Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương pháp tín dụng chứng từ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Pdf 67

I. Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán xuất khẩu theo phương
pháp tín dụng chứng từ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam:
1. Hoàn thiện văn bản quy định cho việc thực hiện hoạt động thanh toán
xuất khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ:
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, NHNT cần bổ sung quy trình thanh toán quốc
tế (thanh toán xuất khẩu) bằng thư tín dụng theo phương thức chiết khấu miễm truy đòi.
Ngoài ra cần phải xem xét trường hợp chiết khấu truy đòi đối với thư tín dụng trả chậm
cho khách hàng mà không cần chờ sự chấp nhận của ngân hàng phát hành, miễn là bộ
chứng từ xuất trình phù hợp với các điều khoản và quy định trong thư tín dụng.
Các quy định về điều kiện để xác nhận thư tín dụng cũng rất quan trọng,
đó là cơ sở để thanh toán viên quyết định có nên cộng thêm sự cam kết chắc chắn của
NHNT vào cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành theo yêu cầu và để thực hiện thanh
toán trước cho doanh nghiệp xuất khẩu khi họ xuất trình bộ chứng từ phù hợp với các quy
định của thư tín dụng. Các điều kiện này bao gồm: ngân hàng phát hành là ngân hàng có
quan hệ đại lý với Ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng phát hành có uy tín cao, giao dịch
thường xuyên với Ngân hàng Ngoại thương và luôn thực hiện tốt các khoản thanh toán, các
điều kiện, điều khoản của thư tín dụng là rõ ràng, không có bất cứ điểm nào gây bất lợi cho
việc lập và xuất trình chứng từ (tức là khả năng thực hiện thư tín dụng cao). Đây là cơ sở
để thanh toán viên có thể thực hiện nghiệp vụ một cách thống nhất và chính xác.
Việc thực hiện nhiều loại thư tín dụng như thư tín dụng chuyển nhượng, thư tín
dụng điều khoản đỏ, thư tín dụng tuần hoàn vẫn chưa được hướng dẫn, quy định cụ thể
bằng văn bản của Ngân hàng Ngoại thương. Hiện nay nhu cầu của các doanh nghiệp về
những loại thư tín dụng này đã phát sinh rất nhiều nhưng trong quy định của Ngân hàng
Ngoại thương vẫn chưa có, gây khó khăn cho thanh toán viên khi thực hiện và họ chủ yếu
phải dựa vào thông lệ quốc tế cũng như tự đưa ra những phương thức thực hiện, những
biện pháp phòng ngừa rủi ro một cách chủ quan.
2. Thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ:
Đây là phương thức có tính an toàn cao đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam, tuy nhiên việc thực hiện theo phương thức này tương đối phức tạp. NHNT Việt Nam
với vai trò là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu cần thiết phải phát triển nghiệp vụ này
một cách an toàn và thuận lợi cho khách hàng. Đối với các loại thư tín dụng đang thực hiện

dụng. Thanh toán viên cũng cần kiểm tra các quy định về chứng từ cần xuất trình, kiểm tra
xem có điều khoản nào gây khó khăn cho người xuất khẩu trong quá trình lập chứng từ hay
không.
Khi kiểm tra bộ chứng từ hàng xuất, thanh toán viên cần nghiên cứu kỹ các yêu cầu
trong thư tín dụng để chỉ dẫn cho khách hàng cách sửa bộ chứng từ cho phù hợp, tránh
những trường hợp bị ngân hàng trả tiền từ chối thanh toán với những lý do hoàn toàn có
thể khắc phục được trước khi gửi đi ngân hàng nước ngoài.
3. Kết hợp hoạt động tín dụng xuất khẩu với hoạt động thanh toán xuất khẩu
theo phương thức tín dụng chứng từ:
Hoạt động ngoại thương ngày càng phát triển do nhu cầu hội nhập với khu vực và
trên thế giới dẫn đến hình thức thanh toán quốc tế được mở rộng và đa dạng hơn. Môĩ một
hình thức thanh toán đòi hỏi có một hình thức tài trợ về tài chính tương ứng, phục vụ và
đảm bảo cho nó. Hoạt động tín dụng xuất nhập thuận lợi bao nhiêu thì quan hệ thương mại
được mở rộng và phát triển bấy nhiêu. Chất lượng hoạt động tín dụng mà tốt đẹp sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình lưu thông hàng hóa, tăng thêm sức mạnh cạnh tranh của
doanh nghiệp, đồng thời nâng cao uy tín và vị thế của ngân hàng trên trường trong nước và
trường quốc tế.
Ở các nước phát triển, tín dụng ngân hàng được thực hiện chủ yếu bởi các ngân
hàng thương mại tư nhân lớn, dưới các hình thức như: cầm cố hàng hoá,cần cố chứng từ
hàng hoá, hối phiếu và cho vay thấu chi..... và hầu hết tín dụng ngân hàng cấp cho các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu là tín dụng ngắn hạn. Tín dụng ngân hàng cấp cho các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu là tín dụng ngắn hạn. Tín dụng ngân hàng có tín ưu việt hơn tín
dụng thương mại (là loại tín dụng giữa các doanh nghiệp cấp lẫn nhau cho vay, không có
sự tham gia của ngân hàng) bởi vì không có quan hệ với hợp đồng mua bán và do đó, nó
tạo khả năng cho người đi vay sử dụng tín dụng để mua bất cứ loại hàng hoá nào. Tín dụng
ngân hàng cho hoạt động xuất khẩu gồm 2 loại: tín dụng ngân hàng cấp cho nhà xuất khẩu
và tín dụng ngân hàng cấp cho nhà nhập khẩu. Đẩy mạnh hoạt động tín dụng ngân hàng
cho xuất khẩu là một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát triển hoạt động thanh
toán quốc tế nói chung và chủ yếu là đối với phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam.

hàng có uy tín, phục vụ thanh toán an toàn và nhanh chóng, từ đó có chính sách đối ngoại
phù hợp, đồng thời tạo cơ sở để tư vấn cho khách hàng. Ngân hàng cũng nên tổ chức mạng
lưới thông tin về các ngân hàng đại lý nhanh nhạy thông suốt trong hệ thống NHNT,
thường xuyên tổ chức đúc rút kinh nghiệm trong quan hệ đối ngoại để hạn chế rủi ro trong
thanh toán quốc tế.
Ngoài ra, NHNT cũng cần mở rộng quan hệ song phương, đa phương với các ngân
hàng, các tổ chức tài chính quốc tế, áp dụng các loại hình kinh doanh mới trên thị trường
tài chính, tiền tệ quốc tế, nâng cao vai trò hoạt động của các công ty tài chính và văn phòng
đại diện, xúc tiến thành lập chi nhánh ở nước ngoài, phấn đấu đưa NHNT lên ngang tầm
một ngân hàng tiên tiến trong khu vực, tiến tới hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế.
5. Khai thác tốt các nguồn ngoại tệ:
Để đảm bảo nguồn ngoại tệ để thanh toán, NHNT VN cần đẩy mạnh huy động vốn
ngoại tệ, khai thác tốt các nguồn tài trợ, nâng cao chất lượng tín dụng ngoại tệ. Để chủ
động được nguồn ngoại tệ phục vụ cho thanh toán thư tín dụng trong điều kiện cung cầu
ngoại tệ chưa ổn định, NHNT cần đẩy mạnh hơn nữa các hình thức kinh doanh ngoại tệ với
các ngân hàng thương mại khác kể cả mua bán giao ngay và mua bán kỳ hạn, tạo mối quan
hệ để khi có nhu cầu cấp bách về nguồn thanh toán thư tín dụng thì có thể mua được từ
những ngân hàng này.
NHNT cũng nên đẩy mạnh thu hút vốn ngoại tệ qua các kênh như kiều hối, đại lý
thu đổi ngoại tệ, thực hiện tốt nghiệp vụ bảo lãnh quốc tế cho các nhà thầu xây dựng các
công trình có vốn tài trợ hoặc có sự tham gia của các đối tác nước ngoài vì tiềm lực ngoại
tệ của các đối tác này rất lớn, đây là nguồn lực để NHNT đảm bảo cân đối ngoại tệ.
Một nguồn ngoại tệ có tính ổn định và chủ động có thể khai thác là từ hoạt động thư
tín dụng xuất khẩu. Để có thể phát triển nghiệp vụ này, giảm sự mất cân đối giữa nhập
khẩu và xuất khẩu và tạo nguồn ngoại tệ, NHNT cần chủ động mở rộng các hình thức cho
vay thu mua và sản xuất hàng xuất khẩu. Đối với những đơn vị có thư tín dụng xuất khẩu
thông báo qua NHNT và cam kết xuất trình chứng từ qua NHNT thì có thể xem xét áp
dụng lãi suất ưu đãi. NHNT cũng cần đẩy mạnh nghiệp vụ chiết khấu miễn truy đòi đối với
những bộ chứng từ hoàn hảo và có ngân hàng phát hành là ngân hàng đáng tin cậy, có như
vậy mới đảm bảo khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác về nghiệp vụ thanh toán thư


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status