Qúa trình di dân và định cư ở Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng) : Luận văn ThS. Lịch sử : 60 22 54 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

HỒ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH DI DÂN VÀ ĐỊNH CƯ Ở LÂM HÀ
(TỈNH LÂM ĐỒNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2012
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------

HỒ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH DI DÂN VÀ ĐỊNH CƯ Ở LÂM HÀ
(TỈNH LÂM ĐỒNG)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Đình Lê


2.1.2 Di dân đến Lâm Hà 2000-2010 ..............................................................75
3


2.2. Định cư ở Lâm Hà 1987-2010 ......................................................................83
2.2.1 Giai đoạn 1987-1999 ..............................................................................83
2.2.2 Giai đoạn 2000-2010 ..............................................................................89
Chương 3: Tác động của di dân đến kinh tế - xã hội
địa phương 1987-2010 ........................................................................................96
3.1. Tác động tích cực ..........................................................................................97
3.1.1 Lực lượng di dân góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển
kinh tế huyện Lâm Hà ......................................................................................97
3.1.2 Lực lượng di cư bổ sung nguồn lao động dồi dào cho Lâm Hà ...........104
3.1.3 Lực lượng di cư góp phần làm phong phú bức tranh
văn hóa tộc người tại Lâm Hà .......................................................................105
3.1.4 Lực lượng di cư góp phần ổn định chính trị tại Lâm Hà .....................107
3.2. Tác động tiêu cực ........................................................................................109
3.2.1 Lực lượng di cư làm tăng nguy cơ suy giảm
các nguồn tài nguyên tại Lâm Hà ..................................................................109
3.2.2 Lực lượng di cư làm tăng nguy cơ phát triển kinh tế không bền vững.115
3.2.3 Công tác triển khai đời sống sản xuất còn nhiều chỗ chưa hợp lý, làm
gia tăng tính phức tạp của tình hình an ninh trật tự huyện Lâm Hà. ............116
Kết luận .............................................................................................................119
Phụ lục ...............................................................................................................125
Tài liệu tham khảo ...........................................................................................131

4


DANH MỤC BẢNG, BIỂU



với giá cà phê 2000-2004 ........................................................................................... 79
Biểu 2.6 Tương quan di cư tự do đến Lâm Hà và Lâm Đồng giai đoạn 1991-1999 và 20002004............................................................................................................................ 80
Bảng 2.8 Diễn biến dân số huyện Lâm Hà 2005-2010 .............................................. 81
Biểu 2.7 Tương quan di cư tự do đến Lâm Hà và Lâm Đồng giai đoạn 1991-1999 và 20002008............................................................................................................................ 81
Bảng 2.9 Di cư tự do đến Lâm Hà 2005-2008 ........................................................... 82
Bảng 2.10 Diễn biến dân số các xã huyện Lâm Hà 1989-1999 ................................. 83
Bảng 2.11 Số đơn vị xã, thôn huyện Lâm Hà 1995-1999 .......................................... 85
Bảng 2.12 Diễn biến số lượng thôn huyện Lâm Hà 1997-1999 ................................ 85
Bảng 2.13 Tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản huyện Lâm Hà 1988-1999 ................ 86
Bảng 2.14 Tình hình đầu tư xây dựng cơ bản Lâm Hà 1988-1999 ........................... 87
Bảng 2.15 Một số kết quả dự án sắp xếp dân DCTD tại xã Tân Hà huyện Lâm Hà 1996-2000
.................................................................................................................................... 88
Bảng 2.16 Diễn biến dân số các xã huyện Lâm Hà 2000-2010 ................................. 89
Bảng 2.17 Số đơn vị xã, thôn huyện Lâm Hà 2000-2010 .......................................... 90
Bảng 2.18 Quy hoạch đất khu định cư dự án xã Tân Thanh 2008-2010 ................... 92
Bảng 2.19 Vốn đầu tư XDCB và năng lực mới tăng thuộc nguồn vốn đầu tư phát triển của
nhà nước do địa phương quản lý ở Lâm Hà 2000-2010 ............................................ 93
Bảng 2.20 Tỷ lệ hộ đói nghèo Lâm Hà 1998-2010.................................................... 93
Bảng 3.1 Tỷ trọng (%) các loại cây CNLN trong cơ cấu cây CNLN huyện Lâm Hà 19902010............................................................................................................................ 98
Biểu 3.1 Diện tích (ha) các loại cây CNLN chính
của huyện Lâm Hà 1990-2010 ................................................................................... 99
Bảng 3.2 Tỷ trọng các ngành kinh tế trong cơ cấu ngành kinh tế huyện Lâm Hà 1988-2010
.................................................................................................................................... 101
Bảng 3.3 Một số chỉ tiêu kinh tế huyện Lâm Hà 1990-2010 ..................................... 101
Bảng 3.4 Diễn biến lực lượng lao động Lâm Hà 1989-2010 ..................................... 104
Bảng 3.5 Cơ cấu thành phần tộc người huyện Lâm Hà ............................................. 105
Bảng 3.6 Tình hình sử dụng các loại đất Lâm Hà 1990-2010 ................................... 109
Biểu 3.2 Tình hình sử dụng các loại đất ở Lâm Hà 1990-2010 ................................. 111

UBND

Ủy ban nhân dân

BCH

Ban chấp hành

DCTD

Di cư tự do

8


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một trong những nước có quá trình hình thành và hoàn
thiện lãnh thổ lâu dài nhất trong lịch sử nhân loại. Khởi nguồn từ vùng trung du
và đồng bằng châu thổ sông Hồng, các dòng người Việt, được thúc đẩy bởi các
lý do khác nhau, đã dần tiến về phía Nam, khai phá và định cư trên các vùng đất
mới. Có thể nói rằng, quá trình hình thành lãnh thổ của nước ta gắn liền với sự
di chuyển của các luồng dân cư, chủ yếu theo hướng Bắc-Nam, để hình thành
nên những tụ điểm dân cư, đơn vị hành chính mới. Sự di chuyển cơ học này của
các luồng dân cư được gọi là hiện tượng di dân.
Di dân “là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là
qua một địa giới hành chính (hoặc sự di chuyển theo một khoảng cách xác định
nào đó) thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi
nơi cư trú.” (Liên hiệp quốc, 1958).
Có nhiều cách để phân loại hiện tượng di dân: như di dân trong nước –

công cuộc định cư ở vị trí tương xứng.
Người Việt (Kinh) có mặt tại Tây Nguyên vào khoảng cuối thế kỷ XVII
– đầu thế kỷ XVIII và từ đó trở đi, các dòng di dân người Việt (Kinh) đến khu
vực này ngày một đông hơn. Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, Nhà nước
Việt Nam đã có nhiều chính sách điều chỉnh tình trạng phân bố dân cư trên cả
nước, theo hướng dãn bớt dân số miền Bắc đưa vào Tây Nguyên và Nam bộ để
khai thác các vùng đất mới và thành lập các đơn vị hành chính. Từ năm 1976
đến 2002, khoảng 16.000 hộ 80.000 khẩu đã được triển khai lên Tây Nguyên.
Số lượng dân di cư tự phát đến đây tính đến năm 2000 vào khoảng 98.687 hộ
459.106 khẩu. Nếu so với dân số bình quân Tây Nguyên những năm 2000-2002

10


là 4,32 triệu người, rõ ràng tỉ lệ ngườinhập cư là rất lớn. Công tác di dân và định
cư ở Tây Nguyên do vậy đặt ra nhiều vấn đề cần phải được xem xét giải quyết.
Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (1976-1987) cũng nằm trong
chủ trương tái phân bố lực lượng lao động trên phạm vi cả nước. Từ sau khi hòa
bình thống nhất đất nước, Hà Nội tiếp tục phải đối mặt với tình trạng dân số
tăng nhanh vượt quá khả năng của các nguồn tài nguyên của Thủ đô, đặc biệt là
đất đai. Cùng với các địa phương khác ở miền Bắc lúc đó, Hà Nội cũng có nhu
cầu điều phối một bộ phận lực lượng lao động dư dôi của mình đến nơi khác
xây dựng vùng kinh tế mới. Lâm Đồng là tỉnh đã phối hợp cùng Hà Nội giải
quyết khó khăn trên của Thủ đô, đồng thời nhằm tạo điều kiện để Lâm Đồng
khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên của mình. Vùng kinh tế mới Hà Nội tại
Lâm Đồng đã ra đời trong bối cảnh đó.
Vùng đã phát triển mạnh mẽ mặc dù phải trải qua rất nhiều khó khăn để
trở thành hạt nhân cho sự thành lập huyện Lâm Hà vào năm 1987. Đây là một
điển hình của quá trình định cư các cộng đồng người Việt trên cao nguyên dẫn
đến sự hình thành một đơn vị hành chính lớn cấp huyện.Sau khi ra đời, Lâm Hà

phân bố hợp lý nguồn lao động tại khu vực này đến năm 2000.
Tác giả Đặng Nguyên Anh trong công trình của mình: Đặng Nguyên
Anh (2006), Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở các
tỉnh miền núi, nxb Thế giới, Hà Nội, đã triển khai những nhận xét của mình về
các chính sách và hiệu quả thực thi của chúng đối với việc điều tiết các dòng di
dân đến Tây Nguyên qua trường hợp 3 tỉnh mẫu là Đắk Lắc, Gia Lai, Kon Tum.
Đây thực sự là một công trình chi tiết và bổ ích đối với vấn đề này.
Nghiên cứu cụ thể từng trường hợp, thì số lượng công trình có phần
khiêm tốn hơn và thường tập trung vào tỉnh Đăk Lăk, là địa bàn thu hút dân di
cư tự phát mạnh nhất Tây Nguyên. Đối với tỉnh Lâm Đồng nói chung và huyện
Lâm Hà, vẫn chưa có một công trình nào đề cập xứng tầm với địa bàn thu hút
12


dân di cư mạnh thứ hai ở Tây Nguyên này. Một số công trình tập trung phân
tích các đặc điểm của dân cư tỉnh Lâm Đồng (Bùi Trung Hưng (2002), Dân cư
trong sự tồn tại xã hội ở tỉnh Lâm Đồng và sự vận động của nó hiện nay, Luận
án Tiến sĩ Triết học) hoặc sự chuyển đổi cơ cấu các loại cây công nghiệp tỉnh
(Mai Hà Phương (2009), Nghiên cứu sự biến động và chuyển đổi diện tích các
cây công nghiệp lâu năm chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng, Luận án Tiến sĩ Địa lý).
Các công trình trên tuy có giá trị tham khảo về mặt phát triển kinh tế của Lâm
Đồng nhưng không đề cập nhiều đến vấn đề di dân và định cư tại đây.
Riêng về quá trình ra đời, phát triển của vùng kinh tế mới Hà Nội tại
Lâm Đồng, sự thành lập huyện Lâm Hà và thực trạng di dân tự phát đến huyện
này cũng như công tác định cư những người di dân, đến nay vẫn chưa có một
công trình khoa học nào đề cập đến. Đây là khoảng trống cần được làm sáng tỏ
không chỉ bởi nó là một mảnh ghép trong bức tranh lớn là hiện tượng di dân đến
Tây Nguyên từ sau năm 1975 mà còn là một sự kiện quan trọng trong công tác
nghiên cứu lịch sử của hai địa phương liên quan, Hà Nội và Lâm Đồng. Tôi hy
vọng đề tài của mình sẽ góp phần làm rõ những vấn đề trên.

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong luận văn này là
phương pháp lịch sử, kết hợp thống kê, so sánh, giải quyết các vấn đề trong mối
quan hệ biện chứng, tương tác lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng nhằm tìm ra
những đặc điểm riêng của vấn đề trong bối cảnh chung toàn khu vực.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp điều tra điền dã, phỏng
vấn, so sánh, đối chiếu lẫn nhau giữa các nguồn tài liệu… nhằm đưa ra những
đánh giá trung thực, khách quan.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương như sau:
14


Chương 1: Sự thành lập huyện Lâm Hà
1.1. Một vài nét về tình hình kinh tế-xã hội nước ta trước năm 1975
1.2. Quá trình xây dựng Vùng kinh tế mới Hà Nộitại Lâm Đồng (19761987)
1.3. Thành lập huyện Lâm Hà
1.4. Huyện Lâm Hà – điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư
Chương 2: Di dân và định cư ở Lâm Hà 1987-2010
2.1. Di dân đến Lâm Hà giai đoạn 1987 – 2010
2.2. Định cư ở Lâm Hà giai đoạn 1987-2010
Chương 3: Tác động của di dân đến kinh tế - xã hội địa phương
1987-2010
3.1. Tác động tích cực
3.2. Tác động tiêu cực

15


Chương 1

Đơn vị: nghìn người
1954

1955

1956

1957

1958

1959

1960

13.000

13.574

14.042

14.526

15.028

15.546

16.114

4,4%


Nếu so với hiện nay thì đây vẫn là một con số tương đối cao. Lấy năm 2006 làm ví dụ. Năm 2006 dân số Việt
Nam là 84,11 triệu người, tổng diện tích đất nông nghiệp là 9 triệu ha, tính ra bình quân mỗi lao động chỉ sở hữu
0,107ha, tức khoảng 80% so với năm 1960.
2
Do sự tàn phá của chiến tranh và sự phá hoại của các lực lượng Pháp, năm 1955 tình hình cơ sở vật chất phục
vụ sản xuất kinh tế hầu như không đáng kể. Năm 1955 toàn ngành nông nghiệp không có một máy kéo nào phục
vụ. Năm 1960, tỷ lệ cơ giới hóa khâu làm đất chỉ mới đạt 0,15% [56, 4]. Một mô tả tổng quát hơn có thể xem
đánh giá tình hình kinh tế - xã hội miền Bắc 5 năm sau khi hòa bình lập lại của Đảng. [23, 832-833]

17


Bảng 1.2.Một số chỉ tiêu lương thực (thóc) miền Bắc 1955-1960
Đơn vị

1955

1956

1957

1958

1959

1960

Diện tích


Năng suất

tạ/ha

16,2

18,12

18,02

20,47

22,83

18,44

22

24,5

22,6

25,4

27,8

21,8

Lương thực bình quân


và đồng thời thu hút nhân lực, giảm bớt áp lực dân số đang ở mức quá cao ở các
tỉnh đồng bằng. Theo một tính toán, nếu nâng mật độ dân số bình quân của miền
núi phía Bắc lên ngang bằng với mức bình quân chung của cả nước (100
người/km2), thì khu vực này có thể tiếp nhận nhiều triệu lao động lênsinh sống
và làm việc [2, 4-5]. Khu vực miền núi cũng có thể được hưởng lợi to lớn bởi
đất đai sẽ không bị bỏ hoang lãng phí và có thể tiếp thu những yếu tố tích cực
của văn hóa miền xuôi để cùng phát triển.
Như vậy, bước vào thập kỷ 1960 với kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, miền
Bắc Việt Nam cũng bước vào một cuộc vận động to lớn nhằm giải quyết những
vấn đề đặt ra sau đây:
-

Giải quyết bài toán lương thực đang đặt ra ngày một gay gắt;

-

Tiến hành tái phân bố lao động trên phạm vi toàn miền, theo hướng

giảm sức ép dân số tại các tỉnh đồng bằng, đưa người đi khai hoang những vùng
đất giàu tiềm năng nhưng thiếu lao động;
-

Phát triển kinh tế - xã hội miền núi, đảm bảo an ninh quốc phòng.

Những vấn đề đó của miền Bắc được nghiên cứu, giải quyết qua chương
trình nhân dân khai hoang bắt đầu từ đầu những năm 1960.
Tại miền Nam Việt Nam lúc này, chính quyền Sài Gòn cũng đứng trước
nhu cầu cần phải tái phân bối lại một bộ phận dân cư, đặc biệt là lực lượng gần
một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam và tiến hành những chương trình
quan trọng nhằm điều chỉnh lại hiện trạng dân cư trong miền, phục vụ các mục

1

Năm 1957, Bộ Quốc phòng đã cử 31.000 sĩ quan, hạ sĩ quan đi xây dựng nông trường quốc doanh ở vùng cao.
Một số tập đoàn sản xuất cũng đã được thành lập quy tụ những cán bộ từ miền Nam ra tập kết tham gia xây
dựng kinh tế. Đến cuối năm 1964 đã có hơn 73.000 cán bộ công nhân viên sản xuất trong các nông trường quốc
doanh khai hoang ở trung du và miền núi [19, 19-20]

20


trong toàn Đảng, toàn dân1, có sức thu hút mạnh mẽ lòng hăng say phục vụ cách
mạng của người công dân xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo chính trị tại Đại hội III nêu rõ Đảng và Chính phủ đặc biệt quan
tâm đến việc phát triển kinh tế miền núi: “Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc, sự nghiệp xây dựng kinh tế miền núi có một tầm quan trọng
rất lớn… Vấn đề xây dựng kinh tế miền núi là một bộ phận khăng khít của
chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới của cách mạng” [23, 584585].
Vấn đề cốt yếu nhất để phát triển kinh tế miền núi đó là phải khắc phục
cho bằng được tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng tại đây. Trong bối cảnh
các tỉnh đồng bằng đang trở nên chật vật với lượng dân số ngày một tăng, thiếu
đất, thiếu việc làm thì Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thực hiện
cuộc vận động to lớn nhằm điều chuyển một lượng lớn dân cư từ các tỉnh đồng
bằng lên khai hoang miền núi [23, 587]. Chương trình này được đề cập cụ thể
hơn trong nội dung của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) mà theo đó
“Cần chuyển một bộ phận lực lượng của Nhà nước và của nhân dân ở miền xuôi
lên một số vùng miền núi, xây dựng một số nông trường và lâm trường, một số
công trình thủy lợi, một số xí nghiệp công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, mở
một số trường chuyên nghiệp cần cho việc đào tạo cán bộ, phát triển và củng cố
các trục giao thông chính vềđường sắt, đường bộ và đường thủy nối thông giữa
các vùng, xây dựng các khu vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng

ngày 21-2-1963, Chính phủ ra nghị định 17-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức bộ máy của Tổng cục Khai hoang. Nghị định nêu rõ: “Tổng cục Khai
hoang là cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác
nhân dân khai hoang theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo
đảm góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ mở rộng diện tích
sản xuất nông nghiệp đièu chỉnh nhân lực giữa vùng đất hẹp người đông và
vùng đất rộng người thưa, nhằm phát triển kinh tế quốc dân, cải thiện đời sống
của nhân dân, đoàn kết các dân tộc, củng cố hậu phương” [53, 5-8].
Tại các địa phương đều thành lập một ty khai hoang/phòng khai hoang
trực thuộc ủy ban hành chính tỉnh nhằm “tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác
nhân dân khai hoang ở địa phương theo đường lối, chủ trương, kế hoạch của
22


Đảng và Nhà nước, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Tổng cục khai hoang về
chuyên môn” [53, 9-12]. Như vậy, với những quy định trên, một hệ thống ngành
dọc đã được tổ chức từ trung ương đến các tỉnh để đảm bảo công tác khai hoang
được triển khai đồng bộ1.
Khởi đầu cho công cuộc nhân dân miền xuôi tham gia phát triển kinh tế
miền núi là tỉnh Kiến An. Đầu năm 1961, tỉnh Kiến An cử một đoàn cán bộ lên
Lào Cai khảo sát thực địa chuẩn bị cho việc đưa dân lên tham gia khai hoang
phát triển sản xuất. Sau một thời gian chuẩn bị, đến tháng 8 cùng năm, đợt di
dân đầu tiên từ Kiến An (các huyện An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) gồm 204
người lên Lào Cai và được bố trí ở xen ghép tại các huyện Bảo Thắng, Mường
Khương, Bát Xát. Trên vùng đất mới, người dân Kiến An đã tiến hành lao động
sản xuất, lập nên một số hợp tác xã mà tên gọi của chúng biểu hiện cho sự đoàn
kết của nhân dân hai miền như An Trà (Kiến An + Bản Trà), An Quang (Kiến
An + Quang Kim), Bản Lợi (Thành Lợi + Vụ Bản, Nam Định), Đồng Thái (Kim
Thái + Vụ Bản, Nam Định)… Đây cũng là cơ sở để hai tỉnh Kiến An, Lào Cai
kết nghĩa vào tháng 11-1961 [6, 280-282].

27.000

864

Hưng Yên

16.738

738

Nam Định

6.330

808

Hải Dương

4.251

434

Hà Đông

3.464

668

Ninh Bình


vùng cao thì con số này lên đến 60 vạn, tương đương với dân số ba tỉnh Lào
Cai, Yên Bái và Bắc Kạn lúc đó. Lực lượng di dân đã lập nên 1.250 hợp tác xã
nông nghiệp độc lập ở vùng núi, một bộ phận khác được định cư xen kẽ vào
trong 1.732 hợp tác xã tại địa phương nơi đến [43, 70].
Trong khi cuộc vận động đang thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo
người dân thì năm 1964, đế quốc Mỹdựng lên sự kiện Vịnh Bắc bộ, leo thang
chiến tranh ném bom miền Bắc. Kể từ cuối năm 1964, miền Bắc đã không còn ở
trong trạng thái hòa bình nữa, mọi mặt hoạt động đều được điều chỉnh nhằm đối
phó với cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ. Chương trình
nhân dân tham gia phát triển kinh tế miền núi, do vậy mà bị đình lại suốt một
thời gian dài do Đảng và Chính phủ cần tập trung chỉ đạo đất nước trong thời
chiến và nhu cầu tăng cường lực lượng cho quân đội trong giai đoạn ác liệt nhất
của cuộc chiến tranh (1965 – 1968) [25, 102-118].
1.1.2.2. Từ 1965 đến 1975
Những nỗ lực to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc trong suốt bốn
năm 1964-1968 đã từng bước đánh bại âm mưu leo thang của đế quốc Mỹ nhằm
mở rộng chiến tranh ra cả nước, buộc Mỹ phải xuống thang và tuyên bố chấm
dứt ném bom miền Bắc vào tháng 3-1968, đánh dấu sự thất bại của cuộc chiến
tranh phá hoại lần thứ nhất. Miền Bắc lúc này lại chuyển sang thời bình nhưng
vẫn luôn đề phòng những diễn biến phức tạp của cuộc chiến tranh. Hai năm đầu
thập kỷ 1970 là khoảng thời gian hòa bình ngắn ngủi để miền Bắc khắc phục

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status