nối còn lại ở các ngân hàng
hơn là đối với các nhà đầu tư bên ngoài và các ngân hàng tổn thất nhiều hơn đối với
các cầu nối có lợi nhuận cổ phiếu thấp hơn.
Trong bài viết này, tác giả phân tích và chỉ ra rằng cơ cấu chia sẻ rủi ro ở các chỉ
dẫn này hàm ẩn nguồn cứu viện trở lại đối với bảng cân đối tài chính ngân hàng. Tác
giả nhận thấy chứng cứ hỗ trợ cho quan điểm mức độ tổn thất đối với các cầu nối này
được cam kết bởi các ngân hàng thương mại nhằm tiến hành việc kinh doanh chênh
lệch giá điều tiết, ví dụ, đề giảm các yêu cầu nguồn vốn hiệu quả của họ. Tác giả cũng
thấy rằng các nhà đầu tư bên ngoài phải chịu những thiệt hại nhỏ ngay cả khi tài sản
thế chấp đảm bảo các cầu nối bị giảm chất lượng, hỗ trợ chính cho nghiên cứu của tác
giả đó là các cầu nối với hình thức chứng khoán hóa không có sự chuyển nhượng rủi
ro. Phù hợp với việc thiếu các chuyển nhượng rủi ro, việc suy giảm giá cổ phiếu của
các ngân hàng ở thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng tài chính kết hợp với mức độ tổn
thất cầu nối của họ liên quan tới nguồn vốn cổ phần. Một lần nữa, cuộc khủng hoảng
bùng nổ, mở rộng việc tăng giảm phát hành cổ phiếu, hơn nữa việc bảo lãnh yếu kém


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status