Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định
dự án tại SGD NHĐT&PT
2.1. Định hướng phát triển của SGD NHĐT&PT.
2.1.1. Định hướng phát triển về hoạt động kinh doanh của SGD.
2.1.1.1. Định hướng phát triển chung của Sở giao dịch:
Nhận thức rõ vai trò là một trong những đơn vị thành viên lớn nhất của hệ
thống BIDV, kết quả và hiệu quả kinh doanh cuả Sở có ảnh hưởng không nhỏ tới
hiệu quả kinh doanh cũng như vị thế của BIDV. SGD đưa ra những định hướng sau:
- Về chất lượng: thực hiện nghiêm túc đánh giá xếp hạng khách hàng và phân loại
nợ xấu. Tăng cường kiểm soát hạn chế nợ xấu phát sinh, tích cực và quyết liệt tròn
xử lý nợ xấu. Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng, đảm
bảo tính cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có.
- Về hiệu quả: Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc điều chỉnh
cơ cấu tài sản nợ- tài sản có, giảm dần tỷ trọng tín dụng trung dài hạn, tín dụng thuộc
đối tượng xây lắp, tăng tỷ trọng tín dụng ngắn hạn, tín dụng ngoài quốc doanh đối
với các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.
- Nâng dần tỷ trọng thu dịch vụ trên lợi nhuận trước thuế. Tăng trưởng và phát triển
dịch vụ cả về quy mô ứng dụng cũng như hiệu quả sản phẩm.
- Đào tạo chuyên sâu đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, đáp ứng tốt yêu cầu hội
nhập ngân hàng, đặc biệt giáo dục phẩm chất đạo đức cho cán bộ.
Hoạt động huy động vốn:
SGD phải chú trọng vào các hoạt động:
- Đẩy mạnh huy động vốn, nâng cao tỷ trọng trung dài hạn đáp ứng nhu cầu cho
vay đầu tư phát triển.
- Đa dạng hoá sản phẩm huy động, đáp ứng cao nhất nhu cầu tiền gửi của khách
hàng.
- Chuyển dịch cơ cấu nguồn đảm bảo, tự chủ về nguồn vốn, đảm bảo khả năng
thanh toán và đáp ứng hoàn toàn nhu cầu cho vay và đầu tư
- Điều hành lãi suất theo sát biến động thị trường, đảm bảo giữ vững và tăng
trưởng nguồn vốn.
Hoạt động tín dụng:
tin chủ quan mà chỉ do khách hàng cung cấp; Triển khai tốt công tác giám sát tài sản
đảm bảo, nâng dần tỷ trọng tài sản đảm bảo trên tổng dư nợ.
- Chủ động phối hợp với các phòng Tín dụng trong công tác thẩm định và quản
lý tín dụng nhằm đáp ứng được yêu cầu chung của công việc và vì hoạt động chung
của SGD.
- Bám sát quy trình thẩm định, cố gắng hoàn thành sớm nhất thời gian theo ISO
quy định.
- Thường xuyên có buổi thảo luận nghiệp vụ chuyên môn để đúc rút kinh
nghiệm cho những dự án tương tự, giúp cho cán bộ mới dễ tiếp cận dự án, độ trễ về
thời gian được rút ngắn.
2.2. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thẩm định tại
SGD NHĐT&PT
2.2.1. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định:
2.2.1.1. Về quy trình thẩm định
Quy trình thẩm định mặc dù đã logic và khá khoa học, song thời gian đang còn
bị kéo dài do cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Để có thể rút
ngắn thời gian thì trong quá trình thẩm định phòng thẩm định và phòng tín dụng nên
kết hợp một cách chặt chẽ với nhau. Trong thời gian đầu khi khách hàng nộp hồ sơ,
phòng tín dụng nên kiểm tra sơ bộ hồ sơ, xem xét những giấy tờ còn thiếu hay chưa
rõ ràng thì đề nghị khách hàng bổ sung luôn, tránh tình trạng khi hồ sơ chuyển sang
phòng thẩm định rồi mới được kiểm tra, nếu có thiếu sót, lại chuyển sang phòng tín
dụng để liên hệ với khách hàng, điều đó sẽ làm kéo dài thời gian thẩm định hay ảnh
hưởng đến bước thẩm định tiếp theo.
Mặt khác, mỗi một dự án có những đặc điểm, tính chất, độ phức tạp khác nhau
nên cần phải xây dựng những quy trình riêng cho từng loại dự án.
Ngoài ra để đạt được kết quả cao hơn nữa trong công tác thẩm định, giảm bớt
thời gian thẩm định thì phòng thẩm định nên cố gắng hạn chế những thiếu sót trong
từng bước thẩm định để không ảnh hưởng đến bước tiếp theo.
2.2.1.2. Về phương pháp thẩm định
Một trong những yếu tố làm cho chất lượng thẩm định đạt hiệu quả cao là
được thị phần của doanh nghiệp trên thị trường .
Sử dụng các chỉ tiêu như:
+ Hệ số thanh toán ngắn hạn: Hệ số này để đánh giá khả năng thanh toán chung
của công ty.
Tài sản có ngắn hạn
---------------------------------------------------------------*100%
Tài sản nợ ngắn hạn + nợ dài hạn đến hạn
Công ty cổ phần Vital có hệ số thanh toán ngắn hạn là:
%97.41%100*
791,29
505,12
=
<100%, có thể công ty dùng tài sản có ngắn hạn để mua tài sản cố định hoặc dùng để
trả khoản nợ thay cho phải dùng lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Hệ số thanh toán nhanh:
Tài sản có tính lỏng cao
---------------------------------*100%
Tài sản nợ ngắn hạn
Tài sản có tính lỏng cao như là các tài sản như tiền gửi, cổ phiếu, trái phiếu của
doanh nghiệp có thể bán ngay.
Tính chỉ tiêu trên để xem xét khả năng trả nợ nhanh của doanh nghiệp
+Hệ số tài sản cố định:
Tài sản cố định
------------------------------*100%
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này cho thấy mức độ ổn định của việc đầu tư vào tài sản cố định. Tỷ số
này càng nhỏ càng an toàn.
Trong dự án nước khoáng Vital, hệ số tài sản cố định:
769
895,16
đến khả năng tiêu thụ của sản phẩm.
Để đánh giá đuợc mức độ cạnh tranh của sản phẩm dự án, cán bộ thẩm định nên
sử dụng một số chỉ tiêu như sau:
+ Thị phần của dự án/ thị phần của các đối thủ cạnh tranh
+ Doanh thu từ bán sản phẩm của dự án/ doanh thu của các đối thủ cạnh tranh
+ Tỷ lệ chi phí marketing/ tổng doanh thu
+ Tỷ suất lợi nhuận
Thông qua các chỉ tiêu trên cán bộ thẩm định có thể đánh giá được mức độ cạnh
tranh của sản phẩm đối với các sản phẩm khác cùng loai trên thị trường.
- Đối với nội dung thẩm định tài chính của dự án: Không chỉ quan tâm đến khả
năng trả nợ của dự án mà cần theo dõi cả vòng đời của dự án, sự quay vòng của vốn.
Mặt khác cần chú ý phân tích độ nhạy của dự án, đưa nhiều yếu tố thay đổi cùng một
lúc để đánh giá được khách quan hơn.
- Về nội dung đánh giá mức độ rủi ro của dự án: Dự án đầu tư luôn chịu ảnh
hưởng bởi những yếu tố rủi ro về thiên tai, hoả hoạn, rủi ro biến động giá bán,
nguyên nhiên vật liệu yếu tố đầu vào… Do vậy, phân tích rủi ro là một nội dung rất
quan trọng và cần được quan tâm một cách thích đáng hơn. Để phân tích rủi ro có thể
sử dụng một số phương pháp sau:
+ Điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu: Nguyên tắc cơ bản của phương pháp này là điều
chỉnh mức tỷ lệ chiết khấu cơ sở được xem là không có rủi ro hoặc có thể chấp nhận
ở mức rủi ro tối thiểu. Việc điều chỉnh được thực hiện bằng cách cộng thêm vào lãi
suất một mức bù rủi ro. Sau đó tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR… theo mức lãi suất
mới sau khi đã điều chỉnh mức rủi ro.
Bảng điều chỉnh mức lãi suất chiết khấu
Mức bù rủi ro Điều kiện áp dụng
4%Mở rộng dự án hoạt động Mở rộng dự án hoạt động đang có hiệu quả
7% Thực hiện dự án mới gắn với hoạt động chính của công ty
10% Dự án sản xuất sản phẩm mới, tiếp cận thị trường mới
+ Phương pháp hệ số tin cậy: Phương pháp này điều chỉnh giá trị của dòng tiền
dự kiến (CF
nhất đến kết quả và hiệu quả đầu tư
Bước 3: Căn cứ vào kết quả bước 1 và bước 2 xác định những tình huống có thể
xảy ra nhiều nhất đối với dự án và tiến hành phân tích các tình huống đó. Việc phân
tích kịch bản sẽ thường được tiến hành theo một số kịch bản thường xảy ra. Số lượng
kịch bản dựa vào mong muốn của nhà phân tích. Kết quả phân tích kịch bản là một số
bức tranh về tình hình đầu tư trong tương lai. Đây sẽ là cơ sở để cán bộ thẩm định
đưa ra quyết định của mình.
+ Phương pháp phân tích theo xác suất: Phương pháp này được thực hiện theo 5
bước:
Bước 1: Xây dựng mô hình bài toán, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến kết
quả và hiệu quả đầu tư
Bước 2: Tiến hành phân tích độ nhạy để xác định nhân tố tác động mạnh nhất
đến kết quả và hiệu quả đầu tư
Bước 3: Lựa chọn những nhân tố tác động mạnh nhất đến kết quả và hiệu quả
đầu tư, tiến hành phân tích các nhân tố đó về xác suất và giá trị ứng với từng xác suất.
Bước 4: Lựa chọn ngẫu nhiên từng nhân tố với một giá trị và đánh giá kết quả
và hiệu quả theo việc lựa chọn đó. Việc lựa chọn này được tiến hành nhiều lần, số lần
tuỳ thuộc vào mong muốn của nhà đầu tư
Bước 5: Căn cứ vào kết quả tính toán ở bước 4, xây dựng bảng tổng quan về
phân tích xác suất trong đó xác định: Giá trị kỳ vọng, độ lệch chuẩn, xác suất thành
công của dự án.
Việc sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào từng dự án, mức độ phức tạp
của dự án. Cán bộ thẩm định cần linh hoạt trong cách sử dụng sao cho có hiệu quả
nhất.
2.2.1.4. Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện thẩm định dự án
Một trong những nhân tố có tác động trực tiếp đến công tác thẩm định dự án là
công tác quản lý, tổ chức, điều hành và thực hiện dự án. Quy trình và nội dung thẩm
định dù có hoàn thiện đến đâu đi nữa nhưng nếu không được tổ chức, quản lý phân
công thẩm định một cách khoa học, chặt chẽ thì công tác thẩm định sẽ không đạt
được kết quả cao. Sự phân công thẩm định chồng chéo sẽ gây lãng phí nguồn nhân
tới quyết định sai lầm, không đảm bảo an toàn được nguồn vốn cho vay.
Để nâng cao chất lượng thu thập thông tin, cán bộ thẩm định cần phải thu thập
thông tin đa dạng qua các kênh thông tin:
- Qua nhà cung cấp hàng hoá, thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào, dịch vụ, các nhà tiêu
thụ sản phẩm tương tự cảu dự án đầu tư để đánh giá thị trường đầu vào.
- Qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài, mạng internet…; Từ các
cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý doanh nghiệp…
- Qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo chuyên đề hội thảo về các ngành nghề.
- Qua tìm hiểu các dự án cùng loại.
- Qua hồ sơ vay vốn trước đây và hiện tại của khách hàng tại ngân hàng.
- Qua các bạn hàng, đối tác làm ăn.
- Qua các ngân hàng mà khách hàng đã vay vốn trước đây.
…
Để đảm bảo xây dựng một hệ thống thông tin có hiệu quả, trước hết Ngân hàng
cần ban hành thu thập một quy chế thông tin định kỳ cho các bộ phận thông tin ở các
chi nhánh. Những thông tin câng thiết liên quan đến dự án cần được cung cấp một
cách nhanh nhất. Hiện nay các chi nhánh của Ngân hàng đã được trang bị hệ thống
máy tính khá hiện đại, kết nối qua mạng nên thông tin được cập nhật hàng ngày và
nhanh chóng. Đây sẽ là một chìa khoá để giải quyết các vấn đề thông tin nội bộ cho
ngân hàng nói chung và Sở giao dịch nói riêng.
Không những chỉ thông tin nội bộ mà Sở giao dịch nên tích cực thu thập thông
tin ở bên ngoài. Không những qua mạng lưới Internet, qua khách hàng, qua các tổ
chức mà còn tham khảo các chuyên gia tư vấn để trợ giúp trong quá trình thẩm định
dự án.
Trong môi trường luôn luôn biến động như hiện nay thì mọi thứ đều có thể thay
đổi, như tình hình chính trị, chiến lược quy hoạch phát triển, yếu tố giá cả, yếu tố
cung cầu… Điều đó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí, khả năng trả nợ của doanh
nghiệp mà sự việc này không được dự đoán trong quá trình thẩm định. Vì vậy việc
nâng cao khả năng dự báo cho các cán bộ là rất cần thiết, đảm bảo cho việc tính toán
khả thi hơn trong môi trường biến động. Để làm được điều này cần trang bị các