ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI TRỌNG NGOÃN
KHẢO SÁT CÁC ĐỘNG TỪ
TÌNH THÁI
TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2004
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 ................................................................................................... 100
Bảng 2.2 ................................................................................................... 102
Bảng 4.1 ................................................................................................... 186
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
- (*A)
:
A không chấp nhận được
- (TM)
:
tường minh
- (VTTT)
:
vị từ tình thái
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục những từ viết tắt
MỞ ĐẦU
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm tình thái
2.4 Thành tố phụ trước của ngữ đoạn ĐTTT
40
2.5 Thành tố phụ sau của ngữ đoạn ĐTTT
76
2.6 Vai trò của ĐTTT đối với sự đề bạt chủ ngữ
98
2.7 Tổng kết chương
Chương III: BÌNH DIỆN NGHĨA HỌC CỦA ĐTTT TIẾNG VIỆT
99
103
3.1 Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp động từ tình thái nhận thức
103
3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp động từ tình thái đạo nghĩa
146
3.3 Tổng kết chương
4.7 Tổng kết chương
194
KẾT LUẬN
196
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
201
TÀI LIỆU THAM KHẢO
202
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, các nhà ngôn ngữ học đã chuyển trọng tâm
chú ý từ ngôn ngữ học cấu trúc sang ngôn ngữ học chức năng, quan tâm nhiều
hơn đến công năng của ngôn ngữ với tư cách là công cụ giao tiếp và những
bình diện làm nên nghĩa của câu. Khái niệm ngữ nghĩa của câu được mở rộng,
không chỉ bó hẹp ở nghĩa miêu tả (representative) mà còn là nghĩa tình thái
(modality), không chỉ quan tâm đến hiển ngôn mà còn cố gắng làm sáng tỏ
các cơ chế làm nảy sinh hàm ý, không chỉ quan tâm đến phát ngôn trần thuật
với giá trị chân nguỵ của nó mà còn quan tâm cả những phát ngôn có hiệu lực
tại lời khác...
đây hoàn toàn chưa được nghiên cứu đúng với tầm quan trọng của chúng:
a) Xác định các ĐTTT với tư cách là một tiểu lớp động từ (ĐT) cơ hữu
của tiếng Việt.
b) Vai trò của các ĐTTT với tư cách là một loại phương tiện biểu thị
các nội dung tình thái của câu (tình thái khách quan/ tình thái chủ quan/ tình
thái nhận thức/ tình thái đạo nghĩa...).
c) Tổ chức của các đoản ngữ có ĐTTT làm trung tâm cùng sự lí giải tổ
chức đó về phương diện ngữ nghĩa.
d) Vai trò của ĐTTT trong tổ chức cấu trúc của câu (sự chế định của
các vị ngữ là ĐTTT đối với việc lựa chọn chủ ngữ trong câu, việc hiện thực
hóa các thành phần phụ khác).
e) Các kiểu hành vi ngôn ngữ mà các ĐTTT có thể tham gia biểu thị.
Chính vì vậy, chúng tôi đã chọn nghiên cứu những vấn đề nêu trên.
3
Chúng tôi nhận thấy rằng đây là một việc làm cần thiết đối với thực tiễn
nghiên cứu và giảng dạy Việt ngữ ở Việt Nam hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận án đặt cho mình nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
ĐTTT. Đây là những vấn đề mang tính thời sự, đặc biệt trong bối cảnh ngày
càng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến các bình diện ngữ dụng của câu
và đẩy mạnh các nghiên cứu theo hướng ngữ pháp - ngữ nghĩa. Cụ thể, luận
án sẽ tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
2.1. Xác định các ĐTTT trong tiếng Việt và các tiểu lớp của nó.
Theo ngữ pháp truyền thống, các phạm trù từ vựng ngữ pháp nói chung
và các ĐTTT nói riêng được phân xuất dựa theo những tiêu chí có tính
nguyên tắc chung (ý nghĩa ngữ pháp khái quát, các đặc điểm hình thái và cú
pháp). Tuy nhiên, luận án chọn cách tiếp cận của ngữ pháp - ngữ nghĩa. Theo
Luận án tập trung khảo sát sự chế định của vị ngữ ĐTTT đối với việc
đề bạt chủ ngữ.
2.5. Mối quan hệ tương liên giữa câu có vị ngữ là ĐTTTvới các kiểu
hành vi tại lời mà câu đó có thể thực hiện.
Vấn đề này nằm trong một khung miêu tả rộng hơn đó là sự chế định,
tác động qua lại giữa nội dung mệnh đề và khung tình thái của câu. Qua việc
khảo sát lực ngôn trung của các phát ngôn chứa ĐTTT, luận án hy vọng sẽ
góp phần làm sáng tỏ một vài khía cạnh của vấn đề.
3. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Có thể xem đề tài chúng tôi là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu một cách
5
có hệ thống toàn bộ tiểu loại ĐTTT tiếng Việt, đồng thời chỉ ra các đặc điểm
ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của lớp từ này trong sự so sánh với các tiểu
loại ĐT khác của tiếng Việt.
3.1. Về phương diện lý luận, luận án góp phần nghiên cứu bản chất và
đặc trưng của lớp ĐTTT tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và
dụng học. Từ đó, luận án góp phần làm sáng tỏ hơn vai trò của các ĐTTT với
tư cách là một loại phương tiện biểu thị các nội dung tình thái của câu, vai trò
của động từ tình thái trong tổ chức cấu trúc của câu... Nói cách khác, luận án
góp phần dựng lên một bức tranh toàn cảnh về lớp ĐTTT tiếng Việt.
3.2. Về phương diện thực tiễn, kết quả của luận án sẽ góp thêm những
tư liệu xác đáng cho việc biên soạn một số giáo trình, tài liệu về ngôn ngữ
Việt có liên quan đến phạm vi đề tài; phần nào có ích cho các công trình
nghiên cứu đối chiếu lớp ĐTTT tiếng Việt với ĐTTT của các ngôn ngữ khác.
Luận án có thể xây dựng thành một chuyên đề riêng để giảng dạy cho sinh
viên khoa Ngữ văn. Luận án cũng có thể bổ sung những tri thức cần thiết cho
người Việt Nam cũng như người nước ngoài học tiếng Việt, giúp họ có thể sử
Chương II: Bình diện kết học của động từ tình thái tiếng Việt.
Chương III: Bình diện nghĩa học của động từ tình thái tiếng Việt.
Chương IV: Bình diện dụng học của động từ tình thái tiếng Việt.
7
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. KHÁI NIỆM TÌNH THÁI:
Khái niệm tình thái (modality, modalité) thường được các nhà ngôn
ngữ học dùng để chỉ những mối quan hệ của nội dung thông tin miêu tả trong
phát ngôn với hiện thực cũng như những quan điểm, thái độ, đánh giá của
người nói đối với nội dung miêu tả trong câu nói, với người nghe và với hoàn
cảnh giao tiếp. Như thế, nói một cách sơ lược nhất, phạm trù tình thái bao
gồm hai bình diện là mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và
nội dung phát ngôn với thực tế.
1.1.1. Tình thái trong quan niệm của lôgich học truyền thống:
Trong lôgich học, khái niệm tính tình thái gắn với sự phân loại các
phán đoán, các mệnh đề lôgich dựa trên những đặc trưng cơ bản giữa hai
thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh mức độ phù hợp của phán đoán
trong thực tế. Các phán đoán được chia thành ba nhóm lớn là khả năng, tất
yếu và hiện thực. Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt
của một đặc trưng nào đó ở đối tượng. Phán đoán tất yếu phản ánh những nội
dung nhận thức mà đặc trưng nêu ở vị từ có ở đối tượng trong mọi điều kiện,
mọi thế giới khả năng. Phán đoán hiện thực xác nhận sự có mặt hay vắng mặt
của đặc trưng nào đó ở đối tượng.
Như vậy khái niệm tình thái (hay modus) của lôgich có thể được xem là
16. Đỗ Hữu Châu (1985), Các yếu tố dụng học của tiếng Việt, Ngôn ngữ (4),
Hà Nội.
17. Đỗ Hữu Châu (1986), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb KHXH,
Hà Nội.
18. Đỗ Hữu Châu (1986), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ĐH & THCN,
Hà Nội.
19. Đỗ Hữu Châu (1992), Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học
hiện nay, Ngôn ngữ (1),(2), Hà Nội.
20. Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ
học, tập 2, Nxb GD, Hà Nội.
21. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập II: Ngữ dụng học,
Nxb GD, Hà Nội.
22. Đỗ Hữu Châu - Cao Xuân Hạo (1995), Tiếng Việt 12, Ban KHXH, Nxb
GD, Hà Nội.
23. Đỗ Hữu Châu - Cao Xuân Hạo (1996), Tài liệu giáo khoa thí điểm
Tiếng Việt 12, Sách giáo viên, Nxb GD, Hà Nội.
204
24. Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê (1963), Khảo luận về ngữ pháp
Việt Nam, Đại học Huế.
25. Trần Chút (1986), "Trở lại vấn đề “câu đặc biệt” trong tiếng Việt", In
trong Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ Phương Đông, Viện
Ngôn ngữ học, Hà Nội.
26. Nguyễn Đức Dân (1977), "Logic và sự phủ định trong tiếng Việt", Ngôn
ngữ (3), Hà Nội.
27. Nguyễn Đức Dân (1984), "Ngữ nghĩa các từ hư : Định hướng nghĩa của
từ", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
28. Nguyễn Đức Dân (1984), "Ngữ nghĩa các từ hư : Nghĩa của cặp từ",
42. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH&THCN,
Hà Nội.
43. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb GD,
Hà Nội.
44. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1988), Tâm lý học, Tập I, Nxb GD, Hà Nội.
45. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt - Sơ thảo ngữ pháp chức năng,
Quyển 1, Nxb KHXH, TP Hồ Chí Minh.
46. Cao Xuân Hạo (chủ biên), Hoàng Xuân Tâm, Nguyễn Văn Bằng, Bùi
Tất Tươm (1992), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt (Quyển 1) - Câu trong
tiếng Việt: Cấu trúc - chức năng - công dụng, Nxb GD, Hà Nội.
47. Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt - mấy vấn đề ngữ âm - ngữ nghĩa - ngữ
pháp, Nxb GD, Hà Nội.
206
48. Nguyễn Văn Hiệp (1991), "Một quang cảnh về các thành phần phụ câu
tiếng Việt", Tạp chí Khoa học - Đại học Tổng hợp Hà Nội.
49. Nguyễn Văn Hiệp (1992), Các thành phần phụ của câu tiếng Việt, Luận
án PTS, Đại học Tổng hợp Hà Nội.
50. Nguyễn Văn Hiệp (1994), "Tình thái ngữ trong hệ thống thành phần phụ
của câu tiếng Việt", Tạp chí Khoa học (5) , Đại học Tổng hợp Hà Nội.
51. Nguyễn Văn Hiệp (2000), "Một thử nghiệm về vai trò của ngữ nghĩa
trong phân tích cú pháp", Tạp chí Khoa học (3), ĐHQG Hà Nội.
52. Nguyễn Văn Hiệp (2001), "Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các
tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt" Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
53. Nguyễn Văn Hiệp (2001), "Về một khía cạnh phân tích tầm tác động tình
thái", Ngôn ngữ (8), Hà Nội.
54. Lê Trung Hoa (1985), "Nhận xét về cách dùng từ “được”, “bị”, “phải”,
“mắc”, “chịu” trong một số văn bản của thế kỷ XVIII", Ngôn ngữ (3),
70. Lyons J. (1996), Nhập môn ngôn ngữ học lý thuyết, Nxb GD, Hà Nội.
71. Lê Văn Lý (1972), Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam, Sài Gòn.
72. Hoàng Phê (1982), “Tiền giả định và hàm ý trong ngữ nghĩa của từ”,
Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
73. Hoàng Phê, 1989, Lôgich ngôn ngữ học, Nxb KHXH, Hà Nội.
74. Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.
75. Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt - Câu, Nxb ĐH&
208
THCN, Hà Nội.
76. Nguyễn Phú Phong (2002), Những vấn đề ngữ pháp tiếng Việt, Nxb
ĐHQGHN, Hà Nội.
77. Nguyễn Anh Quế (1988), Hư từ trong tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH,
Hà Nội.
78. Nguyễn Thị Quy (1995), Vị từ hành động tiếng Việt và các tham tố của
nó (so sánh với tiếng Nga và tiếng Anh), Nxb KHXH, Hà Nội.
79. Hữu Quỳnh (1980), Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nxb GD, Hà Nội.
80. Saussure F.de. (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH,
Hà Nội.
81. Stêpanốp.J.S. (1984), Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, Nxb
ĐH & THCN, Hà Nội.
82. Solnseva, N.V. (1992), “Sự chi phối của tác thể đối với động từ”, Ngôn
ngữ (1), Hà Nội.
83. Vũ Thế Thạch (1985), “Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ tiếng Việt”,
Ngôn ngữ (3), Hà Nội.
84. Vũ Thế Thạch (1988), “Ngữ nghĩa và chức năng của các từ “được”, “bị”,
“phải” trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ (1), Hà Nội.
85. Lê Xuân Thại (1969), “Cụm từ và phân tích câu theo cụm từ”, Ngôn ngữ
99. Nguyễn Thị Thuận (2003), Các động từ tình thái “nên, cần, phải, bị,
được” trong câu tiếng Việt, Luận án TS, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
210
100. Nguyễn Minh Thuyết (1986), “Vai trò của các từ “bị”, “được” trong
câu bị động tiếng Việt”, in trong Những vấn đề ngôn ngữ học về các
ngôn ngữ Phương Đông, Uỷ ban KHXH VN, Hà Nội.
101. Nguyễn Minh Thuyết (1988), "Cách xác định thành phần câu tiếng
Việt", in trong Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á, Nxb KHXH,
Hà Nội.
102. Nguyễn Minh Thuyết (1989), “Động, tính từ và cụm chủ vị làm chủ
ngữ”, Ngôn ngữ (3), Hà Nội.
103. Nguyễn Minh Thuyết (1994), "Thử giải đáp hai vấn đề cơ bản về thành
phần câu", in trong Lưu Văn Lăng (chủ biên): Những vấn đề ngữ pháp
tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH, Hà Nội.
104. Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (1994), “Về khái niệm nòng
cốt câu”, Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
105. Nguyễn Minh Thuyết (1995), "Các tiền phó từ chỉ thời - thể trong tiếng
Việt", Ngôn ngữ (2), Hà Nội.
106. Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành phần câu
tiếng Việt, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội.
107. Bùi Đức Tịnh (1952), Văn phạm Việt Nam, Nxb Phạm Văn Tươi, Sài Gòn.
108. Bùi Minh Toán (1980), “Các câu có vị ngữ liên hợp được biểu hiện
bằng động từ trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
109. Bùi Minh Toán (1984), “Chung quanh việc xác định các quan hệ ngữ pháp
liên hợp và chính phụ trong các chuỗi động từ”, Ngôn ngữ (4), Hà Nội.
110. Nguyễn Ngọc Trâm (1991), Đặc trưng ngữ nghĩa ngữ pháp của nhóm
từ biểu thị tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt, Luận án phó tiến sĩ, Viện
213
136. Phạm Thị Hoài (1989), Mê lộ, Nxb Tổng hợp Phú Khánh, Nha Trang.
137. Tô Hoài (2000), Cát bụi chân ai, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
138. Nguyễn Công Hoan (1984), Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, tập 2, Nxb
VH, Hà Nội.
139. Ma Văn Kháng (2002), Côi cút giữa cảnh đời, Nxb KĐ, Hà Nội.
140. Trần Đăng Khoa (2000), Đảo chìm, Nxb TN, Hà Nội.
141. Trần Đăng Khoa (2001), Người thường gặp, Nxb TN, Hà Nội.
142. Cao Hành Kiện (2003), Linh Sơn (Trần Đĩnh dịch từ tiếng Pháp), Nxb
PN, Hà Nội.
143. Thạch Lam (1987), Gió đầu mùa, Nxb VH, Hà Nội.
144. Nhiều tác giả (1979), Trường Sơn - Thơ văn chọn lọc 1959-1979, Nxb
VH, Hà Nội.
145. Nhiều tác giả (1985), Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985, Nxb VH, Hà Nội.
146. Nhiều tác giả (1985), Truyện ngắn Việt Nam 1945-1985, Nxb GD, Hà Nội.
147. Nhiều tác giả (1988), Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945-1954, Nxb
ĐH & THCN, Hà Nội.
148. Nhiều tác giả (1989), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, tập 8,
Nxb KHXH, Hà Nội.
149. Nhiều tác giả (1990), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, tập 6,
Nxb KHXH, Hà Nội.
150. Nhiều tác giả (1990), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, tập 7,
Nxb KHXH, Hà Nội.
151. Nhiều tác giả (1999), Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau Cách
214