Quản lý tài chính tại Công ty TNHH Một thành viên Xổ số kiến thiết Lâm Đồng - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN TUẤN ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG
THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN 2012 - 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------------------NGUYỄN TUẤN ANH

NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 - 2015

Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60 34 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRỊNH THỊ HOA MAI

Hà Nội - 2012


9

1.2. Năng lực tài chính của ngân hàng thƣơng mại

12

1.2.1. Khái niệm về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại

12

1.2.2. Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM

16

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của NHTM

25

Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTMCP ĐT

29

VÀ PT VIỆT NAM
2.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển ngân hàng TMCP

29

ĐT&PT Việt Nam
2.2. Thực trạng năng lực tài chính của NHTMCP ĐT&PT Việt Nam


Chƣơng 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NH

62

TMCP ĐT VÀ PT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2015
3.1. Mục tiêu nâng cao năng lực tài chính của BIDV

62


3.1.1.Bối cảnh kinh tế tác động tới năng lực tài chính của BIDV

62

3.1.2. Mục tiêu nâng cao năng lực tài chính của BIDV

67

3.2. Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của NHTMCP ĐT&PT Việt

68

Nam giai đoạn 2012-2015
3.2.1. Giải pháp tăng vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ

68

3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng tài sản



DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT

Chữ viết

Nguyên nghĩa

tắt

Tiếng Việt

Tiếng Anh

1

ALCO

Hội đồng quản lý Nợ - Có

Asset/Liability Committee

2

BIDV

Ngân hàng Đầu tư Phát triển Việt Nam

3


7

DPRR

Dự phòng rủi ro

8

GDP

Tổng sản phẩm trong nước

Gross Domestic Product

9

GFSR

Báo cáo Ổn định Tài chính Toàn cầu

Global Financial Stability
Report

10

IMF

Quỹ tiền tệ quốc tế

International Monetary Fund


Ngân hàng trung ương

16

NIM

Thu nhập lãi cận biên

Net Interest Margin

17

NPL

Nợ xấu

Non performing loan

18

ODA

Đầu tư nước ngoài gián tiếp

Official development
assistance

19


VAS

Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Vietnamese Accounting
Standards

24

VCSH

Vốn chủ sở hữu

25

WB

Nhóm ngân hàng thế giới

World Bank

26

WEO

Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới

World Economic Outlook



trọng vào tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Chỉ tính từ năm 2000 tới cuối
năm 2011, vốn chủ sở hữu (VCSH) đã tăng 36 lần; tổng tài sản tăng 22 lần ; nhiều dịch
vụ ngân hàng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại đã ra đời và phát triển mạnh mẽ.
Ngoài ra, tới 80% tổng khối lượng vốn vận động trong nền kinh tế được thực hiện
thông qua hệ thống ngân hàng. Hoạt động ngân hàng cũng đang từng bước hội nhập
vào thị trường tài chính quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận đó, hệ thống NHTM vẫn
còn nhiều điểm tồn tại mà tác động của nó đang ảnh hưởng đến tính dễ bị tổn thương
của nền kinh tế và quan hệ ổn định trong các mối liên kết tài chính vĩ mô; kỳ vọng và
niềm tin của người dân vào hoạt động điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) nói chung
và giá trị tiền Đồng nói riêng ; sự lành mạnh của khu vực tài chính và tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn. Khi xã hội đang có cái nhìn ngày càng đầy đủ hơn về vấn đề thanh
khoản tại các NHTM cùng những lo ngại gia tăng về diễn biến tài chính, kinh tế tại các
quốc gia phát triển Châu Âu và Hoa Kỳ sẽ ảnh hưởng tới hệ thống tài chính Việt Nam,
chúng ta có cơ hội phân tích những yếu điểm đã và đang tồn tại nhiều năm trong hệ
thống NHTM : (i) nợ xấu của các ngân hàng mặc dù được tính toán thấp nếu tính theo
Chuẩn mực Kế toán Việt Nam – VAS, nhưng được xác định cao hơn nếu ước lượng
theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS và Chuẩn mực Báo cáo Tài chính quốc tế IFRS là
nguyên nhân của tình trạng mất thanh khoản liên tục ở nhiều NHTM ; (ii) tỷ lệ an toàn
vốn của NHTM còn thấp hay các bức đệm tài chính còn hạn chế ; (iii) chất lượng tài
sản giảm do việc phân loại tài sản không minh bạch, rủi ro đạo đức gia tăng cùng
những khác biệt trong hệ thống hạch toán, kế toán ; (iv) bước thụt lùi thêm của thị
trường chứng khoán, sự xuống giá và đình đốn của thị trường bất động sản (BĐS) làm


gia tăng rủi ro cho hệ thống tài chính ; (v) quản trị doanh nghiệp kém tạo điều kiện cho
tình trạng cho vay nội bộ, cho vay dưới chuẩn đối với nhiều dự án tín dụng của một số
tập đoàn có vốn nhà nước cũng như nhiều dự án kinh doanh bất động sản bùng nổ
không thể kiểm soát được. Đối mặt với thực trạng đó của hệ thống tài chính ngân hàng,
các cơ quan chức năng mà đứng đầu là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang

TCTD giai đoạn 2011-2015 tại quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012. Ngoài ra,
Ủy ban giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) cũng đã trình báo cáo đề xuất tái cơ
cấu hệ thống TCTD lên Quốc hội cuối năm 2011 mà trong đó, bên cạnh biện pháp cải
thiện chất lượng của hoạt động và quản trị thì nội dung nâng cao năng lực tài chính các
TCTD nói chung hay NHTM nói riêng là giải pháp cần thiết thực hiện.
Trong phần tham luận tại Hội thảo Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng do NHNN
phối hợp Standard Chartered Bank tổ chức tháng 3/2012, Ông Sanjay Kalra – Trưởng
đại diện IMF tại Việt Nam đã nêu lên nguyên tắc tái cấu trúc hệ thống NHTM với nội
dung liên quan tới nâng cao năng lực tài chính như: (i) cần phân biệt rõ ràng giữa hoạt
động hỗ trợ thanh khoản và hỗ trợ khả năng thanh toán; (ii) cần xác định phân loại nợ
theo chuẩn mực Việt Nam hay quốc tế; (iii) cần xác định rõ cổ đông NHTM sẽ là
người chịu thiệt hại trong mọi trường hợp.
Trong bài viết Giảm lãi suất và thực hiện các bước tiếp theo trong quá trình cổ
phần hóa của tác giả Đức Nghĩa trên báo Thị trường Tài chính Tiền tệ số 1 + 2 năm
2012 [8], tác giả đã nhận định việc BIDV tiến hành giảm lãi suất cho vay 5 lần liên tiếp
trong 4 tháng cuối năm 2011 đối với lĩnh vực tài trợ hàng xuất khẩu, ngành nông
nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp vừa và nhỏ, khắc phục hậu quả bão lũ với mục đích :
(i) chia sẻ khó khăn chung với các doanh nghiệp nhằm tạo đà cho doanh nghiệp phát
triển ; (ii) thực hiện hành động thiết thực góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội theo Nghị quyết 11/NQ-CP năm 2011 của Chính phủ;
(iii) cải thiện hình ảnh ngân hàng thân thiện để tiếp tục tìm kiếm, thu hút và lựa chọn
nhà đầu tư chiến lược nước ngoài nhằm tăng cường năng lực tài chính của NH. Bài viết
đã phân tích một trong những biện pháp hiệu quả mà BIDV đã triển khai nhằm nâng
cao năng lực tài chính.


Luận văn đã tham khảo nhận định, tổng kết kinh nghiệm và khuyến nghị của 02
bài tham luận : Giải pháp cho vấn đề nợ xấu của Việt Nam – Nhóm giải pháp danh
mục do Ông David White, Giám đốc nghiên cứu của công ty kiểm toán KPMG Thái
Lan ; và Vấn đề liên quan tới mua bán, sáp nhập (M&A) trong hoạt động tái cơ cấu hệ

-

Đánh giá thực trạng năng lực tài chính NH BIDV nhằm chỉ rõ những tồn tại,
hạn chế về tài chính mà NH đang phải đối mặt, từ đó nêu lên những mục tiêu
định hướng giúp nâng cao khả năng tài chính của NH.

-

Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện nâng cao năng lực tài
chính của NH BIDV trong thời gian tới.

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng: Nghiên cứu nội dung liên quan tới năng lực tài chính và các biện pháp
nâng cao năng lực tài chính của BIDV.
4.2. Phạm vi: Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan tới năng lực tài chính của
NH BIDV như chỉ tiêu về vốn; chỉ tiêu chất lượng tổng tài sản, nguồn vốn; khả năng
sinh lời; khả năng dự phòng rủi ro. Số liệu nghiên cứu giới hạn trong giai đoạn 20082012.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn chú trọng sử dụng các phương pháp phân tích số liệu thống kê,
phương pháp phân tích định lượng thông qua việc sử dụng các công cụ như đồ thị, biểu
đồ để phân tích chứng minh các luận cứ của luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây, đề tài thực
hiện nghiên cứu cập nhật thực trạng vấn đề tài chính tại NH BIDV với những đóng góp
chủ yếu sau:
-

Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tài chính tại NH BIDV để nhận ra
những mặt hạn chế cơ bản, từ đó xác định những mục tiêu cho quá trình nâng
cao năng lực tài chính của NH này.

a. Huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động đặc trưng cho quá trình kinh doanh của
NHTM, bao gồm:
Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền
gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi,
kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy
đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.
Đi vay trên thị trường tiền tệ: Khi có sự gia tăng nhu cầu tín dụng và nguồn tiền
gửi tăng chậm, khoản mục này trở nên quan trọng đối với các NHTM. NHTM có thể đi
vay từ các nguồn sau: Vay NHTW, vay các tổ chức tài chính khác, vay công chúng,
vay nước ngoài.
b. Hoạt động tín dụng và đầu tư
Hoạt động tín dụng: NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới
các hình thức: cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho
thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao
cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian
nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bảo lãnh ngân hàng: là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng cam kết
với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã
cam kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.


Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công
cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh
toán.
Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng
thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản
phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán

nghĩa là ở dạng các khoản có thể vay mượn hay đóng góp vốn thông qua thị trường tài
chính hay các định chế tài chính. Nói cách khác tài chính phản ánh hoạt động mà các cá
nhân, công ty và tổ chức tạo lập tiền tệ và sử dụng nguồn tiền tệ để đáp ứng những nhu cầu
phát triển khác nhau.
NHTM là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt
động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả,
sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nhiệm vụ chiết khấu và cung ứng các dịch vụ
thanh toán. Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh quyền sử dụng
hàng hoá tiền tệ, thực hiện các chức năng: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và
cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
Hoạt động kinh doanh: đi vay (mua vốn) và cho vay (bán vốn) của NHTM để tìm
kiếm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất đã làm xuất hiện các luồng tiền tệ đi vào và đi ra khỏi
NH, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính trong NHTM.
Chính sự vận động của các luồng tiền tệ trong NH đã làm nảy sinh các mối quan hệ
kinh tế trong kinh doanh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quĩ tiền tệ của
NH. Các quan hệ kinh tế đó là: (i) Quan hệ giữa NHTM với Nhà nước, thể hiện thông qua
việc Nhà nước cấp vốn cho các NHTMNN để hoạt động và NHTM thực hiện các nghĩa vụ
tài chính đối với Nhà nước như nộp thuế, phí…; (ii) Quan hệ giữa NHTM với NHNN, thể
hiện qua các nghiệp vụ dự trữ bắt buộc, thanh toán, cho vay tái chiết khấu; (iii) Quan hệ
giữa NHTM với NHTM, thể hiện qua các nghiệp vụ trên thị trường liên ngân hàng; (iv)
Quan hệ giữa NHTM với các doanh nghiệp và cá nhân như: Quan hệ về thanh toán trong
việc vay, cho vay, đầu tư vốn, mua bán tài sản…; (v) Quan hệ trong nội bộ NHTM như:
Thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng, tiền phạt đối với nhân viên trong việc phân


phối lợi nhuận sau thuế và hình thành các quỹ của NH;
Các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị, nảy sinh trong quá trình phân phối nhằm
tạo lập hoặc sử dụng các quĩ tiền tệ của NH để phục vụ cho kinh doanh chính là các quan
hệ tài chính của NH.
Từ đó có thể hiểu: Tài chính NHTM là sự vận động của các luồng tài chính gắn

Để có vốn hoạt động, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sử dụng nguồn vốn tự
có là chính, vì vậy tỷ trọng vốn tự có tối thiểu phải đạt được 30% trong tổng nguồn vốn
kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, là trung gian tài chính, NH chủ yếu huy động
vốn từ các thành phần kinh tế, vì vậy nợ là phần vốn chiếm tỷ lệ lớn nhất, thường từ 8090% tổng vốn kinh doanh còn vốn tự có của NH lại chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (
tài chính để duy trì hoạt động và phát triển. Nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp NH có
mức vốn đầy đủ. Qui mô vốn sẽ quyết định qui mô nguồn tiền gửi, qui mô cho vay tối đa
đối với một hoặc một nhóm khách hàng, nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, mở chi
nhánh, mua sắm TSCĐ, thành lập công ty con…Như vậy, qui mô và cấu trúc hoạt động
của NH được điều chỉnh theo qui mô vốn của NH. Với phương thức kinh doanh “đi vay để
cho vay”, đòi hỏi NH phải xác định được nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động, lựa chọn
được hình thức huy động vốn phong phú để có thể tập trung vốn kịp thời, thoả mãn nhu
cầu kinh doanh có hiệu quả.
Sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, hiệu quả
Sử dụng vốn hiệu quả tức là đồng vốn kinh doanh của NH phải tạo ra lợi nhuận
cao. Sự cạnh tranh về lãi suất buộc các NHTM phải tiết kiệm để hạ thấp mức lãi suất. Nếu
quản lý khéo léo lãi suất tiền gửi, lãi suất tiền vay, từ đó có thể làm thay đổi cả về qui mô
lẫn chủng loại nguồn tiền mà NH có thể thu hút. Nâng cao năng lực tài chính là một biện
pháp quan trọng để đối phó với những thay đổi trong lãi suất thị trường, nhằm kiểm soát
và bảo vệ nguồn thu từ lãi, chi phí trả lãi, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, giá trị tài sản của NH.
Đảm bảo an toàn trong sử dụng vốn
Vốn được coi là tấm đệm chống đỡ những rủi ro, đảm bảo an toàn hoạt động kinh
doanh. Vốn lớn sẽ tạo được uy tín lớn cho NH trên thị trường, tạo điều kiện mở rộng qui
mô và phát triển. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của NH phải từ 8% trở
lên. Nếu tỷ lệ này không đảm bảo, NHTM sẽ không đủ khả năng mở rộng hoạt động, thậm
chí còn đứng trước nguy cơ phá sản. Nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp NH thực hiện tốt


các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động, hạn chế đến mức
thấp nhất những thiệt hại có thể sảy ra đối với NH.
b. Đáp ứng yêu cầu đảm bảo chất lượng dịch vụ ngày càng cao của khách hàng
trong nền kinh tế thị trường.
Trong môi trường kinh doanh hiện đại, các khách hàng có đầy đủ thông tin và đòi
hỏi chất lượng dịch vụ cao hơn, sản phẩm dịch vụ đa dạng hơn với mức giá cạnh tranh
hơn. Tuy nhiên, sự trung thành của khách hàng lại giảm đi, họ sẵn sàng thay đổi mối quan

khoản đầu tư lớn từ nguồn vốn của chính bản thân NH. Một NH có mức vốn nhỏ bé sẽ gặp
khó khăn trong việc đầu tư cho lĩnh vực hiện đại hóa công nghệ và như vậy sẽ làm giảm
năng lực tài chính của NH.
1.2.2. Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM
Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính là: i/ Phản ánh
đúng bản chất của khái niệm năng lực tài chính của NHTM là khả năng về tài chính để
giúp NH thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả không chỉ trong ngắn hạn
mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền vững; ii/ Đáp ứng được mục đích của
việc đánh giá là xác định đúng năng lực tài chính và vị thế so sánh của một TCTD so với
các TCTD trên thị trường tài chính trong và ngoài nước; iii/ Cụ thể, rõ ràng giúp cho công
tác thu thập số liệu thống kê, kế toán và tính toán số liệu; iv/ Phù hợp với các chuẩn mực
và thông lệ quốc tế trong hoạt động tài chính – tiền tệ – NH và hạch toán, kế toán, thống
kê.
Trên cơ sở yêu cầu, nội dung nêu trên, các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của
NHTM gồm:
1.2.2.1. Chỉ tiêu về vốn
Vốn Điều lệ
Vốn điều lệ là vốn đã được chủ sở hữu thực cấp hoặc vốn đã được các cổ đông,
các thành viên góp vốn thực góp và được ghi trong Điều lệ ngân hàng [19].


Vốn điều lệ của ngân hàng có thể được tăng từ các nguồn: (i) Quỹ dự trữ bổ sung
vốn điều lệ; Quỹ thặng dư vốn cổ phần; lợi nhuận để lại và các quỹ khác theo quy định của
pháp luật; (ii) Phát hành cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu riêng lẻ; (iii) Chuyển
đổi từ trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông; (iv) Vốn do chủ sở hữu, thành viên
góp vốn cấp thêm;(v) Các nguồn khác theo quy định của pháp luật. Để gia tăng năng lực
tài chính NH, xu hướng chung của các NH là xây dựng mức vốn điều lệ ngày càng tăng.
Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu (VCSH) của NHTM là toàn bộ nguồn vốn cổ phần của chủ NH,
của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong NH, kinh phí quản lý

động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng
đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ.
Phần lớn VCSH là không sinh lời trực tiếp, chúng được ưu tiên tài trợ cho xây
dựng trụ sở, phương tiện làm việc, đầu tư công nghệ. Phần còn lại của VCSH tham gia vào
quá trình kinh doanh của NH.
Để đánh giá năng lực tài chính của NHTM về vốn, ta có các chỉ tiêu đo lường sau:
Số chi nhánh NHTM được mở
Đối với mỗi NHTM, việc phát triển mạng lưới chi nhánh sẽ giúp NH tiếp cận thêm
nhiều đối tượng khách hàng, tăng cường lượng vốn huy động từ dân cư và cũng gia tăng
lượng vốn giải ngân tới nhiều khách hàng vay tín dụng hơn; từ đó cải thiện năng lực tài
chính, gia tăng lợi nhuận cho NH này.
Ví dụ tại Việt Nam, theo Điều VI, thông tư 13/2008/QĐ-NHNN ban hành quy định
về mạng lưới hoạt động của NHTM Việt Nam, số chi nhánh NHTM được mở phải đảm
bảo theo nguyên tắc [18]:
100 tỷ x N1 + 50 tỷ x N2 < C
Trong đó:
- C là vốn điều lệ của ngân hàng thương mại (tính bằng tỷ Đồng Việt Nam).
- N1 là số chi nhánh đã mở và đề nghị mở tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh.


- N2 là số chi nhánh đã mở và đề nghị mở tại đơn vị hành chính ngoài thành phố Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Hệ thống sở giao dịch, chi nhánh của NHTM là kênh trực tiếp cung cấp các dịch vụ
NH đến khách hàng. NHTM có mạng lưới rộng sẽ giúp cho khách hàng tiếp cận được với
các sản phẩm dịch vụ NH được thuận tiện hơn, giúp NH mở rộng và chiếm lĩnh thị trường,
tạo hình ảnh vị thế của NH. Từ đó tăng doanh thu, lợi nhuận và tăng năng lực tài chính,
khả năng cạnh tranh cho NH. Do đó, một ngân hàng có vốn điều lệ càng lớn thì khả năng
cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần càng cao.
Tỷ số vốn chủ sở hữu hay tỷ suất tự tài trợ

vốn, tài sản của tổ chức tín dụng và công ty trực thuộc (tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất).
Tỉ lệ này thường được sử dụng với mục đích bảo vệ những người gửi tiền trước rủi
ro của NH và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng tỉ
lệ này ta có thể xác định được khả năng của NH thanh toán các khoản nợ có thời hạn và
đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Nói cách khác, khi
NH đảm bảo được tỷ lệ này tức là NH đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về
tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền.
Với những ý nghĩa quan trọng trên có thể nói một NH có mức vốn, đặc biệt là
VCSH lớn là yếu tố đảm bảo cho NH hoạt động an toàn, đồng thời thể hiện sức mạnh tài
chính của bản thân NH.
1.2.2.2. Chỉ tiêu về qui mô và tăng trưởng tài sản
Năng lực tài chính của NH còn được thể hiện qua các chỉ tiêu về quy mô và tăng
trưởng tài sản và nguồn vốn. Một NH đảm bảo tăng trưởng quy mô tài sản, nguồn vốn với
cơ cấu tài sản hợp lý, bền vững sẽ giúp năng lực tài chính của NH được cải thiện. Cụ thể:
Tài sản
Nội dung hoạt động chủ yếu của một NH thể hiện ở phía tài sản. Quy mô, cơ cấu
và chất lượng tài sản sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM. Tài sản bao



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status