THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Khái quát về Sở giao dịch – Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam.
2.1.1. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của Sở giao dịch.
Căn cứ vào quyết định số 76/QĐ - TCCB ngày 28/03/1991 của Tổng giám
đốc Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam, về việc thành lập Sở giao dịch (SGD)
Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam (NHĐT&PTVN). Căn cứ vào Điều lệ tổ
chức, hoạt động của NHĐT&PTVN ban hành và quyết định 349/QĐ/NH5 ngày
16/10/1997 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt nam. Sở giao dịch Ngân hàng
Đầu tư & Phát triển Việt Nam đã được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh và
cạnh tranh trên thị trường, trực tiếp kinh doanh và chịu sự quản lý trực tiếp của
NHĐT&PTVN, có trụ sở chính tại 53 Quang Trung, Hà Nội (Trụ sở chính của SGD
đã chuyển về Trung tâm Thương mại VINCOM – 191 Bà Triệu từ năm 2005).
Quá trình 15 năm hình thành và phát triển của SGD có thể chia làm làm 2 giai
đoạn:
* Giai đoạn 1991 – 1994: Đây là giai đoạn NHĐT&PTVN và SGD thực hiện
chức năng của một ngân hàng đầu tư phát triển, chủ yếu cấp phát và cho vay đầu tư
xây dựng cơ bản theo kế hoạch Nhà nước. Trong giai đoạn này, SGD là một đơn vị
trực thuộc NHĐT&PTVN, có nhiệm vụ kinh doanh trực tiếp với các khách hàng
thuộc kinh tế Trung ương, có trụ sở tại Hà Nội, hoạt động kinh doanh trong toàn quốc.
Khách hàng của SGD trong giai đoạn này chủ yếu là các Tổng công ty, Công ty hoạt
động trong lĩnh vực xây lắp. Trong giai đoạn này, SGD hoạt động đối nội như một
phòng ban của NHĐT&PTVN, đối ngoại như một chi nhánh.
* Giai đoạn từ 1995 đến nay: Năm 1995 đánh dấu sự thay đổi cơ bản của
NHĐT&PTVN cả về chức năng và mô hình tổ chức với việc chuyển giao nhiệm vụ
cấp phát vốn ngân sách sang Tổng cục đầu tư (tách ra từ NHĐT&PTVN). SGD bắt
đầu hoạt động hoàn toàn như một ngân hàng thương mại kinh doanh đa năng về lĩnh
vực tài chính ngân hàng, cung cấp các sản phẩm dịch vụ và tiếp tục thực hiện chức
năng của ngân hàng phát triển: Đầu tư vào cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng cho nền kinh
tế. Trong giai đoạn này hoạt động của SGD trải qua các thời kỳ sau:
toán
Phòng
tài
chính -
kế toán
Phòng
thanh
toán
qu c tố ế
Phòng
dịch vụ
khách
hàng
DN
Phòng
dịch vụ
KH cá
nhân
Phòng
tín dụng
I,II,III
Phòng
kiểm tra
nội bộ
Phòng
thẩm
định -
quản lý
TD
Phòng
chức thu thập thông tin, nghiên cứu thị trường, phân tích môi trường kinh doanh; xây
dựng chiến lược kinh doanh, các chính sách kinh doanh, chính sách marketing, chính
sách khách hàng, chính sách lãi suất, chính sách huy động vốn… ;Lập, theo dõi, kiểm
tra tiến độ thực hiện kế hoạch kinh doanh, xây dựng chương trình hành động để thực
hiện kế hoạch kinh doanh của Sở giao dịch; Tổ chức quản lý hoạt động huy động vốn,
cân đối vốn và các quan hệ vốn của SGD, nghiên cứu phát triển, lựa chọn, ứng dụng
sản phẩm mới về huy động vốn.
- Phòng Thẩm định - quản lý tín dụng: Có nhiệm vụ thẩm định các dự án cho
vay, bảo lãnh (trung, dài hạn) và các khoản tín dụng ngắn hạn vượt mức phán quyết
của Trưởng phòng Tín dụng; tham gia ý kiến về quyết định cấp tín dụng đối với các
dự án trung, dài hạn và các khoản tín dụng ngắn hạn vượt mức phán quyết của Trưởng
phòng Tín dụng.
- Phòng Tài chính - Kế toán: Phòng tài chính – Kế toán có nhiệm vụ: Tổ
chức, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra công tác hoạch toán kế toán và chế độ báo cáo
kế toán của các phòng và các đơn vị trực thuộc; Hậu kiểm các chứng từ thanh toán
của các phòng tại SGD; Lập và phân tích các báo cáo tài chính, kế toán của SGD;
Cung cấp thông tin về tình hình tài chính và các chỉ tiêu thanh khoản của Sở giao
dịch; Phân tích và đánh giá tài chính, hiệu quả kinh doanh của các phòng, các đơn vị
trực thuộc và toàn SGD; Thực hiện nộp thuế, trích lập và quản lý sử dụng các quỹ;
Thực hiện kế hoạch chi tiêu nội bộ;Tham mưu cho Giám đốc về thực hiện chế độ tài
chính, kế toán.
- Phòng điện toán: Quản lý mạng, quản lý hệ thống phân quyền truy cập, kiểm
soát theo quyết định của Giám đốc, quản lý hệ thống máy móc thiết bị tin học tại Sở
giao dịch, đảm bảo an toàn thông suốt mọi hoạt động của Sở giao dịch; Hướng dẫn,
đào tạo, hỗ trợ các đơn vị trực thuộc Sở giao dịch vận hành hệ thống tin học phục vụ
kinh doanh, quản trị điều hành của Sở giao dịch.
- Phòng kiểm tra - kiểm toán nội bộ: Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm toán nội
bộ tại trụ sở Sở giao dịch và tất cả các đơn vị trực thuộc Sở giao dịch theo quy chế hoạt
động Kiểm tra – Kiểm toán nội bộ; Kiểm tra việc thực hiện các quy chế, chế độ tại Sở giao
dịch; Kiểm tra và đôn đốc việc tuân thủ Pháp luật và đề xuất các biện pháp phòng ngừa,
SGD là đơn vị luôn dẫn đầu hệ thống NHĐT&PTVN trong nhiều năm qua.
2.1.2.1.Tình hình huy động vốn:
Tính đến 31/12/2005, tổng tài sản đạt 11.180.720 triệu đồng, tăng so với năm
2004 là 229.740 triệu đồng (tăng 2,1%). Tình hình huy động vốn có nhiều khởi sắc
hơn năm 2004, với tổng huy động đạt 7.569.500 triệu đồng, tăng so với năm 2004 là
461.050 triệu đồng (tăng 6,49%). Thị phần huy động vốn trên địa bàn vẫn được giữ
vững trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các ngân hàng trên cùng địa
bàn. Kết quả huy động vốn như sau:
Bảng 1 : Kết quả hoạt động huy động vốn của SGD qua các năm
Đơn vị: triệu đồng.
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tỷ lệ tăng
trưởng((%)
2005/03 2005/04
Huy động vốn 8.408.300 7.108.450 7.569.500 -9,98% 6,49%
1. Tiền gửi TCKT 2.771.700 3.705.456 4.407.585 59,02% 18,9%
+ Tiền gửi không kỳ hạn 556.410 1.019.978 844.839 51,84% -17,17%
+ Tiền gửi có kỳ hạn 2.215.290 2.685.478 3.562.746 60,83% 32,67%
2. Tiền gửi trong dân cư 5.165.807 3.317088 3.048.831 -40,98% -8,09%
+ Tiết kiệm 2.404.572 2.208.801 2.168426 -9,82% -1,83%
+ Kỳ phiếu 1.688.811 461.017 230.878 -86,33% -49,92%
+ Trái phiếu 1.072.424 647.270 649.527 -39,43% 0,35%
3. Huy động khác 470.793 85.906 113.084 -75,98% 31,64%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của SGD)
* Nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế:
Bước vào năm 2005, trước những thuận lợi cũng như những khó khăn và
thách thức của nền kinh tế trong và ngoài nước, SGD vẫn giữ vững được vị thế của
mình trên địa bàn Hà Nội trong công tác huy động vốn, mặc dù SGD phải đứng trước
sự cạnh tranh gay gắt từ các TCTD khác trên cùng địa bàn. Nguồn tiền gửi TCKT
tăng trưởng qua các năm, năm 2005 đạt 4.407.585 triệu đồng, tăng 702.129 triệu
biến động của các thị trường trong và ngoài nước cũng là một trong những nguyên
nhân; như thị trường nhà đất, thị trường lãi suất trên thị trường tiền tệ nói chung và
trên địa bàn Hà Nội nói riêng,…Bên cạnh đó còn do khi các chi nhánh Đông Đô, Bắc
Hà Nội, Hà Thành, Quang Trung tách khỏi SGD thì đã mang theo 1 lượng vố huy
động không nhỏ. Vì vậy, lượng tiền gửi của dân cư có xu hướng giảm đi, các NHTM
cũng như SGD không có được sự tăng trưởng nào trong công tác huy động vốn từ dân
cư.
Trong 3 năm gần đây, tiền gửi tiết kiệm của dân cư tại SGD hầu như không có
sự tăng trưởng nào đáng kể. Năm 2005, tiền gửi tiết kiệm của dân cư đạt 2.168426
triệu đồng, giảm 1,83% so với năm 2004 và giảm 9,82% so với năm 2003.
Mặc dù SGD đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao khối lượng huy động tiền
gửi từ các khoản tiết kiệm, như các chế độ ưu đãi về lãi suất đối với các khách hàng,
các phương thức trả lãi thoả thuận, tích cực triển khai các sản phẩm mới theo chỉ đạo
của Hội sở chính: Tiết kiệm dự thưởng với quy mô giải thưởng rất lớn và hấp dẫn, tiết
kiệm gửi góp,… Mặc dù vậy vẫn không có sự thay đổi lớn, người dân chủ yếu chuyển
từ tài khoản tiết kiệm thông thường sang tiết kiệm dự thưởng, không có thêm được
nhiều khách hàng, do vậy vốn huy động từ các khoản tiền tiết kiệm của dân cư hầu
như không thay đổi, không có sự tăng trưởng nào đáng kể, một phần cũng do các
nguyên nhân đã trình bày ở trên.
Năm 2005, NHĐT&PTVN đã tiến hành việc phát hành các đợt chứng chỉ tiền
gửi (CDs) với mục đích nhằm huy động thêm vốn để nâng cao năng lực tài chính, kích
thích khả năng cạnh tranh trên thị trường Ngân hàng trong nước, hướng đến mục tiêu
là đích đến của nhiều khoản đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian tới.
2.1.2.2. Công tác tín dụng:
Đến tháng 12/2005, các chỉ tiêu tín dụng của Sở giao dịch đã đạt được như sau:
Bảng 2: Kết quả hoạt động tín dụng của SGD qua các năm
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tỷ lệ tăng trưởng
(±%)
vay của khách hàng; thẩm định các dự án cho vay đối với các công ty: Cty Cổ phần
Xây dựng CTGT 246, Cty Cổ phần Ximăng Thăng Long; tiếp cận một số công ty mới
có nhu cầu vay vốn ngắn hạn. Nhu cầu vay vốn ngắn hạn bằng VNĐ vẫn chiếm tỷ
trọng cao trong cả nhu cầu.
- Dư nợ tín dụng trung – dài hạn của SGD năm 2005 giảm so với 2 năm 2003,
2004. Năm 2005, chỉ tiêu này chỉ đạt 1.012.621 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 21% trong
tổng dư nợ, giảm 35,24% so với năm 2003 (đạt 1.564.566 triệu đồng) và giảm 24,73%
so với năm 2004 đạt 1.345.314 triệu đồng. Sở giao dịch trong năm vừa qua đã thực
hiện được nhiều dự án lớn, như hoàn tất thủ tục cho vay và trình cơ quan cấp trên dự
án nhà máy nhiệt điện Na Dương của TCT than Việt Nam, dự án của TCT Dầu khí
Việt Nam,… đồng thời ký hợp đồng với các đối tác: Lilama, Công ty XNK Intimex,
Hagarsco… giải ngân các hoạt động tín dụng trung và dài hạn đã ký: Nhà máy đóng
tàu Bạch Đằng, Nhà máy đóng tàu Hạ Long…; triển khai việc ký kết các hợp đồng
bảo đảm, làm việc với TCT Đường sắt Việt Nam, TCT Cà phê Việt Nam…
- Dư nợ tín dụng theo Kế hoạch Nhà nước năm 2005 đã giảm đáng kể so với
năm 2003 và 2004. Năm 2005, cho vay theo KHNN đạt 374.866 triệu đồng, giảm
35,68% so với năm 2003 và 27,28% so với năm 2004. Điều này là phù hợp với chủ
trương và thực tế của SGD, giảm cho vay theo chỉ định, tăng cường tìm kiếm các dự
án cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh, hạn chế sự phụ thuộc vào một số tổng
công ty lớn. Cho vay uỷ thác, ODA năm 2005 đạt 305.846 triệu đồng, giảm 18,67% so
với năm 2003 và 21,12% so với năm 2004; cho vay đồng tài trợ tăng nhanh, đạt
1.396.026 triệu đồng, tăng 24,68% so với năm 2004 đạt 1.119.697 triệu đồng, tăng
71,28% so với năm 2003 đạt 814.592 triệu đồng. Nước ta đang là một trong những
nơi đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài với những tiềm lực mạnh mẽ về thị
trường, về con người, do vậy các khoản đầu tư nước ngoài luôn có xu hướng tăng qua
các năm, nhiều hợp đồng tài trợ được ký kết giữa các đối tác cả trong và ngoài nước,
khẳng định vai trò hàng đầu của hệ thống BIDV trên thị trường tiền tệ trong nước.
Trong những năm vừa qua, SGD đã thực hiện hàng loạt danh mục đầu tư, cho
vay theo đúng tính chất của một ngân hàng hiện đại, đáp ứng được phần nào các nhu
cầu về vốn của các doanh nghiệp cũng như tòan bộ nền kinh tế, góp phần giữ vững vị