0%
20%
40%
60%
80%
100%
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Domestic Private Enterprises SOE Foreign Invested Enterprises
0
5,000
10,000
15,000
20,000
25,000
30,000
35,000
40,000
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
SOE non-SOE
(Thousands Persons)
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày03
tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh.
2.1.2 Các DNNVV ở Việt Nam:
Ở Việt Nam các DNNVV được chia làm 3 nhóm như sau:
1. Doanh nghiệp Siêu nhỏ: Gồm không quá 9 nhân công.
2. Doanh nghiệp Nhỏ: Gồm không quá 49 nhân công.
3. Doanh nghiệp Vừa: Gồm không quá 299 nhân công.
• (BẢNG 2)Số lượng các cơ sở kinh tế,hành chính, sự nghiệp, việc làm tại VN
Việt Nam , 2002 DNNVV DN lớn
Tổng
số
Số lượng cơ sở Siêu nhỏ Nhỏ Vừa Tổng
Số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh (1,000) 2,660 46.7 11 2,718 2.5 2,720
Tỉ lệ phần trăm trên tổng số cơ sở kinh tế, hành chính,
sự nghiệp (%) 97.8 1.7 0.4 99.9 0.09 100
Số lượng lao động
Số lao động (1,000) 4,375 887 1,221 6,483 1,909 8,392
Tỉ lệ phần trăm trên tổng số nhân công (%) 52.1 10.5 14.5 77.3 22.7 100
Quy mô lao động trung bình
Quy mô trung bình một cơ sở 1.6 19 112 2.4 773 3
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2002,
chia theo quy mô như đã dự kiến )
• (BẢNG 3)Số lượng đăng ký kinh doanh mới từ năm 2000
Năm Tổng số DNNN
Cty TNHH
1 Thành viên DNDD
2000 14.457 16 0 14.441
2001 19.800 27 0 19.773
2002 21.535 12 59 21.464
2003 27.771 20 98 27.653
2,720,479 777,451 242,140 40,036 342,233 226,626 111,304 478,754 501,389
Tỉ lệ trên
tổng số (%)
100 29 9 1 13 8 4 18 18
Tỉ lệ
DNNVV
trong vùng
(%)
99.9 99.9 100.0 100.0 99.9 99.9 99.8 100.0
<= 5
2,611,238 746,318 233,806 38,690 333,271 218,087 108,083 447,898 485,063
6-9
49,201 13,386 3,176 390 3,457 3,823 1,262 14,692 8,983
% doanh
nghiệp siêu
nhỏ
97.7 97.9 97.6 98.4 97.9 98.2 96.2 98.5
10-49
46,680 14,065 3,972 751 4,458 3,567 1,492 11,779 6,432
%dn nhỏ
1.81 1.64 1.88 1.30 1.57 1.34 2.63
1.28
50-299
10,889 3,056 992 186 954 944 353 3,431
770
% doanh
nghiệp quy
mô vừa
0.39 0.41 0.46 0.28 0.42 0.32 0.72
0.15
Tổng số <= 5 6-9 10-49 50-299 >= 300
Tổng số
vốn đầu
tư (trd)
1,249,191,072 14,741,808 22,770,917 149,520,710 518,098,547 554,059,090
Vốn bình
quân cơ
sở * (trd)
459 6 463 3,203 47,580 220,178
Vốn bình
quân đầu
người *
(trd)
149 4 65 169 424 285
Tổng
TSCĐ
(trđ)
328,122,227 5,273,034 4,906,853 42,958,185 166,538,466 108,445,689
Tổng tài
sản cố
định bình
quân cơ
sở *
120.61 2 100 920 15,294 43,887
Tài sản cố
định
BQĐN
39 1 14 48 136 57
Tổng đầu
tư
thổ(2002)
Quy mô (tính
theo lao động)
Tổng số
Đồng
bằng
sông
Hồng
Đông
Bắc
Tây
bắc
Duyên
hải bắc
Trung
Bộ
Duyên
hải
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
Đồng
bằng sông
Cửu Long
Tổng số
2,619,341 754,889 232,950 38,221 332,993 217,464 107,009 450,309 485,506
2002. Những con số này cho thấy các doanh nghiệp SME, đặc biệt các doanh nghiệp sản
xuất, đã tăng vốn điều lệ để mở rộng hoạt động dưới hình thức đầu tư vào nhà xưởng,
trang thiết bị và vốn lưu động. Nguyên nhân có thể là việc vay vốn ngân hàng không phải
là một lựa chọn thực tế đối với các doanh nghiệp SME mới thành lập và các doanh nghiệp
này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của mình.
Đồ thị 3: Tỷ trọng xuất khẩu theo loại hình doanh nghiệp (Sản xuất)
Nguồn: tổng cục thống kê 2003
FIGURE 1.2.1: Structure of GDP by Ownership (constant 1994 prices)
Source: GSO (2003) Statistical Yearbook 2002
Sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt
Nam. Như số liệu tại đồ thị 1, các doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đóng góp khoảng
50% GDP, trong khi các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 40%. Khu vực tư nhân
cũng tạo thêm công ăn việc làm mặc dù với tốc độ không nhanh, trong khi số lượng việc
làm trong khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ ở mức 3,5 triệu người (đồ thị 2). Theo
ước tính của Ban Chỉ đạo Thực hiện Luật Doanh nghiệp (SGELI), các doanh nghiệp tư
nhân mới thành lập đã tạo ra 300.000 nghìn việc làm mới trong vòng một năm kể từ khi
ban hành Luật Doanh nghiệp vào năm 2000. Quá trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN ước
đoán sẽ giảm mạnh số lượng lao động trong khu vực này trong tương lai. Do đó, khu vực
tư nhân sẽ đóng góp đánh kể vào việc tạo thêm việc làm. Bên cạnh đó, một khảo sát về môi
trường kinh doanh do JBIC thực hiện đã nghiên cứu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong
tổng doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất và cho thấy DNNN có tỷ trọng xuất khẩu
cao hơn các doanh nghiệp tư nhân (đồ thị 3.). Kết quả này có thể là do sự thiếu cơ hội tiếp
cận các khoản tín dụng thương mại đã buộc nhiều doanh nghiệp SME tư nhân sử dụng
DNNN làm đơn vị xuất nhập khẩu ủy thác. Ngân hàng Thế giới cũng khẳng định sau khi
Luật Thương mại ra đời vào năm 1998, doanh nghiệp SME đã có nhiều cơ hội thương mại
hơn và thị phần thương mại của họ đã tăng lên nhanh chóng.
Trong bất kì quốc gia nào, tất cả các nguồn lực kinh tế không thể tập trung vào các doanh
nghiệp có quy mô lớn, bởi doanh nghiệp lớn không thể bao quát được toàn bộ thị trường,
với sự năng động của mình các SEM có thể giúp các doanh nghiệp lớn tiếp cận được thị
trường. Mặt khác các SME là các doanh nghiệp làm vệ tinh cung cấp các sản phẩm đầu vào
thị trường:
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, các SEM dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng
những yêu cầu có hạn trong nhửng thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, các SME thường
có mối quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với
sự biến động của thị trường. Với cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn, dễ dàng chuyển đổi sản
xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu quả nặng nể cho xã hội.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo ra một lượng cung về hàng hóa và dịch
vụ đủ sức đáp ứng đầy đủ, kịp thời, với giá cả hợp lý các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của
xã hội. Chính nhờ tính linh hoạt, khả năng thích ứng với thị trường và chấp nhận rủi ro của
doanh nghiệp nhỏ và vừa mà loại hình doanh nghiệp này có được khả năng đổi mới, mang
lại hiệu quả cao cho nền kinh tế và do đó, tự nó đã thể hiện được chức năng đổi mới to lớn
đối với xã hội.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh:
Khác với doanh nghiệp lớn – cần thị trường lớn, đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Nhà
nước và có sự độc quyền, doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động với số lượng đông đảo,
thường không có tình trạng độc quyền. Các SME có tính chất tự chủ cao hơn, không dựa
vào sự giúp đỡ của nhà nước, sẵng sàng hợp tác với nhau để cùng phát triển mà không ngại
rủi ro. Chính điều đó làm cho nền kinh tế sống động và thúc đẩy việc sử dụng tối đa các
tiềm năng của đất nước. Đây là ưu thế quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể phát huy được tiềm lực trong nước:
Thành công của SME là nắm bắt được những điều kiện cụ thể của đất nước về tài
nguyên, lao động. Trong các doanh nghiệp lớn, việc sử dụng nguyên liệu sẵn có tại đại
phương thường gặp khó khăn do trữ lượng thấp không đảm bảo cho sản xuất lớn. Ngược
lại, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất có lợi thế trong việc tuyển dụng lao động tại đại
phương và tận dụng các tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có tại đại phương, phát huy hết
tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, sự phát triển
của các SME ở giai đoạn đầu là cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hóa thay thế nhập
khẩu. Với vốn liếng và trình độ kỹ thuật của mình, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể sản
xuất một số mặt hàng thay thế nhập khẩu, phù hợp với sức mua của dân chúng. Từ đó góp
Tài sản đảm bảo là một yếu tố quyết định quan trọng trong quá trình đánh giá khoản
vay của các doanh nghiệp tư nhân, hay cụ thể hơn là của các doanh nghiệp SME. Các chủ
doanh nghiệp SME thường phàn nàn nhiều về việc cho vay dựa vào tài sản đảm bảo vì họ
không có cách nào để tiếp cận các khoản tín dụng trung và dài hạn không có tài sản đảm
bảo. Một số chủ doanh nghiệp SME khẳng định rằng cán bộ ngân hàng sẽ không xem xét
nghiêm túc báo cáo tài chính và kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp
không có đủ tài sản đảm bảo. Họ chỉ trích cách thức xét cho vay chỉ dựa vào tài sản đảm
bảo.
Phụ thuộc vào nhận định mang tính cá nhân của cán bộ quản lý ngân hàng:
Trong thực tế việc vay vốn ngân hàng thông qua mối quan hệ cá nhân đóng vai trò
đặc biệt quan trọng khi lần đầu đi vay ngân hàng. Một số SEM tiếp cận được nguồn tín
dụng ngân hàng là nhờ có mối quan hệ với cán bộ ngân hàng, trong khi một số khác thì
được bạn bè thông báo về kế hoạch tài trợ dành cho doanh nghiệp SME của các nhà tài trợ.
Một số cán bộ quản lý cao cấp của ngân hàng cũng thừa nhận rằng cho vay đối với doanh
nghiệp SME chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo và các mối quan hệ cá nhân với chủ doanh
nghiệp. Hoạt động ngân hàng dựa vào quan hệ như vậy rất hữu hiệu đối với ngân hàng, đặc
biệt trong việc tài trợ các doanh nghiệp SME vì các doanh nghiệp này chưa thiết lập được
lòng tin và tình hình sản xuất kinh doanh của họ thường biến động.
Cán bộ quản lý hoặc cán bộ tín dụng có liên hệ cá nhân với chủ hoặc nhân viên của doanh
nghiệp là người có nhiều cơ hội tiếp cận với những thông tin mềm, và có thể nhận định
việc cho vay trên cơ sở thông tin đó. Việc những cán bộ này được trao nhiều quyền quyết
định hơn có thể giúp các doanh nghiệp SME tiếp cận với các khoản vay ngân hàng dễ dàng