CHƯƠNG 3
CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp là một lĩnh vực rất quan trọng, là vấn
đề sống còn của một quốc gia. Vì vậy muốn sản xuất kinh doanh ổn định và không ngừng
phát triển, tất yếu các doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh của mình. Chiến lược
kinh doanh nhằn đạt được các mục tiêu cốt lõi của doanh nghiệp dựa trên lợi thế về các
điều kiện thị trường, các nguồn lực và sức mạnh của doanh nghiệp, phù hợp với các ý đồ
kinh doanh của doanh nghiệp.
Chiến lược kinh doanh nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản của kinh tế đó là: sản
xuất cái gì ? sản xuất bao nhiêu ? sản xuất ở đâu ? sản xuất như thế nào ?
I. CHUYÊN MÔN HÓA SẢN XUẤT
1. Khái niệm, ý nghĩa
Thực tiễn chứng minh rằng, khi sức sản xuất của xã hội ngày càng phát triển, nhu
cầu của xã hội ngày một tăng thì sự phân công lao động trong xã hội càng tỷ mỉ. Chuyên
môn hóa để sản xuất ra sản phẩm ngày càng nhiều, càng tốt càng rẻ cho xã hội. Từ đó
trong sản xuất thủy sản việc hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hóa, các xí nghiệp
chuyên môn hóa, và chuyên môn hóa nội bộ doanh nghiệp là một tất yếu khách quan của
sự phát triển sản xuất và nhu cầu của xã hội.
Khái niệm: Chuyên môn hóa sản xuất thủy sản là hình thức tổ chức sản xuất mang
tính chất xã hội, dựa trên cơ sở phân công lao động trong ngành nuôi trồng thủy sản để sản
xuất ra một hoặc một số sản phẩm thủy sản nhất định phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh
tế–xã hội của mỗi vùng.
Nói cách khác chuyên môn hóa sản xuất thủy sản là sự tập trung điều kiện sản xuất
của mỗi vùng để sản xuất ra một hoặc một vài loại sản phẩm thủy sản hàng hóa chủ yếu.
- Chuyên môn hóa: Chỉ ra những sản phẩm nào được sản xuất, còn tập trung hóa
chỉ ra khối lượng và đại lượng của chúng.
Chuyên môn hóa nuôi trồng thủy sản có những hình thức cụ thể sau:
+ Chuyên môn hóa theo ngành: Là hình thức biểu hiện phân công lao động giữa các
ngành, biểu hiện quá trình phân hóa các ngành sản xuất chung tách ra thành các ngành sản
xuất cụ thể như nuôi hải sản và nuôi nước ngọt.
đòi hỏi chuyên môn hóa phải đi đôi với việc phát triển tổng hợp các ngành sản xuất để:
- Sử dụng đầy đủ và hợp lý hơn yếu tố đất đai diện tích mặt nước, khí hậu và các
tài nguyên khác trong doanh nghiệp.
- Hạn chế sự rủi ro của ngành sản xuất thủy sản do điều kiện tự nhiên thất thường.
Khi thực hiện chuyên môn hóa sản xuất thủy sản cũng cần lưu ý giải quyết tốt mối
quan hệ giữa chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, tập trung hóa và thâm canh hóa.
II. NGÀNH SẢN XUẤT ÏVÀ NGUYÊN TẮC PHỐI HỢP CÁC NGÀNH SẢN XUẤT
1. Khái niệm
Ngành là những bộ phận sản xuất cấu thành trong phương hường sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Các ngành trong doanh nghiệp được phân biệt bởi đối tượng lao
động, công cụ lao động, quy trình sản xuất, phương pháp tổ chức sản xuất và sản phẩm sản
xuất ra.
Căn cứ vào vị trí của các ngành trong doanh nghiệp, có thể chia các ngành thành:
ngành sản xuất chính, ngành sản xuất bổ sung và ngành sản xuất phụ.
+ Ngành sản xuất chính: là ngành có trình độ chuyên môn hóa và tỷ trọng sản phẩm
hàng hóa cao nhất, có vị trí quan trọng nhất, quyết định việc thực hiện mục tiêu của doanh
nghiệp.
+ Ngành sản xuất bổ sung: là ngành hỗ trợ cho ngành chính phát triển thuận lợi và
khai thác đầy đủ hơn mọi tiềm năng của doanh nghiệp mà ngành chính chưa khai thác hết.
Là ngành có tỷ trọng hàng hóa nhỏ hơn ngành sản xuất chính.
29
+ Ngành sản xuất phụ: là ngành được tổ chức để phục vụ cho ngành chính và
ngành bổ sung, để tận dụng mọi tiềm năng có trong doanh nghiệp để sản xuất ra những sản
phẩm phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đơi sống tại chỗ, đây là ngành có quy mô sản xuất
nhỏ.
Nguyên tắc phối hợp giữa các ngành sản xuất trong nuôi trồng thủy sản.
+ Đảm bảo hỗ trợ cho ngành sản xuất chính phát triển tốt. Việc tổ chức nhiều
ngành trong doanh nghiệp không được gây cản trở cho ngành chính, mà trái lại phải hỗ trợ
cho ngành chính phát triển tốt.
+ Sử dụng triệt để và có hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất như: đất đai diện tích
nghiệp.
- Đặc điểm kinh tế–xã hội chung của từng vùng và cả nước. khi xác định phương
hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần lưu ý các vấn đề sau:
30
+ Nước ta đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp, là
phổ biến sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vì vậy các doanh nghiệp phải vừa
khắc phục tư tưởng sản xuất tự túc tự cấp, khép kín, manh mún vừa lựa chọn bước đi, mức
độ phát triển phù hợp với hướng sản xuất hàng hóa.
+ Nước ta đã và đang hình thành các vùng và tiểu vùng nuôi trồng thủy sản chuyên
môn hóa, vì vậy nhìn chung phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải phù
hợp với hướng chuyên môn hóa của từng vùng và từng khu vực.
+ Lực lượng sản xuất xã hội nói chung và cơ sở vật chất kỹ thuật nói riêng hiện nay
còn thấp, gây nhiều khó khăn cho việc sản xuất hàng hóa. Từ đó phải tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật cần thiết để từng bước chuyên môn hóa sản xuất.
3. Trình tự xác định phương hướng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Trước hết phải xác định ngành sản xuất chính, ngành chuyên môn hóa, trên cơ sở
ngành chính xác định ngàng sản xuất bổ sung và ngành phụ.
- Sau khi xác định phương hướng sản xuất–kinh doanh, phải xác định cơ cấu sản
xuất của doanh nghiệp. Cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ giữa các
ngành trong phương hướng sản xuất–kinh doanh của doanh nghiệp (quan hệ tỷ lệ về lao
động, đất đai diện tích mặt nước, tư liệu sản xuất, vốn giá trị sản lượng và giá trị sản lượng
hàng hóa )
- Dự kiến hiệu quả của phương hướng sản xuất kinh doanh và kế hoạch tổ chức
thực hiện.
4. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyên môn hóa và sự phối hợp các ngành và hiệu
quả của phương hướng sản xuất kinh doanh.
A.Chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyên môn hóa.
Có thể sử dụng công thức sau:
Ki =
∑
- Phương pháp và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của ngành chuyên môn hóa
- Trước hết phải so sánh hiệu quả kinh tế của ngành chuyên môn hóa với các ngành
khác trong doanh nghiệp.
- So sánh hiệu quả ngành chuyên môn hóa của doanh nghiệp này với ngành chuyên
môn hóa tương tự của doanh nghiệp khác trong vùng hay trong cả nước.
Để so sánh đánh giá cần sử dụng các chỉ tiêu: lợi nhuận, lợi nhuận tính trên một
đồng vốn, trên một đồng chi phí, trên một đơn vị diện tích mặt nước sử dụng, giá thành
đơn vị sản phẩm, năng suất lao động, năng suất đất đai diện tích mặt nước.
- Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế chung của phương hướng sản xuất kinh doanh
bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau
- Giá trị sản phẩm và giá trị sản phẩm hàng hóa tính cho một đơn vị diện tích mặt
nước, một lao động, một đồng vốn đầu tư.
- Lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận.
- Giá thành sản phẩm.
- Năng xuất lao động.
- Thu nhập của một lao động v.v…
Khi tính toán và phân tích cần so sánh với các doanh nghiệp cạnh tranh và trong vùng.
II. QUY MÔ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ QUY MÔ DOANH NGHIỆP.
1. Tập trung hóa sản xuất.
A. Tập trung hóa.
Chuyên môn hóa, tập trung hóa, hiệp tác hóa…là những nội dung chủ yếu của quá
trình sản xuất gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội.
Tập trung hóa là quá trình tập trung các yếu tố sản xuất như: đất đai diện tích mặt
nước, lao động và tư liệu sản xuất để nâng cao quy mô sản xuất sản phẩm. Quá trình đó có
thể diễn ra cả về chiều rộng (tăng số lượng các yếu tố sản xuất ) và có thể về chiều sâu
(tăng chất lượng các yếu tố sản xuất –hay quá trình tích tụ các yếu tố sản xuất ).
Tập trung hóa trong nuôi trồng thủy sản trước hết phải là quá trình tập trung hóa về
đất đai diện tích mặt nước, bởi vì không có đất đai diện tích mặt nước thì không có quá
trình sản xuất thủy sản. Mức độ tập trung đất đai diện tích mặt nước phụ thuộc vào nhiều
yếu tố như chính sách của nhà nước, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự phân