Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Haruki Murakami : Luận án TS. Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: 622201 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG PHƢƠNG THẢO

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT HARUKI MURAKAMI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐẶNG PHƢƠNG THẢO

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG
TIỂU THUYẾT HARUKI MURAKAMI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62 22 01 20

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:

1. GS.TS. LÊ HUY BẮC
2. TS. ĐÀO THỊ THU HẰNG

HÀ NỘI - 2018

1.1 . Khái lƣợc tình hình nghiên cứu lí thuyết tự sự hiện đại ...............................7
1.1.1. Những dòng nghiên cứu chủ lưu trên thế giới ..................................................7
1.1.2. Nghiên cứu văn học theo hướng tự sự ở Việt Nam .........................................10
1.1.3. Nghệ thuật tự sự và những khái niệm trọng tâm .............................................17
1.2 . Tình hình nghiên cứu nghệ thuật tự sự của Murakami..............................23
1.2.1 . Trên thế giới ...................................................................................................23
1.2.2 . Ở Việt Nam .....................................................................................................30
Tiểu kết

................................................................................................................36

Chƣơng 2: TỰ SỰ ĐA CHỦ THỂ TRONG TIỂU THUYẾT CỦA HARUKI
MURAKAMI ................................................................................................... 37
2.1. Luân phiên chủ thể ...........................................................................................37
2.1.1. Sự gia tăng chủ thể tự sự (multi - narrator) ...................................................37
2.1.2. Sự hoán đổi chủ thể tự sự ...............................................................................40
2.1.3. Hình thức tự sự qua những bức thư ...............................................................47
2.2. Di chuyển điểm nhìn .........................................................................................51
2.2.1. Đa điểm nhìn tự sự (multipoint of view) ........................................................51
2.2.2. Dán ghép các điểm nhìn .................................................................................52
2.2.3. Di chuyển điểm nhìn trên trục không gian, thời gian ....................................56
2.3. Hợp xƣớng giọng điệu ......................................................................................58


2.3.1. Tính chất đa thanh (polyphonic) ....................................................................58
2.3.2. Dàn hợp xướng trữ tình ..................................................................................59
2.3.3. Dàn hợp xướng trào lộng ................................................................................68
Tiểu kết ............................................................................................................. 75
Chƣơng 3: NHÂN VẬT TRONG TỰ SỰ CỦA HARUKI MURAKAMI ...... 76
3.1. Kiểu nhân vật chấn thƣơng ...........................................................................77

1.1. Roland Barthes nói: “Đã có bản thân lịch sử loài ngƣời, thì đã có tự sự”
[Dẫn theo 102, tr.12]. Đúng nhƣ vậy, tự sự học có từ thời cổ đại nhƣng tự sự học lúc
đó đƣợc hiểu giới hạn trong tu từ học. Cuối thế kỉ XIX, tự sự học hiện đại manh nha
đƣợc hình thành. Những thập niên đầu thế kỉ XX, tự sự học (Narratology) với tƣ
cách là một bộ môn nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm
đối tƣợng nghiên cứu mới trở thành một lĩnh vực học thuật đƣợc quan tâm. B.
Tomasepxki, V. Shklopvski, V. Propp, M. Bakhtin là những ngƣời mở đƣờng cho
tự sự học hiện đại. Những năm 60 của thế kỉ XX, các nhà lí luận Pháp đã đề cập về
tự sự học và giải quyết các vấn đề liên quan đến chúng, tiếp đó là các công trình
nghiên cứu của các nhà lí luận Mĩ, Anh, Trung Quốc... Ở Việt Nam, tự sự học
nhanh chóng trở thành lĩnh vực thu hút các nhà nghiên cứu. Vận dụng lí thuyết tự
sự để nghiên cứu văn học là một hƣớng nghiên cứu giàu tiềm năng, góp phần giải
mã thế giới nghệ thuật phong phú, bí ẩn của nhà văn.
1.2. Những năm cuối cùng của thế kỉ XX đã xuất hiện những tiên đoán về sự
thất thế của tiểu thuyết bởi sự lên ngôi của phƣơng tiện truyền thông, truyền hình
số, mạng internet… Tuy vậy, gần hai thập niên của thế kỉ XXI trôi qua, văn chƣơng
hậu hiện đại đã và đang tiếp tục chứng kiến sự bùng nổ của những hiện tƣợng văn
học trên khắp thế giới. Sức sống dồi dào và mãnh liệt của tiểu thuyết nói riêng, của
văn học nói chung nằm ở chính sự vận động nội tại của văn học, khiến nó “nằm
ngoài những định luật băng hoại” và “không chấp nhận cái chết” nhƣ lời khẳng định
của nhà văn Nga M.Y.Saltykov Shchedrin. Có thể kể ra những tác giả tiêu biểu của
thời đại nhƣ Mạc Ngôn, Garcia Market, Franz Kafka, J.K.Rowling… Trong số đó,
không thể không nhắc đến nhà văn Nhật Bản, Haruki Murakami.
1.3. Murakami Haruki là một hiện tƣợng văn học độc đáo, từ lúc xuất hiện trên
văn đàn đã nhận đƣợc nhiều ý kiến đánh giá trái chiều. Có một bộ phận không nhỏ
độc giả phê phán, thậm chí phủ định giá trị tác phẩm Murakami, coi đó là thứ văn
chƣơng “lai căng”, “hôi mùi bơ”, giết chết vẻ đẹp thanh cao của văn chƣơng truyền
1



2


hƣớng để lí giải nguyên nhân vì sao tác phẩm của nhà văn có thể vƣơn xa ra khỏi
biên giới nƣớc Nhật và đƣợc công chúng toàn cầu đón nhận.
1.5. Tiểu thuyết của Murakami không kén ngƣời đọc nhƣng cũng không phải
loại văn chƣơng giải trí thuần túy. Mỗi tác phẩm luôn chứa đựng những giá trị nghệ
thuật, giá trị nhân văn sâu sắc. Sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba với ứng
dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất, giờ đây thế giới đang
bƣớc vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 xóa mờ ranh giới giữa vật lí, kĩ thuật số
và sinh học khiến thế giới không ngừng biến động, nhiều giá trị truyền thống lung
lay, con ngƣời ngƣời luôn luôn phải đối mặt với những tình huống mang tính lựa
chọn khi ranh giới giữa Thiện và Ác trở nên mong manh. Hơn lúc nào hết, văn
chƣơng cần định hƣớng ngƣời đọc để họ xác lập cho mình một lối đi đúng đắn giữa
cuộc đời nhiều bất trắc, lo toan. Tiểu thuyết Murakami đã làm đƣợc điều đó khi
chạm đến tầng sâu nhất trong tâm khảm con ngƣời, đánh thức dậy những nhận thức
mới mẻ về bản thể, lẽ sống, và ý thức trách nhiệm với cộng đồng của con ngƣời thời
đại mới. Đây là một sứ mệnh vô cùng cao quí của văn chƣơng. Những thông điệp
nhân sinh mà nhà văn gửi gắm trong sáng tác là kết quả của hành trình dấn thân –
trải nghiệm đầy dũng cảm của một con ngƣời biết trân trọng cuộc sống.
Vì tất cả những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Nghệ thuật tự sự trong
tiểu thuyết Haruki Murakami.
2. Mục đích và nhiệm vụ
- Mục đích của luận án là dùng một số vấn đề lí luận của nghệ thuật tự sự kết
hợp với các yếu tố văn hóa bản địa (Nhật Bản) để nhận diện, phân tích và khái quát
nghệ thuật tự sự của Haruki Murakami nhằm làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội
dung tƣ tƣởng của các tác phẩm, thấy đƣợc điểm chung, điểm riêng của nhà văn
trong dòng chảy của văn chƣơng hậu hiện đại. Qua đó lí giải tƣ duy nghệ thuật của
nhà văn và các vấn đề lí luận của tiểu thuyết, đồng thời đƣa ra một cách tiếp cận tác
giả này ở Việt Nam.

tiểu thuyết khác của Murakami nhƣ: Người tình Sputnik, Ngân Xuyên dịch theo
bản tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2008, Xứ sở
diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, Lê Quang dịch, Nhã Nam và Nhà xuất
bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010, Nhảy Nhảy Nhảy, Trần Vân Anh dịch theo bản
4


tiếng Anh, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 2011, 1Q84 (trọn bộ
3 tập), Lục Hƣơng dịch theo bản tiếng Hoa, Nhã Nam và Nhà xuất bản Hội nhà
văn, Hà Nội, 2012.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp tiếp cận tự sự học đƣợc áp dụng vào việc nghiên cứu các tác
phẩm của Murakami để tìm ra đặc trƣng nghệ thuật tự sự của nhà văn thông qua
việc khảo sát hình tƣợng ngƣời kể chuyện, các kiểu nhân vật tự sự, các kiểu không
gian, thời gian tự sự.
- Phƣơng pháp hệ thống giúp chúng tôi nghiên cứu tiểu thuyết của Murakami
nhƣ một hệ thống và đặt nó trong hệ thống lớn hơn là tiến trình tiểu thuyết hiện đại,
hậu hiện đại.
- Phƣơng pháp lịch sử đƣợc sử dụng trong việc so sánh đối chiếu các tác phẩm
của Murakami với các tác phẩm của các nhà văn hiện đại, hậu hiện đại trên thế giới
từ đó chỉ ra những vận động trong nghệ thuật trần thuật.
- Phƣơng pháp loại hình đƣợc vận dụng để phân chia nhân vật trong tiểu
thuyết Murakami thành một số kiểu, loại với những tiêu chí nhận diện nhất định
nhằm tìm ra những đặc điểm tƣơng đồng loại hình về phƣơng diện nghệ thuật trần
thuật, chỉ ra các kiểu, dạng ngƣời kể chuyện, phƣơng thức trần thuật và giọng điệu
trần thuật… từ góc nhìn thể loại.
5. Đóng góp mới của luận án
- Đây là đề tài đầu tiên ở Việt Nam vận dụng những vấn đề lí thuyết tự sự
nghiên cứu sâu nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết của Murakami.
- Luận án tập trung nghiên cứu sự độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện của

khái niệm mô phỏng (mimesis)/tự sự (diegesis). Cho đến thế kỉ XIX, các tác giả
Anh nhƣ Thomas Lister đã sử dụng khái niệm điểm nhìn, John Gibson Lockhart bắt
đầu dùng khái niệm khoảng cách, tiếp ngay sau đó nhà nghiên cứu ngƣời Mĩ Henry
James và Anh E. Foster đã sử dụng rộng rãi các khái niệm ấy trong các bài nghiên
cứu của mình. Tuy nhiên, khái niệm tự sự học với tƣ cách là một lí thuyết nghiên
cứu các đặc điểm nghệ thuật kể chuyện của văn bản tự sự chỉ thực sự đƣợc hình
thành từ thế kỉ XX.
Trong suốt một thế kỉ qua, lí thuyết tự sự không ngừng vận động và phát
triển, mở ra nhiều hƣớng nghiên cứu mới, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn sáng
tác. Tổng quan quá trình nghiên cứu của lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới, nhà lí
luận Mĩ Gerald Prince đã chia làm ba nhóm, tạo thành những dòng chủ lƣu:
Nhóm thứ nhất gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hƣởng của các nhà hình
thức chủ nghĩa Nga nhƣ V. Propp, Todorov, Barthes, Remak, Norman Friedman,
Northrop Frye, Etienne Souriau… chú ý tới cấu trúc của câu chuyện đƣợc kể, đối
tƣợng của trần thuật, trong đó chú ý xây dựng ngữ pháp của tự sự, chức năng của sự
kiện, kết cấu logic phát triển của chúng, bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trƣng
biểu đạt của chất liệu. Nhóm này xem công trình Hình thái học truyện cổ tích thần
kì Nga (1928) của Propp là cuốn sách mở đầu cho tự sự học cấu trúc luận.
Nhóm thứ hai gồm G. Genette, F. Stanzel, Dolezel, S. Lanser… tập trung
nghiên cứu sự triển khai của diễn ngôn trần thuật, họ xem nguồn gốc của tự sự là
dùng ngôn ngữ biểu đạt và vai trò của ngƣời trần thuật là quan trọng nhất do đó họ
tập trung nghiên cứu lời kể, cách kể. Genette nêu ra 3 phạm trù của diễn ngôn trần
thuật: thời thái (tence), quan hệ với thời gian; ngữ thức (mood), quan hệ với cự li và
7


góc độ trần thuật; ngữ thái (voice), liên quan đến tình huống, quan hệ ngƣời kể và
ngƣời nhận trong trần thuật. F. Stanzel đề ra khái niệm tình huống kể (narrative
situation), S. Lanser và James Phelan lại có những phát biểu về mối quan hệ giữa
giọng điệu kể và các biện pháp tu từ. Có thể nói lí thuyết tự sự cấu trúc chủ nghĩa đã

David Herman trong sách Tân tự sự học cho biết:
Mƣời năm trở lại đây, thi pháp tự sự đã có những đổi thay đáng kinh
ngạc, đến hôm nay có thể nói, tự sự học đã phục hƣng, nói cách khác, tự sự
học đã từ giai đoạn kinh điển của chủ nghĩa cấu trúc, một giai đoạn của
Saussure vốn khá xa cách đối với văn học đƣơng đại - để bƣớc sang giai
đoạn hậu kinh điển. Tự sự học hậu kinh điển (không nên lẫn lộn nó với lí
luận tự sự hậu cấu trúc) chỉ coi tự sự học kinh điển nhƣ một trong những
“khoảnh khắc quan trọng” của mình, bởi vì nó còn hấp thu nhiều phƣơng
pháp luận và giả thiết nghiên cứu mới, mở ra nhiều cách nhìn mới về hình
thức và chức năng tự sự. Thứ hai, giai đoạn tự sự học hậu kinh điển không
chỉ phơi bày những hạn chế của mô hình tự sự học cấu trúc chủ nghĩa cũ,
mà còn lợi dụng các khả năng của chúng; cũng giống nhƣ vật lí học hậu
kinh điển không hề vứt bỏ một cách giản đơn mô hình vật lí Newton, mà
suy nghĩ lại về những tiềm năng của chúng, đánh giá lại phạm vi ứng dụng
của chúng [24;tr.2-3].
Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, lí luận phê bình văn học đã ghi
nhận sự đổi mới, mở rộng đáng kể của tự sự học. Khi tự sự học kinh điển bị công
kích bởi chủ nghĩa giải cấu trúc và chủ nghĩa lịch sử, tự sự học hậu kinh điển ra đời.
Nếu tự sự học kinh điển coi văn bản tác phẩm là một hệ thống tự thân khép kín,
không có liên hệ với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa thì tự sự học hậu kinh điển là
một hƣớng nghiên cứu mở, nó kết hợp với quan niệm phê bình phản ứng ngƣời đọc
và hƣớng nghiên cứu văn hoá đang thịnh hành, nghiên cứu tự sự trong quan hệ với
ngƣời đọc, với ngữ cảnh và với các lĩnh vực tự sự ngoài văn học. Tự sự học hiện
nay có những hƣớng đi mới mẻ.
Hƣớng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu đặc trƣng chung của tác phẩm tự sự,
bất kể sự khác nhau về phƣơng tiện và thể loại (văn học, truyện tranh, điện ảnh,
truyền hình, báo chí...).
9





ƣu về lí thuyết tự sự, vận dụng lí thuyết tự sự để lí giải những hiện tƣợng văn học
Việt Nam và nƣớc ngoài... Tìm hiểu các công trình, bài viết về tự sự học qua hai
cuộc hội thảo trên, chúng tôi nhận thấy có các hƣớng nghiên cứu tự sự học ở Việt
Nam nhƣ sau:
Hướng thứ nhất: Giới thiệu, dịch thuật lí thuyết tự sự của các học giả
nước ngoài.
Một trong những công trình có ý nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự
vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử do Trần Đình
Sử chủ biên. Trong đó những bài viết giới thiệu lí thuyết tự sự của các học giả nƣớc
ngoài đƣợc triển khai khá sôi nổi. Bài viết Dẫn luận về tự sự học của Susanna
Onega và J.A.Garcia Landa, Lê Lƣu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch và tóm lƣợc
bài viết tổng quan về tự sự học, mở đầu cuốn sách Giới thiệu về tự sự học. Các tác
giả đã đƣa ra một định nghĩa tự sự học, định nghĩa tác phẩm trần thuật, chỉ ra hƣớng
phân tích cấu trúc trần thuật, giới thiệu một cái nhìn tổng quát về lịch sử tự sự học
từ cổ điển - hậu cổ điển đến hiện đại.
Bài viết Giới thiệu lí thuyết tự sự của Mieke Bal của tác giả Nguyễn Thị Ngọc
Minh đã giới thiệu về cuốn Tự sự học - giới thiệu về lí thuyết tự sự của Mieke Bal,
xuất bản lần đầu tiên ở Anh năm 1985, tái bản lần 2 vào năm 1997. Cuốn sách trên
đã trình bày một cách mạch lạc và hệ thống lí thuyết tự sự và cung cấp cho ngƣời
đọc những công cụ để mô tả và phân tích văn bản tự sự. Trên nền tảng lí thuyết, tác
phẩm nghệ thuật thị giác, từ đó bà phát hiện ra những ý nghĩa văn hóa tiềm ẩn trong
những hiện tƣợng này. Cũng trong cuốn sách, tác giả đã đƣa ra thuật ngữ tiêu cự
trần thuật (focalization). Thuật ngữ đƣợc rút ra từ nghệ thuật nhiếp ảnh và phim, vì
thế nó nhấn mạnh bản chất kĩ thuật của tác phẩm tự sự.
Bài viết Cấu trúc tự sự theo quan điểm của Roland Barthes của tác giả Lê Trà
Mi giới thiệu cuốn Nhập môn phân tích cấu trúc truyện kể. Đây là một trong những
cuốn sách góp phần hình thành chuyên ngành tự sự học trong lí luận phê bình văn
học phƣơng Tây hiện đại. Tƣ tƣởng bao trùm toàn bộ công trình là coi văn bản tự sự

Giới thiệu về Lí thuyết về người nghe chuyện trong tác phẩm tự sự của Gerald
Prince, Nguyễn Thị Hải Phƣơng chỉ ra rằng Gerald Prince đã phân biệt một cách
thuyết phục khái niệm ngƣời nghe chuyện với khái niệm gần gũi với nó nhƣ ngƣời
12


đọc thực tế, ngƣời đọc trong quan niệm, ngƣời đọc lí tƣởng… Tác giả phân loại
ngƣời nghe chuyện, dấu hiệu nhận biết, chức năng của ngƣời nghe chuyện… Đóng
góp của Gerald Prince là đã đƣa ra một khái niệm mới: người nghe chuyện độ O.
Tác giả đã chỉ ra một số khả năng của ngƣời nghe chuyện dạng này: biết ngữ pháp
tự sự, biết những qui tắc mà ngƣời kể chuyện dùng để kể lại câu chuyện một cách
hấp dẫn, có khả năng tranh luận nhất định, có trí nhớ vững chắc…
Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần
thuật đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những
khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề
mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và
ngƣời nghe chuyện.
Tác giả Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye.
Ngƣời viết giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan trọng có ảnh hƣởng sâu sắc
nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại (Myth Criticism) còn gọi là lí thuyết Phê
bình nguyên mẫu (archetypal criticism) với quan niệm cho mục tiêu của văn chƣơng
là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống.
Tác giả Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Người
xây nền cho trường phái kí hiệu học Pháp với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ
sở của nghĩa, mô hình cấu tạo.
Nhìn chung, ở hƣớng nghiên cứu này, giới phê bình Việt Nam bắt đầu tiếp cận
lí thuyết tự sự hiện đại trên thế giới qua việc dịch, cắt nghĩa các quan điểm của các
nhà lí luận. Mỗi học thuyết, trƣờng phái có một phát kiến riêng nhƣng cũng có
những giới hạn nhất định mà khi tiếp nhận cần kết hợp với các kiến thức khác và
kinh nghiệm để tự thiết lập nên một phƣơng pháp phù hợp nhất với đối tƣợng và

cốt truyện tự sự”.
Bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phƣơng Lựu, từ việc tƣờng
thuật và nhận xét sơ bộ sáu quan niệm về góc nhìn trần thuật của Brooks và Warren
(Hoa Kì), Greimas (Pháp), Pouillon, Friedman, Uspenski, Genette, tác giả đã tổng
hợp lại thành một hệ thống tiêu điểm tự sự nhƣ sau: Phi tiêu điểm, nội tiêu điểm,
ngoại tiêu điểm.

14


Nghiên cứu khái niệm ngƣời kể chuyện, tác giả Nguyễn Thị Hải Phƣơng trong
bài Người kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự đã luận
giải: khái niệm ngƣời kể chuyện đƣợc hiểu là một công cụ do nhà văn hƣ cấu nên để
kể chuyện, ngƣời kể chuyện là một nhân vật đặc biệt trong tác phẩm tự sự, ngƣời kể
chuyện thống nhất nhƣng không đồng nhất với tác giả. Về chức năng của ngƣời kể
chuyện, ngƣời kể chuyện với chức năng tổ chức kết cấu tác phẩm, ngƣời kể chuyện
với chức năng môi giới, dẫn dắt ngƣời đọc tiếp cận thế giới nghệ thuật, ngƣời kể
chuyện thay mặt nhà văn trình bày.
Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự
học nhƣ: ngƣời kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Điều đó chứng
tỏ các phƣơng diện của lí thuyết tự sự luôn là vấn đề đƣợc các nhà nghiên cứu quan
tâm. Đó chính là bộ công cụ quan trọng và cần thiết cho chúng tôi trong việc tiếp
cận tác phẩm văn học nói chung, đặc biệt là tác phẩm của Murakami.
Hướng thứ ba: Tiếp cận các tác phẩm cụ thể từ góc độ tự sự học hiện đại
Có rất nhiều bài viết đã ra đời sau khi các truyện ngắn, tiểu thuyết ra đời
nhằm giới thiệu, bình phẩm, đánh giá, thảo luận về tác phẩm. Các bài viết này,
nhìn một cách tổng quan một mặt đã cập nhật tình hình sáng tác tác phẩm tự sự,
mặt khác góp phần luận giải về nghệ thuật tự sự của các tác phẩm về những
phƣơng diện: điểm nhìn, ngƣời kể chuyện, giọng điệu, mô hình tự sự…
Nhiều tác giả đã vận dụng lí thuyết tự sự hiện đại để nghiên cứu các tác

của Trần Đăng Suyền; Một phong cách tự sự của Nguyễn Tuân của Nguyễn Thị
Thanh Minh; Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thành công đáng chú ý của văn
xuôi sau 1975 của Nguyễn Thị Bình; Trần thuật trong truyện rất ngắn của Trần
Mạnh Tiến; Cấu tứ tự sự trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp của Nguyễn Văn
Tùng. Các bài viết trên đã tiếp cận một tác giả, tác phẩm văn học cụ thể từ lí thuyết
tự sự để thấy sự sáng tạo trong cách kể chuyện của nhà văn.
Giới phê bình Việt Nam cũng rất hào hứng với việc vận dụng lí thuyết tự sự
tiếp cận các tác phẩm văn học nƣớc ngoài. Tiêu biểu nhƣ bài viết Những so sánh
trong nghệ thuật tự sự của Boris Paxternak qua tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” của

16


Hà Thị Hòa; Hình tượng người trần thuật trong tác phẩm “Người tình” của
Marguerrite Duras của Trần Huyền Sâm; Miêu tả của Alain Robbe - Grillet trong
tiểu thuyết “Ghen” của Nguyễn Thị Từ Huy; Một số hình thức tự sự trong “Đi tìm
thời gian đã mất” của Marcel Proust của Đào Duy Hiệp; Vài khía cạnh về kĩ thuật
kể chuyện trong tiểu thuyết Tây Âu đầu thế kỉ XX của Đặng Thị Hạnh…
Sau hai cuộc hội thảo về Tự sự học tại khoa Ngữ Văn trƣờng Đại học Sƣ phạm
Hà Nội các luận văn, luận án theo hƣớng tự sự học ngày một nở rộ, song những
công trình khoa học dày dặn vẫn còn hiếm hoi. Điều đó chứng tỏ tự sự học Việt
Nam vẫn còn rất non trẻ và là một mảnh đất giàu tiềm năng cho chúng ta khai phá.
Có thể kể ra một số luận án tiến sĩ tiên phong trong nghiên cứu và vận dụng tự sự
học nhƣ: Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm của Yasunary Kawabata của Đào
Thị Thu Hằng; Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Bảo Ninh của Vũ Thị Hạnh;
Nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của A. S. Pushkin của Thành Đức Hồng Hà; Những
cách tân nghệ thuật trong truyện của A. P. Sêkhôp của Nguyễn Thị Minh Loan; Tu
từ học tiểu thuyết và một số bình diện của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Cao
Thị Kim Lan…
Những hƣớng nghiên cứu tự sự đó là cơ sở khoa học để chúng tôi tiếp cận một

thông suốt”, “ngƣời kể chuyện đáng tin cậy” - biết rõ câu chuyện, cũng có thể là
“ngƣời kể chuyện không đáng tin cậy”- chỉ nắm bắt một phần của câu chuyện kể.
Ngƣời kể chuyện giữ vai trò trung tâm trong tất cả các yếu tố cấu trúc của
văn bản nghệ thuật tự sự. Mieke Bal khẳng định: “Ngƣời kể chuyện là khái niệm
trung tâm nhất trong việc phân tích văn bản tự sự. Sự nhận diện ngƣời kể
chuyện, cấp độ đối với nó và cách thức mà trong đó sự nhận diện ấy đƣợc chỉ ra
trong văn bản, và những sự chọn lựa, mà đƣợc ngầm ẩn, mang lại cho văn bản
tính cách đặc biệt của nó” [124;16].
Những yếu tố cơ bản tạo nên hình tƣợng ngƣời kể chuyện trong tác phẩm tự
sự, đó là: ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu.
Ngôi kể là yếu tố liên quan trực tiếp đến hình tƣợng ngƣời kể chuyện. Ngƣời
kể chuyện nào cũng phải xác định cho mình ít nhất là một ngôi kể trƣớc khi bắt đầu
câu chuyện. Hình thức tự sự phổ biến nhất của ngƣời kể chuyện là kể chuyện ở ngôi
thứ nhất và ngôi thứ ba.
18


Điểm nhìn (point of view) là phƣơng thức biểu hiện trong sáng tạo và
thƣởng thức nghệ thuật. Lý luận văn học phƣơng Tây thế kỷ XX xuất hiện nhiều
thuật ngữ liên quan đến điểm nhìn nhƣ: điểm nhìn - point of view (Percy
Lubbock - 1928); vị trí quan sát - post of observation (Allen Tate - 1940); tiêu
điểm trần thuật - focus of narrative (C. Brooks & R. P. Warrren - 1948); tầm
nhìn - vision (Jean Pounllion- 1946); Tiêu cự - focalisation (G. Gennette - 1980);
thể - aspect (T. Todorov - 1966)…
Từ những quan điểm về điểm nhìn, tác giả Đặng Anh Đào đã xác lập một
công thức đúc kết mối liên hệ giữa điểm nhìn (hoặc tiêu điểm) và ngƣời kể
chuyện nhƣ sau:
a. Không tiêu điểm
+ Nhìn từ đằng sau (từ của Pouillon)
+ Ngƣời kể chuyện > nhân vật (Todorov)

là kiểu cách giọng dùng để kể, là lập trƣờng quan điểm và nổi bật nhất là “thái độ”
đối với hiện tƣợng đƣợc miêu tả.
Ở chƣơng 1, nghiên cứu vấn đề ngƣời kể chuyện trong tiểu thuyết
Murakami, chúng tôi tập trung vào hình thức tự sự đa chủ thể - hình tƣợng ngƣời
kể chuyện ngôi thứ nhất. Trong chƣơng này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ chủ thể
tự sự với nội hàm tƣơng đƣơng các thuật ngữ ngƣời trần thuật, ngƣời kể chuyện,
chủ thể trần thuật… để chỉ ngƣời đảm nhận trực tiếp vai trò kể chuyện trong tác
phẩm văn học.
1.1.3.3. Nhân vật
Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật là kênh thông tin trực tiếp và quan
trọng nhất để giải mã thế giới nghệ thuật của nhà văn. Nhân vật, hay gọi đầy đủ
hơn, nhân vật văn học, đã trở thành khái niệm quen thuộc, thiết yếu đƣợc đƣa vào
trong hầu hết các công trình mang tính công cụ nhƣ từ điển, thuật ngữ văn học...
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, M. H. Abrams định nghĩa nhân vật “là
những ngƣời xuất hiện trong kịch hoặc trong tác phẩm tự sự, ngƣời đƣợc giải thích
bởi độc giả nhƣ là ngƣời cung cấp những phẩm chất đạo đức, tính cách, xúc cảm
đƣợc biểu hiện bằng lời nói – tức đối thoại – và bằng việc làm – tức hành động.
Những nguyên cớ trong bản chất tính cách, dục vọng và đạo đức của nhân vật đối
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status