ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
TIẾP XÚC VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC
QUA NAM PHONG TẠP CHÍ (1917- 1934)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội-2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
TIẾP XÚC VĂN HOÁ ĐÔNG - TÂY TRÊN LĨNH VỰC GIÁO DỤC
QUA NAM PHONG TẠP CHÍ (1917 - 1934)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Quang Hưng
Hà Nội-2013
Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu......................................... 5
5.
Đóng góp của luận văn .......................................................................... 5
6.
Bố cục nghiên cứu .................................................................................. 6
Chƣơng 1: NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ NHÓM NAM PHONG ................ 7
1.1 Vài nét về tờ Nam Phong tạp chí ............................................................. 7
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời ................................................................................... 7
1.1. 2. Mục đích ra đời của Nam Phong tạp chí .......................................... 14
1.1.3. Diện mạo của tờ Nam Phong tạp chí.................................................. 18
1.2 Về nhóm trí thức Nam Phong ................................................................ 20
1.2.1 Phạm Quỳnh, ngƣời chủ bút của tờ Nam Phong .............................. 20
1.2.2. Các biên tập biên chính của tờ Nam Phong...................................... 24
Chƣơng 2: TIẾNG NÓI CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ
GIÁO DỤC QUA NAM PHONG TẠP CHÍ ................................................ 29
1
2.1. Chính sách giáo dục của thực dân Pháp và phản ứng của trí thức
Nam Phong ..................................................................................................... 29
2.1.1. Chính sách giáo dục của thực dân Pháp ........................................... 29
2.1.2. Phản ứng của nhóm Nam Phong với chính sách giáo dục thực dân
......................................................................................................................... 34
2.2 Thái độ của nhóm Nam Phong với thực trạng giáo dục nƣớc nhà .... 42
2.2.1. Nhóm Nam Phong với cuộc tranh luận về vấn đề Quốc học ........... 43
phản ánh phần nào nhu cầu ấy.
Tác giả tập trung đi vào ba vấn đề chính:
- Thái độ của nhóm trí thức Nam Phong, nhóm trí thức mang tư tưởng điều
hoà Đông - Tây, với các chính sách giáo dục thực dân và thực trạng giáo dục
nước nhà.
3
- Tư tưởng giáo dục của nhóm trí thức Nam Phong: không phủ nhận hoàn
toàn nền giáo dục Nho học, hướng tới sự kết hợp các giá trị văn hóa Đông Tây, những mô hình chủ yếu được họ quan tâm…
- Một số giải pháp, đề xuất của nhóm trí thức Nam Phong về phương pháp
dạy và học, về mô hình chung cho giáo dục Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nam Phong tạp chí là tờ báo cận đại được rất nhiều người quan tâm
nghiên cứu. Khi tiếp cận Nam Phong, có hai hướng được quan tâm nhất và đã
có những công trình ghi dấu sự thành công trên hướng tiếp cận này:
- Về hướng tiếp cận tổng thể phải kể đến công trình nghiên cứu của
Nguyễn Khắc Xuyên “Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong” (NXB Thuận
Hóa, 2002), Phạm Thị Ngoạn với luận văn “Tìm hiểu Nam Phong tạp chí”…
- Hướng tiếp cận ngôn ngữ và văn học: “Tìm hiểu văn trên Nam Phong
tạp chí” – Luận án tiến sỹ của Nguyễn Đức Thuận, Phạm Thị Thu với đề tài
nghiên cứu cấp trường Đại học Khoa học xã hội nhân văn “Đông Dương tạp
chí” & “Nam Phong tạp chí” với sự phát triển chữ Quốc ngữ và giáo dục bằng
chữ Quốc ngữ hồi đầu thế kỷ XX”… cùng một số khóa luận, luận văn văn
học và báo chí.
Nhiều bài báo trên các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu văn
học… và một số trang web cũng khai thác nhiều khía cạnh khác của Nam
Phong cũng như người chủ bút tên tuổi - Phạm Quỳnh.
manh mún. Bộ mặt của giáo dục Việt Nam hiện lên qua những suy tư ấy và
tầm nhìn của trí thức cũng qua đó mà càng rõ nét.
Từ những phân tích trên, luận văn sẽ đi tìm vai trò của tiếng nói tranh
biện tri thức về vấn đề giáo dục, những giá trị cần tiếp thu trong công cuộc cải
cách giáo dục hiện nay. Luận văn hi vọng sẽ góp một phần trong việc nghiên
cứu lịch sử báo chí và lịch sử Việt Nam cận đại.
6. Bố cục nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu trong ba chương
chính với nhiều tiểu mục nhỏ:
Chƣơng 1: Nam Phong tạp chí và nhóm Nam Phong. Trong chương này,
tác giả tập trung nêu rõ hoàn cảnh ra đời, mục đích, diện mạo của tờ Nam
Phong tạp chí, những nhân vật chính của nhóm Nam Phong, quá trình tồn tại
của tạp chí Nam Phong.
Chƣơng 2: Tiếng nói của trí thức Việt Nam về vấn đề giáo dục qua Nam
Phong tạp chí. Đây là chương tập trung khai thác những nội dung nghiên cứu
chính. Tác giả tập trung làm rõ những phản ứng của nhóm Nam Phong trước
chính sách giáo dục thực dân, thái độ của nhóm Nam Phong với nền giáo dục
Việt Nam đương thời.
Chƣơng 3: Tƣ tƣởng điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông - Tây trên
lĩnh vực giáo dục qua Nam Phong tạp chí. Chương này nêu rõ các tư tưởng
điều hoà, kết hợp giá trị văn hoá Đông – Tây trên lĩnh vực giáo dục của nhóm
Nam Phong qua việc đề xuất việc nâng cao vai trò của chữ quốc ngữ, đề xuất
mô hình giáo dục mới.
6
Chƣơng 1: NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ NHÓM NAM PHONG
1.1 Vài nét về tờ Nam Phong tạp chí
1.1.1. Hoàn cảnh ra đời
đảo Réunion, gần Châu Phi và xử tử hình nhiều người trong đó có Thái Phiên
và Trần Cao Vân.
Vụ vua Duy Tân vừa yên, thì tại Thái Nguyên, Lương Ngọc Quyến và
Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa năm 1917. Lương Ngọc Quyến là con Lương Văn
Can (nguyên hiệu trưởng Đông Kinh Nghĩa Thục). Trịnh Văn Cấn là đội Khố
đỏ. Tối ngày 30-8-1917, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn đã cùng các
binh sĩ Khố đỏ ở Thái Nguyên nổi lên khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa nhanh
chóng thất bại. Lương Ngọc Quyến mất trên đường rút lui. Trịnh Văn Cấn tự
sát vài tháng sau đó.
8
Sau khi đánh dẹp những cuộc khởi nghĩa liên tục, Pháp bắt đầu ổn định
nền thống trị. Toàn quyền Albert Sarraut mở một loạt các trường cao đẳng,
như trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (15-9-1917), trường Cao đẳng Sư
phạm Đông Dương (15-10-1917), trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp (10-121917), và chuẩn bị mở cửa lại Đại học Hà Nội trong năm sau. Chính trong
khoảng thời gian tạm thời lắng dịu đó, Nam Phong tạp chí xuất bản số đầu
tiên ngày 1-7-1917.
Là một tạp chí khoa học, văn hoá chuyên ngành, xét đến sự ra đời của
Nam Phong tạp chí không thể bỏ qua nền tảng tư tưởng của xã hội Việt Nam.
Những nhà báo hoạt động trong Nam Phong sau này là những người thấm
nhuần tinh thần dân tộc và đề cao những giá trị văn hoá truyền thống.
Văn hoá Việt Nam dựa nền tảng trên đạo Thờ cúng ông bà và ba tôn
giáo chính là Phật giáo, Lão giáo và Nho giáo. Đạo Thờ cúng ông bà thể hiện
niềm tin của dân tộc Việt rằng đời sống con người kéo dài sau khi chết, nghĩa
là sau khi chết, thể xác con người bị tiêu hủy, nhưng linh hồn vẫn tồn tại
quanh người sống. Phật giáo là phần tâm linh của đời sống, dạy con người
đường lối giải thoát khỏi những khổ não của đời nười, chủ trương diệt dục, từ
bi hỷ xã và bất bạo động. Lão giáo hướng dân con người sống hòa đồng với
Tuy nhiên, đại đa số người Việt không chấp nhận điều đó. Mặt khác, người
Việt, với kinh nghiệm hòa đồng tôn giáo vốn có (Đạo Thờ cúng ông bà, Phật,
Lão, Nho), đã nhanh chóng hòa nhập văn hóa Việt - Pháp hay văn hóa Á Âu. Hòa nhập văn hóa (acculturation) có tính cách chọn lựa, khác với đồng
hóa (assimilation), có tính cách áp đặt. Trong hòa nhập văn hóa, người Việt
vẫn lưu giữ những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa Á Đông, đồng thời
10
tiếp thu những nét hay đẹp của văn hóa châu Âu, để làm phong phú văn hóa
dân tộc.
Nam Kỳ là thuộc địa, nền văn hóa Tây phương xâm nhập sớm hơn, nên
sự hòa nhập văn hóa cũng sớm hơn. Tại Trung và Bắc Kỳ, phong trào Duy
tân do Phan Châu Trinh đề xướng từ năm 1905, kêu gọi cải cách văn hóa,
được giới trí thức cấp tiến hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào Duy tân chú trọng
nhiều đến những vấn đề chính trị, nên khi những biến động chính trị năm
1908 xảy ra, Pháp nhân cơ hội đó, bắt giam và lưu đày hầu hết những nhà trí
thức cấp tiến trong phong trào Duy tân, kể cả Lương Văn Can và Nguyễn
Quyền của Đông Kinh Nghĩa Thục. Phong trào Duy tân là một quá trình vận
động văn hóa, chứ không phải là một tổ chức chính trị, một đảng phái hay
một hội kín. Vì vậy, tuy những người đề xướng bị bắt, nhưng cuộc cải cách
văn hóa vẫn âm thầm tiếp tục trong dân chúng.
Trong giai đoạn giao thời văn hóa này, Nam Phong Tạp Chí được xuất
bản bằng hai thứ chữ: chữ nho và chữ Quốc ngữ, tiếp tục cải cách nhẹ nhàng
con đường hòa nhập văn hóa Á Âu, như lời của Phạm Quỳnh trong Nam
Phong số 1, tháng 7-1917:
“Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay
vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế
cùng trình độ dân ta. Cái tính cách của sự học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy
là tổ thuật các học vấn tư tưởng Thái tây, nhất là của nước Đại Pháp mà
Nam Kỳ lần lượt xuất hiện những tờ báo kế tiếp là: Nhật Trình Nam Kỳ
(1883), Phan Yên Báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhật Báo Tỉnh
12
(1905), Lục Tỉnh Tân Văn (1907), Nam Kỳ Địa Phận (1908, Ki-tô giáo), Tân
Đợi Thời Báo (1916, cải danh thành Công Luận Báo), Nam Trung Nhật Báo
(1917), An Hà Báo (1917 ở Cần Thơ), Đại Việt Tạp Chí (1918 ở Long
Xuyên), Nữ Giới Chung (1918)… Những nhà báo nổi tiếng lúc đó ở Nam Kỳ
là Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương…
Sau báo chí Nam Kỳ, đến báo chí Bắc Kỳ. Tờ báo đầu tiên tại Hà Nội
là Đại Việt Tân Báo, vừa có chữ Nho vừa có chữ quốc ngữ, do Ernest Babut
thành lập năm 1905, và Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Tờ báo vừa chữ Nho
vừa quốc ngữ thứ hai là Đăng Cổ Tùng Báo do Đào Nguyên Phổ đảm nhiệm
phần chữ Nho, Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách phần quốc ngữ, ra đời năm 1907.
Tờ báo thuần túy quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ là Đông Dương Tạp Chí, ra mắt
ngày 15-5-1913, do F. H. Schneider làm giám đốc và Nguyễn Văn Vĩnh giữ
làm chủ bút. Cũng trong năm 1913, Schneider còn phát hành Trung Bắc Tân
Văn và cũng giao cho Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách. Khi Schneider bán hẳn
Trung Bắc Tân Văn cho Nguyễn Văn Vĩnh, ông cải tiến thành nhật báo, cho
đến năm 1940 mới đình bản.
Về tiểu thuyết, tác phẩm đầu tiên do người Việt sáng tác, được xuất bản
Việt Nam là Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản do
nhà xuất bản J. Linage ấn hành năm 1887 tại Sài Gòn, nghĩa là đúng 30 năm
trước khi tạp chí Nam Phong xuất hiện tại Hà Nội (1917). Sau Nguyễn Trọng
Quản, là các tác giả Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu, Nguyễn Liên Phong,
trong đó người có sức viết bền bỉ và đều đặn nhất là Hồ Biểu Chánh (18841958). Ngoài những tác phẩm về thơ, dịch thuật, tùy bút, phê bình, hồi ký,
tuồng hát, biên khảo, truyện ngắn, Hồ Biểu Chánh in thành sách tất cả 64 tiểu
thuyết. Những truyện của Hồ Biểu Chánh mang sắc thái Nam Bộ rất rõ nét dù
đôi khi tác giả phóng tác theo các cốt chuyện Tây phương, biểu lộ rõ ràng đặc
xuất sắc: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Hồ Biểu
Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Tản
Đà, Huỳnh Thúc Kháng, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Ngọc…
Sự ra đời của báo chí chỉ trong một thời gian ngắn đã thể hiện sức
mạnh của một công cụ truyền thông hoàn toàn thuộc về thế giới phương Tây.
Lúc này, chính phủ Pháp coi giáo dục là công cụ quan trọng nhất để chinh
phục thuộc địa. Họ mở các trường đào tạo công chức cho bộ máy cai trị, các
cơ sở kinh doanh… Tuy nhiên, số trường học và số người đi học ngày càng ít
hơn. Mặc dù thực dân Pháp rất nỗ lực nhưng kết quả đưa lại vẫn không như
mong đợi. Lúc này, người Pháp nhận ra rằng, công cụ giáo dục dường như đã
kém hiệu quả hơn trước rất nhiều.
Trước tình hình đó, chính phủ Pháp có sáng kiến lập ra một tạp chí
bằng tiếng bản xứ là cơ quan ngôn luận để dễ dàng tuyên truyền và thực thi
các chính sách văn hóa, giáo dục của họ.
Tháng 7-1917, Nam Phong tạp chí ra đời do Loius Marty đứng tên sáng
lập, Phạm Quỳnh làm chủ bút phần quốc ngữ và Nguyễn Bá Trác làm chủ bút
phần chữ Nho.
Tên Nam Phong vừa thể hiện quan niệm Khổng Mạnh vừa tinh thần
của những người sáng lập. Theo Phạm Thị Hoài trong luận văn “Tìm hiểu
Tạp chí Nam Phong”: “Đặt tên như vậy, tạp chí đã tỏ rõ ý muốn: độc giả Nam
Phong phải thuộc hàng trí thức chớ không thể là giới bình dân. Thời đó quan
niệm thường tình là dân chúng phải được các nhà trí thức dìu dắt và uy tín
này là do quá khứ để lại. Như vậy thực tế cũng không gây chướng ngại cho
mục đích của tạp chí, vì Nam Phong nhằm giao hoà dân chúng, tạo điều kiện
15
thuận tiện cho công cuộc mà theo tập quán, các nhà trí thức vừa là bảo đảm,
vừa là có trách nhiệm.” (tr.24)
hoạt động tích cực của những cây bút Nam Phong đã vượt ngoài những toan
tính hết sức kĩ càng của thực dân Pháp. Nam Phong tạp chí không chỉ góp
phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển của văn học mà còn góp
phần vào việc định hình, chuẩn hóa tiếng Việt, thông qua việc truyền bá chữ
quốc ngữ. Báo chí có thể đem lại cho đời sống hàng ngày của mọi người
những tri thức văn hóa của phương Đông lẫn phương Tây. Đó là trường
hợp Nam Phong tạp chí, một trong những tạp chí có tác động mạnh mẽ đến
tinh thần, ý thức xã hội của nước ta từ những năm đầu thế kỷ XX.
Nam Phong tự nhận mình là cơ quan giáo dục quốc dân. Và thực vậy
“Có nhiều người không biết đọc văn Tây, văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong hun
đúc mà cũng có được cái trí thức phổ thông, tạm đủ sinh hoạt ở đời. Có nhiều
ông đồ Nho chỉ coi Nam Phong mà cũng hiểu qua được tinh thần văn hóa
Đông Á” [24, tr.20]. Nhờ tạp chí Nam Phong mà nhiều nhà tư tưởng, nhà văn,
nhà thơ Pháp đã đến với trí thức, thanh niên, sinh viên Việt Nam trong nửa
đầu thế kỉ XX. Khi Tự Lực Văn Đoàn ra tờ báo Phong Hóa để phê phán
những hủ tục, tệ nạn xã hội, nết hư tật xấu của chế độ thuộc địa ở thành thị và
nông thôn qua những hình tượng Bang Bạnh, Lý Toét, Xã Xệ thì nhóm văn sĩ
này đã tìm thấy ở Nam Phong một nguồn cảm hứng, một mẫu mực báo chí
châm biếm trào phúng. Đó là tờ Le Canard Enchainé nổi tiếng của Pháp.
Nếu gạt bỏ những xung khắc về chính trị, thì không thể phủ nhận tầm
vóc của một tạp chí nghiên cứu khoa học mẫu mực. Nam Phong tạp chí xứng
đáng là bộ bách khoa toàn thư của người Việt lúc bấy giờ.
17
Xét ở một góc độ nào đó, Nam Phong tạp chí còn thúc đẩy niềm tự hào
về văn hóa dân tộc, đặc biệt là những giá trị văn hóa cổ truyền trong các trí
thức người Việt yêu nước. Đồng thời, nhiều tinh hoa tri thức thế giới được rót
vào Việt Nam, góp phần hình thành và bổ sung quan niệm về mỹ học, tư
yếu mục.
Nội dung bài vở nghiêm trang, phong phú, thiên về biên khảo, được
trình bày trên các mục cụ thể của báo. Phần nội dung gần như không thay đổi
qua các năm, bao gồm các đề mục:
1. Luận thuyết,
2. Văn học bình luận
3. Triết học bình luận
4. Khoa học bình luận
5. Văn uyển
6. Tạp trở
7. Thời đàm
8. Tiểu thuyết
Trong mỗi số còn có một bảng từ vựng nhằm giải nghĩa các danh từ
mới.
19
Phần bìa của Tạp chí lại có nhiều lần thay đổi:
- Kể từ số 27 (tháng 9 năm 1919), Phạm Quỳnh đứng tên một mình với vai trò
chủ bút.
- Kể từ số 33 (tháng 3 năm 1920), biểu tượng chú gà trống Gô-loa đã được
thay thế bằng một hình bầu dục, trong có dấu hiệu A.F.I.M.A (chữ viết tắt
bằng tiếng Pháp của hội Khai Trí Tiến Đức) ghi lối chữ triện.
- Kể từ số 39 (tháng 9 năm 1920), không còn những đề mục và phụ đề bằng
tiếng Pháp.
- Kể từ số 64 (tháng 10 năm 1924), trên tờ Nam Phong xuất hiện phụ trương
bằng Pháp văn.
- Kể từ số 92 (tháng 3 năm 1925), dấu hiệu bằng chữ triện của hội Khai Trí
Tiến Đức nhường chỗ cho tên tạp chí Nam Phong bằng chữ Hán.
Những thay đổi trên bìa báo đã cho thấy xu hướng Việt Nam hoá và
luận” từ trang 43 đến trang 50 ký tên Phạm Quỳnh; các mục nhỏ như “Tạp
trở”, “Thời đàm” đều của Phạm Quỳnh; mục “Tiểu thuyết” đăng bản dịch
trích đoạn cuốn sách “Cái vinh cái nhục của nhà quân” (Grandeur et servitude
militaires) của Alfred de Vigny từ trang 71 đến trang 75 cũng do Phạm
Quỳnh thực hiện.
Toàn số báo hơn 80 trang chỉ có vỏn vẹn bốn trang mục “Văn uyển”
đăng hai tản văn của Nguyễn Bá Trác và Tuyết Huy (Dương Bá Trạc). Khác
21
với Nguyễn Văn Vĩnh khi chống Nho giáo, Phạm Quỳnh là Tống Nho “đặc
sệt. Ông cực lực đã chống lại tư tưởng Trung Quốc từ sau Nha phiến chiến
tranh, ghét Phong trào Ngũ Tứ… Con đường hành động của Nam Phong kết
hợp tài tình chủ nghĩa cơ hội về chính trị (lặp lại và phổ biến các bài nói của
các “tư tưởng gia” của chế độ thực dân như A. Sarraut và A. Varenne kèm
theo những lời bình giải tán dương) và chủ nghĩa bảo thủ về văn hóa tiêu biểu
cho cách tiếp cận về văn hóa trong lĩnh vực này.
Phạm Quỳnh tự biện hộ cho mình bằng chủ nghĩa nhân đạo trữ tình của
một Sarraut hay chủ nghĩa tự do tùy thời của một Varenne chống lại đầu cơ
hẹp hòi và phản động của những người theo “điều ước thuộc địa” (pacte
colonial). Ông nhận thấy trong chủ nghĩa tự do chân chính hay giả định là
chân chính, của cả hai bên bấy nhiêu chỗ hở để bênh vực một sự hợp tác văn
hóa giữa các dân tộc nhằm đạt đến về lâu về dài một sự hợp tác chính trị thực
sự.
Phạm Quỳnh tiếp thu chủ nghĩa dân tộc và thái độ bảo thủ về văn hóa
của mình không phải ở các nhà tư tưởng phái tả (châu Âu hay Trung Quốc,
như Phan Châu Trinh đã làm trước ông) mà ở phái hữu của Pháp. Các tác giả
ông viện dẫn tên là Pierre Loti (Nam Phong số 84, 1924 có bài tiểu truyện
người chết, kí tên L.Barthou), P. Bourget (tác giả tiểu thuyết Kẻ môn đệ), P.