Bia đá thế kỷ XVII của một số chùa ở ngoại thành hà nội ( khảo sát 10 huyện phía tây và nam hà nội) luận văn ths lịch - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ XUÂN

BIA ĐÁ THẾ KỶ XVII CỦA MỘT SỐ CHÙA Ở
NGOẠI THÀNH HÀ NỘI (KHẢO SÁT 10
HUYỆN PHÍA TÂY VÀ PHÍA NAM HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2011


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------***-------------------

NGUYỄN THỊ XUÂN

BIA ĐÁ THẾ KỶ XVII CỦA MỘT SỐ CHÙA Ở
NGOẠI THÀNH HÀ NỘI (KHẢO SÁT 10
HUYỆN PHÍA TÂY VÀ PHÍA NAM HÀ NỘI)

CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ
: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHAN PHƯƠNG THẢO


5. Đóng góp của luận văn

9

6. Bố cục luận văn

10

Chương 1: Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của

12

10 huyện ngoại thành Hà Nội
1.1. Vài nét về bia đá Việt Nam

12

1.1.1. Khái niệm về bia đá

12

1.1.2. Bia đá Việt Nam qua các thời kỳ

13

1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bia đá thế kỷ XVII

17



22


1.2.2. Về một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và

26

phía Nam Hà Nội
1.2.3. Phân bố bia đá thế kỷ XVII trong các ngôi chùa Việt ở 10 huyện

30

phía Tây và phía Nam Hà Nội
1.2.3.1. Phân bố bia theo không gian

30

1.2.3.2. Phân bố theo thời gian

33

Tiểu kết chương 1

35

Chương 2: Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện

36



49

2.3.3. Kỹ thuật chạm khắc

52

2.3.4. Đặc điểm chạm khắc

54

2.3.4.1. Hình tượng linh thú

55

2.3.4.2. Biểu tượng tự nhiên

59

2.3.4.3. Biểu tượng “Phật giáo”

61

Tiểu kết chương 2

63

Chương 3: Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10

66


3.3.1. Vật liệu xây dựng chùa

79

3.3.2. Lịch sử xây dựng và trùng tu chùa

83

3.3.2.1. Một số khái niệm liên quan

83

3.3.2.2. Lịch sử xây dựng và trùng tu chùa

83

3.4. Tạo tượng và đúc chuông

87

3.4.1. Tạo tượng

87

3.4.2. Đúc chuông

89

3.5. Hoạt động của chợ Tam bảo


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

106

PHỤ LỤC
A. BẢNG THỐNG KÊ BIA ĐÁ

114

B. BẢN PHIÊN ÂM, DỊCH NGHĨA BIA ĐÁ

118

C. DANH MỤC BẢN ĐỒ, BẢN ẢNH
PHỤ LỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính thành phố Hà Nội

178

Bản đồ 2: Vị trí di tích thuộc 10 huyện ngoại thành Hà Nội

179

PHụ LụC BảN ảNH

180


I. Chùa Bối Khê (Tam Hưng- Thanh Oai- Hà Nội)

182

Ảnh 7: Bia “Khoán ước Pháp Vũ tự bi ký”- Thịnh Đức 4 (1656)

182

Ảnh 8: Trang trí diềm chân bia “Khoán ước Pháp Vũ tự bi ký” - Thịnh Đức

183

4 (1656)
IV. Chùa Hưng Giáo (Tam Hưng- Thanh Oai- Hà Nội)
Ảnh 9: Bia “Hưng Giáo xã Hưng Phúc tự cổ tích danh lam tu tạo thạch

183

bi”- Vĩnh Tộ 9 (1627)
V. Chùa Hương (Mỹ Đức- Hà Nội)
Ảnh 10 - 11: Trang trí trên trán bia “Thiên Trù tự bi ký”- Chính Hòa 7

184

(1686)
Ảnh 12: Trang trí hình trâu mẹ, trâu con trên đế bia “Thiên Trù tự bi ký”-

185

Chính Hòa 7 (1686)
Ảnh 13: Trang trí hình ba ba trên đế bia “Thiên Trù tự bi ký”- Chính Hòa



188

VIII. Chùa Mía (Sơn Tây- Hà Nội)
Ảnh 20: Bia “Sùng Nghiêm tự thị bi”- Vĩnh Tộ 6 (1624)

189

Ảnh 21- 22: Trang trí hình mặt trời, hoa sen trên trán bia “Sùng Nghiêm tự

189

thị bi”- Vĩnh Tộ 6 (1624)
Ảnh 23: Bia “Sùng Nghiêm tự bi ký”- Đức Long 6 (1634)

190

Ảnh 24-25.Trang trí hình mặt trời, ván lá đề trên trán bia “Sùng Nghiêm tự

190

bi ký”- Đức Long 6 (1634)
IX. Chùa Kim Bôi (Mỹ Đức- Hà Nội)
Ảnh 26. Bia “Trùng tu Đại Bi tự bi ký”- Phúc Thái 6 (1648)

191

X. Chùa Sổ (Thanh Oai- Hà Nội)
Ảnh 27. Bia “Hội Linh Quán bi ký” - Hoằng Định 4 (1604)


194

Cảnh Trị 4 (1666)


Bả n g c á c c h ữ v i ết t ắt

Bd.

Bản dịch

Cư ơng Mục

Khâm định Việt sử thông giá m cư ơng mục

DTH

Tạ p chíDân tộc học

Đ NNTC

Đ ạ i Nam nhất thống chí

Đ VSKTT

Đ ạ i Việt sử ký toàn thư

GS

Giá o sư


Phó giá o sư

tr.

Trang

Ts

Tiến sỹ

Tp HCM

Thành phố Hồ ChíMinh

VHDG

Tạ p chíVă n hoá Dân gian

VHTT

Vă n hoá Thông tin

VHNT

Tạ p chíNghiên cứu Vă n hoá Nghệthuật

1



thù của lịch sử dân tộc chiến tranh liên miên, đã khiến cho các công trình kiến
trúc cổ này bị hủy hoại. Bởi vậy, các công trình kiến trúc này thường xuyên
được tái tạo, tu bổ. Công việc trùng tu đó thường in đậm dấu ấn của thời đại.
Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nhận ra và bóc tách được đặc điểm
của thời đại qua các lớp kiến trúc với từng thời điểm tạo dựng, tu bổ khác
nhau. Bởi vậy, việc nghiên cứu kiến trúc chùa để góp phần vào công tác trùng
tu, tôn tạo giữ nguyên được bản sắc kiến trúc cổ là hết sức quan trọng và cấp
thiết, đòi hỏi phải có nguồn tư liệu chân xác. Với những gì còn sót lại và bằng
những kết quả nghiên cứu của khảo cổ học lịch sử, đặc biệt cùng với việc
nghiên cứu bia đá thế kỷ XVII chúng ta cũng phần nào phác hoạ được hình
dáng cũng như đặc trưng kiến trúc của những ngôi chùa cổ trong giai đoạn
này.
1.3. Như nhiều nhà nghiên cứu chùa Việt đã từng nhận xét, thế kỷ XVII
là thế kỷ bùng nổ của các ngôi chùa lớn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Trong
đó 13 huyện ngoại thành ở phía Tây và phía Nam Hà Nội (bao gồm: Thường
Tín, Phú Xuyên, Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba
Vì, Thanh Oai, Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ, Hà Đông) được sáp nhập từ
tỉnh Hà Tây cũ từ sau ngày 01.8.2008 đã có 469 ngôi chùa được xây dựng qua
các thời kỳ khác nhau, trong đó có 132 ngôi chùa được xếp hạng cấp Bộ, 47
ngôi chùa xếp hạng cấp tỉnh và 290 ngôi chùa chưa được xếp hạng1, điều
đáng quan tâm là có 07 ngôi chùa đã được xếp vào loại di tích Quốc gia đặc
biệt2. Tuy nhiên, ở khu vực này có 38 ngôi chùa3 có niên đại thế kỷ XVII,

1

Theo thống kê của Viện Bảo tồn Di tích.
Di tích Quốc gia đặc biệt gồm: chùa Hương- Mỹ Đức, chùa Đậu- Thường Tín, chùa Bối
Khê- Thanh Oai, chùa Thầy- Quốc Oai, chùa Mía, chùa Tây Phương- Sơn Tây (những
ngôi chùa này hiện nay hầu hết còn giữ đuợc kiến trúc thế kỷ XVII, chỉ riêng chùa Tây
Phương là kiến trúc thế kỷ XVIII).

Trung Hưng), trong đó khai thác một cách khá kỹ lưỡng về vấn đề sinh hoạt
làng xã. Tác giả nghiên cứu về việc xây dựng các công trình công cộng về tín
ngưỡng (đình, chùa, văn chỉ, từ đường); các công trình phục vụ đời sống kinh
tế của cộng đồng (quán chợ, tu sửa cầu, bến đò…); sự tranh giành ruộng đất;
những khó khăn thường xuyên của các làng xã về sưu thuế, công dịch; vị trí

4


của người phụ nữ trong hoạt động của làng xã; vấn đề về giáp và tổ chức làng
xã được phản ánh qua bia đá… Ngoài ra, tác giả đã nghiên cứu về quá trình
tạo tác văn bản và trang trí hoa văn trên văn bia Kinh Bắc thời Lê. Đó chính là
cơ sở để chúng tôi so sánh với những bia đá trong các ngôi chùa ở xứ Kinh
Bắc với những bia đá ở 10 huyện phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội.
Bên cạnh đó“Một số vấn đề về văn bia Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh
đi sâu phân tích các hình thức tồn tại và đặc điểm về văn bản, giá trị của văn
bia Việt Nam khi nghiên cứu tư tưởng chính trị, đời sống văn hoá xã hội, đặc
điểm thể loại văn học Việt Nam thời trung đại, văn bia chữ Nôm... Ngoài ra
tác giả đã chọn để giới thiệu 20 văn bia. Tuy nhiên, vấn đề chạm khắc trên bia
đá cũng như nội dung chung của văn bia tác giả chưa chú ý đề cập đến.
Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về mỹ thuật của các bia đá có thể
kể đến các cuốn“Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt” của
Trần Lâm Biền mang tính chất tổng hợp các loại hình trang trí từ thời Đông
Sơn cho đến thời Nguyễn trên tất cả các chất liệu, các loại hình bia đá, nhang
án, tượng, trên kiến trúc gỗ... Qua đó đưa ra những đặc điểm chung nhất về
mỹ thuật qua từng thời kỳ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu những hình tượng
chạm khắc trên bia đá. Hay Chu Quang Trứ trong cuốn“Mỹ thuật Lý Trần Mỹ thuật Phật giáo Việt Nam” đề cập đến “Bia và văn bia chùa Việt Nam” từ
thời Lý cho đến thời Nguyễn [64; 441 - 487]4. Tuy nhiên, những mô tả này
cũng chỉ mang tính chất sơ lược và chưa đầy đủ về nội dung của một vài bia
đá tiêu biểu trong các di tích như chùa Đọi (Hà Nam), chùa Tây Phương (Hà

chạm khắc, chưa đưa ra được các tiêu chí để phân biệt một cách chân xác đặc
điểm bia đá các thời kỳ, đặc biệt là thế kỷ XVII tác giả mới chỉ đề cập đến rất
sơ sài, cần được nghiên cứu sâu hơn nữa.
Luận án Tiến sĩ năm 2001 của Nguyễn Quốc Tuấn về“Di tích chùa Bối
Khê (Hà Tây)”, với phụ lục khá dày dặn, là bản dịch văn bia của chùa từ thế
kỷ XVII đến thế kỷ XIX, trong đó tác giả đã khai thác nội dung về thời điểm
tạo dựng và trùng tu chùa Bối Khê qua các thời kỳ khác nhau. Bên cạnh đó
luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Tiến năm 2001 về “Di tích chùa Thầy (Hà

6


Tây)” cũng đã có những bản dịch bia đá, trong đó đã dịch 02 văn bia thế kỷ
XVII và trong phần chính văn cũng đã đề cập đến những lần trùng tu chùa.
Bên cạnh đó, luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thu Hương (2000) về “chùa
Trăm Gian những giá trị văn hóa nghệ thuật”- trường Đại học Văn hóa đã đề
cập đến những lần trùng tu chùa qua văn bia, nhưng cũng rất sơ sài, phần phụ
lục chưa có các bản phiên âm, dịch nghĩa của những văn bia hiện còn trong
chùa.
Ngoài các công trình đã được xuất bản hoặc những luận án, luận văn còn
có một số bài viết về bia đá được đăng rải rác trên các tạp chí. Tạp chí Hán
Nôm có nhiều tác giả đã đề cập đến việc nghiên cứu bia đá. Tác giả Nguyễn
Huy Thức có bài “Bước đầu tìm hiểu văn bia ở một huyện thuộc đồng bằng
Bắc Bộ”; “Đôi nét về bia hậu” số 2 năm 1987 của Dương Thị Phe và Phạm
Thị Thoa; “Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam, tạp chí Hán Nôm, số 4, 1993
của Trịnh Khắc Mạnh; “Văn bia chợ Việt Nam - Giá trị tư liệu khi tìm hiểu
các vấn đề sinh hoạt xã hội thời phong kiến” số 5, năm 2006 hoặc “Một số
đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bia Lê Sơ” đăng trên số 4 năm
2008 của tác giả Phạm Thị Thuỳ Vinh... Những bài viết này chỉ đề cập đến
một vài khía cạnh mà nội dung bia đá phản ánh qua các thời kỳ trên địa bàn

thuật tạo tác và các hình thức trang trí bia đá thời kỳ này.
Tóm lại, có thể thấy rất hiếm những công trình nghiên cứu, những luận
án, luận văn đặt vấn đề kết hợp giữa nghiên cứu về chùa và nghiên cứu bia đá
trong giai đoạn thế kỷ XVII. Bởi vậy, giá trị của bia đá thế kỷ XVII chưa
được khai thác triệt để. Một trong những nội dung quan trọng của hệ thống
bia đá đó đề cập tới cách thức tạo dựng và trùng tu di tích chùa vẫn chưa được
khai thác. Việc khai thác nội dung này cần được quan tâm sâu hơn nữa, từ đó
góp phần bảo tồn và trùng tu những ngôi chùa cổ trong hiện tại và tương lai.
Đây cũng chính là mục đích mà luận văn hướng tới.

8


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Chúng tôi chọn 29 tấm bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa tiêu biểu
đáp ứng được hai tiêu chí, thứ nhất là những ngôi chùa vẫn giữ được kiến trúc
mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, thứ hai là trong những ngôi chùa
đó còn lưu giữ được những tấm bia đá được tạo tác trong giai đoạn thế kỷ
XVII làm đối tượng nghiên cứu và giới hạn trong phạm vi 10 huyện ngoại
thành ở phía Tây và phía Nam Hà Nội (trước đây thuộc tỉnh Hà Tây và đến
ngày 01.8.2008 được sáp nhập trở thành các huyện thuộc ngoại thành Hà
Nội).
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong khi hoàn thành luận văn này chúng tôi sử dụng một số phương
pháp chính như phương pháp điều tra điền dã, phương pháp văn bản học.
Trong đó phương pháp điều tra điền dã là phương pháp tiếp cận trực tiếp với
các nguồn sử liệu bia đá tại các địa phương, sử dụng các thao tác điều tra, sưu
tầm, chụp ảnh, dập thác bản... trên cơ sở đó sẽ tiến hành thống kê, phân loại,
mô tả, phân tích... rút ra những giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật của nguồn tư
liệu này. Bên cạnh đó phương pháp văn bản học được áp dụng chủ yếu đối

đoạn thế kỷ XVII.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của 10
huyện ngoại thành Hà Nội:
Trong chương này chúng tôi đề cập đến đặc điểm chung của một số
huyện ngoại thành Hà Nội, tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội Việt Nam thế
kỷ XVII, đặc biệt nhấn mạnh đến sự phát triển Phật giáo giai đoạn này tác
động đến bia đá trong các ngôi chùa Việt.

10


Ngoài ra, chương 1 còn đề cập đến bia đá ở Việt Nam qua các thời kỳ
lịch sử và nhấn mạnh bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa Việt (trường hợp
10 huyện ngoại thành Hà Nội thuộc tỉnh Hà Tây cũ).
Chương 2: Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện
ngoại thành Hà Nội):
Chương 2 đề cập đến những đặc trưng bên ngoài của bia đá thế kỷ XVII
về hình dáng bia, kỹ thuật chạm khắc, bố cục bia và các hình tượng chạm
khắc. Từ đó đưa ra các tiêu chí để xác định tương đối cho bia đá đã bị mất
niên đại tuyệt đối và có sự đối sánh với những chạm khắc trên kiến trúc gỗ
cùng thời.
Chương 3: Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (trường hợp 10
huyện ngoại thành Hà Nội)
Trong chương này, luận văn tập trung phân tích những nội dung chúng
được phản ánh trong bia đá thế kỷ XVII. Đó là những vấn đề liên quan đến
các ngôi chùa từ vị trí, quy mô, cảnh quan chùa, vật liệu xây dựng… đến
những lịch sử hình thành và lực lượng hưng công vào các ngôi chùa thời kỳ
này qua thư tịch văn bia… Từ đó thấy được, cách thức tạo dựng và trùng tu

phía trên gọi là trán bia, phía dưới là bệ bia. Bệ bia của loại bia bình thường
là khối đá vuông, còn đối với loại bia hoa mỹ thì được tạc thành hình rùa. Bài
văn khắc trên bia gọi là văn bia (minh văn). Ở trán bia khắc tiêu đề, mặt
dương khắc nội dung bài văn bia, mặt âm và mé bia khắc tên người. Có bài
văn dài, khắc ở mặt dương không hết thì khắc tiếp sang mặt âm và mé bia”
[23, tr. 76].
Lệ dựng bia và quy cách tạo bia như trên cũng ở một số nước trong khu
vực chịu ảnh hưởng văn hoá Hán như Triều Tiên, Nhật Bản... Ở Việt Nam có
thể nói rằng không một làng quê nào, một sự kiện quan trọng liên quan cộng

12


đồng trong làng xã thời phong kiến lại không được dựng bia ghi lại. Sự hiện
diện của mỗi bia đá, mỗi bài văn khắc trên đó như một trang“sử đá” trong
làng xã Việt Nam qua các triều đại. Bởi:“Xây dựng lâu ngày, cõi báu đã
xong, nếu không khắc bia ghi lại, thì con cháu mai sau không biết tìm đâu để
noi theo dấu vết, nên phải dùng văn trình bày rõ ràng công việc đã làm, để
cho dù nhân vật có đổi đời thì tiếng lành vẫn truyền mãi” [63, tr. 40]; hoặc
trong một số nội dung văn bia đã khẳng định: “Bia là khắc lên đá để ghi sự
việc mà ngợi ca sự hưng thịnh và lưu truyền công đức mãi mãi vậy” (bia chùa
Sổ, Đức Long 4 - 1632).
1.1.2. Bia đá Việt Nam qua các thời kỳ:
Bia đá Việt Nam có hai loại chính là bia đá khối rời và bia khắc trên
vách núi (bia ma nhai). Trong đó, bia khối rời chiếm tỷ lệ phổ biến, được đặt
trong di tích truyền thống của người Việt (như đình, chùa, đền, miếu, lăng
mộ, từ chỉ, từ đường…). Đó là những bia ghi lại các sự việc liên quan, tác
động đến di tích như bia ghi thần tích, bia ghi việc tạo dựng và trùng tu di
tích, bia hậu Thần, hậu Phật... Do đó, bia đá đã trở thành một bộ phận quan
trọng và tô điểm di tích thêm phần cổ kính trang nghiêm. Vì thế, mỗi bia đá

dáng hoa văn, chữ khắc).
Theo Lê Thị Liên trong bài “Mấy nhận xét về bi ký Lý - Trần” (Thông
báo Hán Nôm học năm 1996) mới thống kê được 13 bia đá thời Lý phân bố
rải rác trong các di tích (bao gồm cả những thác bản đã được trường Viễn
Đông Bác Cổ Pháp sưu tầm và lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm). Từ đó
đến nay vẫn còn tiếp tục được phát hiện.
- Bia thế kỷ XIII - XIV (thời Trần): Cũng trong bài “Mấy nhận xét về bi
ký Lý - Trần” của Lê Thị Liên đã thống kê được 32 bia đá và vẫn còn được
tiếp tục phát hiện. Hiện nay những thác bản này hầu hết được lưu giữ tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm.

14


Địa bàn phân bố của những tấm bia thời Trần trải dài hơn thời Lý, phía
Bắc tới huyện Vị Xuyên, Hà Giang (như bia chùa Sùng Khánh, khắc năm
1367), phía Nam tới Thanh Hoá (bia chùa Hưng Phúc khắc năm 1324; bia
Sùng Nghiêm, khắc năm 1372...).
- Bia thế kỷ XV (thời Lê Sơ): Theo thống kê trong cuốn“Văn khắc Hán
Nôm Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh hiện nay thời Lê Sơ còn hơn 70 bia đá,
tập trung chủ yếu ở khu Lam Kinh (Thanh Hoá), hoặc bia Tiến sĩ ở Văn miếu
Quốc Tử Giám Hà Nội, ngoài ra còn một số bia phân bố rải rác trong các di
tích.
- Bia thế kỷ XVI (thời Lê - Mạc): Bia thế kỷ XVI được biết đến đều xuất
hiện từ Thanh Hoá, Nghệ An trở ra. Trong đó, bia mang niên hiệu nhà Lê tập
trung chủ yếu ở Thanh Hoá - đất phát tích và trung hưng của nhà Lê, bia
mang niên hiệu nhà Mạc tập trung chủ yếu ở các vùng Kiến An, Hải Dương
và các vùng phụ cận Thăng Long5.
Theo Thư mục giản lược của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì thế kỷ XVI
hiện sưu tập được 207 chiếc, trong đó có 17 bia thần tích mang niên hiệu

trung như ở các thời kỳ trước: “Nếu trung tâm bia thời Lê Sơ ở Thanh Hoá,
chủ yếu gồm bia về lăng mộ nhà Lê, thì trung tâm bia Mạc chủ yếu ở Kiến An
(Hải Phòng), phổ biến là bia chùa Phật” [55, tr.18]. Việc sưu tầm và dập thác
bản của các cơ quan liên quan như Viện nghiên cứu Hán Nôm, các Sở Văn
hoá thông tin... cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê cụ thể. Theo “Văn
khắc Hán Nôm” của Trịnh Khắc Mạnh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm thời kỳ
này có khoảng vài ngàn văn khắc. Riêng vùng Kinh Bắc xưa đã được Phạm
Thị Thuỳ Vinh tổng kết trong cuốn “Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản
ánh chế độ sinh hoạt làng xã” đã thống kê được 1.063 bia, số bản dập chủ
yếu nằm trong kho thác bản văn bia hiện có ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán
Nôm [69, tr.53]. Việc nghiên cứu và sưu tầm bia đá thời kỳ này vẫn đang
được tiến hành.
- Bia cuối thế kỷ XVIII (thời Tây Sơn): Triều Tây Sơn vốn dĩ rất ngắn
ngủi, lại bị huỷ hoại bởi một số chính sách của nhà Nguyễn, do đó tư liệu bị

16


mất mát, thất lạc nhiều. Bia đá thời Tây Sơn cũng nằm chung trong tình trạng
trên.
Bia đá thời Tây Sơn hiện nay hầu hết đã được in dập và lưu giữ tại
Viện Nghiên cứu Hán Nôm và kho văn khắc của Sở Văn hoá và Thông tin Hà
Nội. Theo PGS.TS. Đinh Khắc Thuân đã bước đầu thống kê được 318 bản
dập văn bia, chúng được phân bố rải rác ở các địa phương từ Lạng Sơn đến
Cố đô Huế [53, tr.30]. Cụ thể ở Hải Dương có 66 bia; Hưng Yên (34 bia); Bắc
Ninh (62 bia); Bắc Giang (34 bia); Hà Đông (31 bia); Hà Nội (9 bia); Sơn Tây
(19 bia); Phúc Yên (21 bia); Phúc Thọ (3 bia); Vĩnh Yên (12 bia); Thái
Nguyên (5 bia); Nam Định (6 bia); Hà Nam (4 bia); Ninh Bình (3 bia); Thái
Bình (2 bia); Quảng Yên (2 bia); Lạng Sơn (1 bia); Thanh Hoá (3 bia); Nghệ
An (1 bia).

Những diễn biến phức tạp của chế độ gió mùa đã làm khí hậu biến động
rất thất thường trong nhiều mùa từ năm này sang năm khác. Mùa đông có gió
mùa Đông Bắc lạnh xen lẫn gió biển nhiệt đới ấm đã gây nên những dao động
mạnh trong chế độ nhiệt và cả chế độ mưa. Lượng mưa hàng năm khá lớn và
tăng dần từ đồng bằng lên vùng núi, trung bình từ 1500mm đến 2000mm là
cơ sở và khả năng hoà tan đá vôi rất mạnh. Trong mùa đông những ngày rét
xen kẽ những ngày nắng ấm, những ngày nồm ẩm làm xuất hiện hiện tượng
“đổ mồ hôi”, nhiều khi chuyển đột ngột sang khô hanh nứt nẻ. Mùa hạ những
nhiễu động như giông bão thường biến động lớn, nhất là chế độ mưa có thể từ
khô hạn chuyển sang ngập úng ảnh hưởng lớn đến những bia đá nằm ở ngoài
trời không có nhà che bia bảo vệ, nên nhiều bia đá bị bào mòn bởi thiên nhiên
thất thường.
- Địa hình: 10 huyện ngoại thành Hà Nội nằm ở rìa phía Tây của đồng
bằng Bắc Bộ, ở đầu bên phải của “võng sông Hồng”. Bản thân vịnh biển cổ
cũng là một vùng đồi núi, đã bị sụt võng xuống dưới nước biển, vì vậy trong
lòng đồng bằng của tỉnh vẫn tồn tại những đồi núi, xưa vốn là những đỉnh của

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status