ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC
---------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU SỰ TỰ DO HÓA
NGÔN NGỮ THƠ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI THẾ KỶ XX
(TRÊN TƯ LIỆU CÁC TẬP THƠ CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ)
Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. ĐINH VĂN ĐỨC
HÀ NỘI – 2008
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THÙY
NGHIÊN CỨU SỰ TỰ DO HÓA
NGÔN NGỮ THƠ TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI THẾ KỶ XX
(TRÊN TƯ LIỆU TẬP THƠ CỦA MỘT SỐ TÁC GIẢ)
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
1.3. Nhận thức về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ ............................................................ 18
1.4. Ý thơ và tứ thơ, hình tượng thơ, cảm giác thơ, sự hấp dẫn và tính mờ nhòe
của thơ ............................................................................................................... 25
1.5. Về cấu trúc của thơ (Bài thơ, khổ thơ, câu thơ) .................................................. 26
1.5.1. Bài thơ ............................................................................................................ 27
1.5.2. Khổ thơ ........................................................................................................... 27
1.5.3. Câu thơ ........................................................................................................... 29
1.6. Những cách tiếp cận khác nhau trong khi nghiên cứu thơ và một số lý thuyết liên
quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ ............................................................................ 30
1.6.1. Hướng nghiên cứu theo thi pháp học và theo lý thuyết về hệ thống và
cấu trúc ............................................................................................................................. 31
1.6.2. Lý thuyết về ngữ cảnh ..................................................................................... 34
1.6.3. Lý thuyết phân tích diễn ngôn ......................................................................... 35
1.7. Những lối nghiên cứu thơ từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam ............... 36
1.7.1. Thơ cũ ............................................................................................................ 36
1.7.2. Thơ Mới ......................................................................................................... 43
Chương 2. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ bài thơ ......... 49
2.1. Kết quả khảo sát theo diện bằng phương pháp định lượng ................................. 49
2.1.1. Kết quả khảo sát, thống kê một số tập thơ ....................................................... 50
2.1.2. So sánh, đánh giá kết quả số liệu về thể thơ .................................................... 55
2.1.3. So sánh và đánh giá về các mô hình bài thơ (tính theo số khổ trong bài và số câu
trong khổ) ......................................................................................................................... 57
2.2. Kết quả khảo sát (theo điểm) bằng phương pháp đinh lượng và định tính .......... 60
2.2.1. Về 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử ......................................................................... 61
2.2.2. Về tập 50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan Viên ................................................... 67
2.2.3. Về một số bài thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ 1945-1975...................... 74
2.3. Tiểu kết ............................................................................................................. 98
Chương 3. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ khổ thơ
Chương 4. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ câu thơ
............................................................................................................................... 159
4.1. Nhịp điệu ......................................................................................................... 159
4.1.1. Cơ sở ngắt nhịp câu thơ ................................................................................ 161
4.1.2. Một số bàn luận ............................................................................................ 168
4.2. Thanh điệu ....................................................................................................... 183
4.2.1. Kết quả khảo sát định lượng.......................................................................... 183
4.2.2. Bàn luận........................................................................................................ 185
4.3. Vần trong câu thơ ............................................................................................ 189
4.4. Tiểu kết ........................................................................................................... 191
4.4.1. Về việc gieo vần ........................................................................................... 192
4.4.2. Về thanh điệu................................................................................................ 192
4.4.3. Về nhịp điệu ................................................................................................. 192
Kết luận ......................................................................................................................... 193
Danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án ......................... 200
Thư mục tài liệu tham khảo ............................................................................................ 201
Phụ lục .................................................................................................................................
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
-
-
-
-
S1: Tập gồm các bài ở giai đoạn 1900-1945 trong Tuyển tập thơ tình Việt Nam
thế kỷ XX, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2003, 511 trang.
+ L1 (loại 1): kí hiệu 1,2 câu 1 và câu 2 có cùng vần.
+ L2 (loại 2): kí hiệu 1,3 câu 1 và câu 3 có cùng vần.
+ L3 (loại 3): kí hiệu 1,4 câu 1 và câu 4 có cùng vần.
-
+ L4 (loại 4): kí hiệu 2,3 câu 2 và câu 3 có cùng vần.
+ L5 (loại 5): kí hiệu 2,4 câu 2 và câu 4 có cùng vần.
+ L6 (loại 6): kí hiệu 3,4 câu 3 và câu 4 có cùng vần.
+ L7 (loại 7): kí hiệu 1,2,4 các câu 1,2,4 có cùng vần.
+ L8 (loại 8): kí hiệu 1,3,4 các câu 1,3,4 có cùng vần.
+ L9 (loại 9): kí hiệu 1,2,3,4 các câu 1,2,3,4 có cùng vần.
+ L10 (loại 10): 0(v) không vần.
Ở tất cả các trường hợp không có hiện tượng gieo vần, vần được gieo ở tiếng
cuối cùng của các câu trong khổ.
Ở một số khổ thơ, có thể có 2 loại vần. Ví dụ, một khổ thơ vừa có loại 2 (L2)
vừa có loại 5 (L5).
Tên viết tắt của các tác giả và các bài thơ được trình bày ở phụ lục.
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ , ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ.
* Các bảng thống kê:
trang
1. Bảng thống kê bài thơ tính theo thể thơ/ số chữ (giai đoạn 1900-1945) .......49
2. Bảng thống kê 49 mô hình bài tính theo số lượng khổ trong bài và số câu
trong khổ (giai đoạn 1900-1945) .............................................................................49
3. Bảng thống kê bài thơ tính theo thể thơ/ số chữ (giai đoạn 1945-2000) .......50
4. Bảng thống kê số lượng bài thơ tính theo thể thơ và tính theo số khổ trong
bài ở tập S4. .................................................................................................................
5. Bảng thống kê bài thơ tính theo thể thơ/ số chữ và tính theo số lượng mô
trường hợp (217 khổ ở “Gửi hương cho gió” và “Từ ấy”) ....................................107
19. Bảng thống kê mô hình các khổ thơ không có phép đối thanh điệu ở “Lệ
Thanh thi tập” và “Xuân như ý” ............................................................................107
Tổng cộng: 19 bảng (không kể các bảng ở phụ lục).
* Đồ thị.
1. Có 02 đồ thị minh họa cho VD30 ................................................................110
2. Có 02 đồ thị minh họa cho VD31 ................................................................110
3. Có 02 đồ thị minh họa cho VD32 ................................................................112
4. Có 02 đồ thị minh họa cho VD33 ................................................................113
5. Có 02 đồ thị minh họa cho VD34 ................................................................115
6. Có 04 đồ thị minh họa cho VD35 ................................................................115
7. Có 04 đồ thị minh họa cho VD36 ................................................................117
8. Có 04 đồ thị minh họa cho VD37 ................................................................118
9. Có 04 đồ thị minh họa cho VD38 ................................................................120
10. Có 04 đồ thị minh họa cho VD39 ..............................................................121
11. Có 04 đồ thị minh họa cho VD40 ..............................................................123
12. Có 04 đồ thị minh họa cho VD41 ..............................................................124
13. Có 04 đồ thị minh họa cho VD42 ..............................................................125
Tổng cộng: 42 đồ thị.
*Biểu đồ: - 35 biểu đồ (xem phụ lục 1) ................................. 1->19 của phần phụ lục
- Chú thích cho các biểu đồ: ................................ 20->21 của phần phụ lục
MỞ ĐẦU
1. Mục đích nghiên cứu
Thơ Việt Nam trước thế kỉ XX chịu ảnh hưởng nhiều của luật thơ truyền
thống, thơ Đường (Trung Quốc) nên tuân thủ những quy tắc nghiêm ngặt.
Thơ Việt Nam trong thế kỉ XX, từ phong trào thơ Mới đến nay đã phát triển
theo nhiều khuynh hướng khác nhau, trong đó có những khuynh hướng hiện
đại, mang đậm dấu ấn của sự tự do hóa. Có thể nói, đầu thế kỉ XX, văn học
có cơ sở khoa học.
1
Ở Việt Nam, ngôn ngữ thơ cũng được nhiều người quan tâm. Ngôn ngữ
thơ được công chúng, những người nghiên cứu, những nhà phê bình tiếp
nhận và bình xét theo hướng đa diện với những lăng kính ở các mức độ khác
nhau. Có người nhắc đến “ngôn ngữ” khi bình luận về thơ nói chung, thơ
Việt Nam thế kỉ XX nói riêng, nhắc đến “con âm”, “con chữ” (Dương
Tường). Nhưng có lẽ đó mới chỉ là dấu hiệu của sự lưu ý đến khía cạnh ngôn
ngữ khi bình luận về thơ chứ chưa thực sự có những nghiên cứu mang tính
chất vận dụng, nhấn mạnh hơn hoặc khai thác có chiều sâu hơn đến các cấp
độ của ngôn ngữ trong các công trình nghiên cứu của lí luận phê bình văn
học. Ở một vài công trình khác, ngôn ngữ thơ được soi chiếu từ nhiều góc độ:
Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (Nguyễn Hữu
Đạt), Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học (Mai Ngọc Chừ), Ngôn
ngữ quy ước hay tân kỳ (Trần Văn Nam), Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong
thơ đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt
đương đại (Trần Ngọc Hiếu), Lịch sử hiện đại hóa thơ Việt trong mắt một
nhà thơ, trong đó có một phần liên quan đến ngôn ngữ thơ (bản gốc tiếng
Anh của Hoàng Hưng, do Võ Sư Phạm dịch)…Tuy thế, các bài viết về sự tự
do hóa ngôn ngữ thơ và hiện đại hóa thơ Việt thì lẻ tẻ, rải rác còn sách về
ngôn ngữ thơ thì phần nhiều nghiên cứu theo hướng thi pháp. Tức là, chưa có
công trình nào nghiên cứu về sự tự do hóa ngôn ngữ thơ như một chuyên
luận.
Có thể nói, ngôn ngữ thơ hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu
cầu đòi hỏi được nghiên cứu. Chính vì thế, luận án này nghiên cứu về sự tự
do hóa ngôn ngữ thơ- một “điểm nóng” của mảng nghiên cứu ngôn ngữ văn
học. Trên cơ sở một số bài báo, công trình đã có ở những năm trước theo
hướng nghiên cứu thơ từ góc độ ngôn ngữ học, chúng tôi lựa chọn đề tài
thơ… Từ đó có một cách tiếp cận thơ theo hướng ngôn ngữ học rõ ràng hơn.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau đây:
3.1. Trên cơ sở các bảng biểu, số liệu thống kê định lượng và những
nghiên cứu định tính, luận án tìm ra những sự đột phá về cấu trúc, thể loại ở
các cấp độ bài thơ, khổ thơ, câu thơ trong các giai đoạn khác nhau để thấy
được cái Mới trên cả hai phương diện hình thức và nội dung ngữ nghĩa được
biểu đạt. Cụ thể là:
3.1.1.Ở cấp độ bài thơ (Chương 2), luận án nghiên cứu về:
Các thể loại thơ. Trong đó chú trọng nhất là thơ 7 chữ, có so sánh với thơ
8 chữ. Việc nghiên cứu được mở trên diện nhiều thể thơ để thấy được sự đa
dạng, phong phú của sự tự do hóa trải rộng trên nhiều thể loại (có cái nhìn
tổng quát hơn về sự tự do hóa).
Cấu trúc bài thơ: bài chia khổ hay không chia khổ, số lượng khổ trong
bài, các khổ trong bài được tổ chức theo các mô hình cấu trúc như thế nào.
Ngôn ngữ diễn đạt của bài thơ: có tính khẩu ngữ, đối thoại, diễn ngôn, tự
sự, trữ tình… hay không.
3.1.2. Ở cấp độ khổ thơ (Chương 3), luận án nghiên cứu về các loại khổ
thơ (khổ 1 câu, khổ 2 câu,… khổ nhiều câu), cấu trúc khổ thơ, luật đối, niêm,
gieo vần trong khổ: tập trung vào kiểu khổ thơ thể 7 chữ (có so sánh với khổ
thơ thể 8 chữ và khổ thơ thể tự do).
3.1.3. Ở cấp độ câu thơ (Chương 4), luận án nghiên cứu về cách ngắt
nhịp, sự phân bố, sự tập trung thanh điệu trong câu thơ, một số vần trong
3
câu thơ: tập trung chủ yếu vào câu thơ thể 7 chữ (có so sánh với câu thơ thể
8 chữ và thể tự do).
3.2. Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu cụ thể về bài thơ, khổ thơ, câu thơ,
luận án phát hiện và lý giải đặc điểm cách tân của thơ tiếng Việt, sự biến đổi
4.1.5. Thống kê các hiện tượng gieo vần ở từng khổ trong các tập thơ (số
lượng, tỉ lệ phần trăm, mô hình gieo vần) để đưa ra số liệu về các trường hợp
có hoặc không có hiện tượng gieo vần.
4
4.1.6. Thống kê về các cách ngắt nhịp câu thơ: xét cách ngắt nhịp ở từng
câu trong từng khổ; đưa ra mô hình các cách ngắt nhịp khác nhau, tính số
lượng và tỉ lệ phần trăm của các cách ngắt nhịp.
Kết quả thống kê đó được sử dụng để phục vụ cho việc miêu tả, so sánh
và bàn luận về bài thơ, khổ thơ, câu thơ như trong phần nhiệm vụ nêu trên
nhằm đạt được mục đích chung mà luận án đề ra.
4.2. Phương pháp miêu tả
Luận án miêu tả kết hợp với phân tích mô hình các bài thơ, miêu tả về khổ
thơ với phép đối thanh điệu bằng-trắc, âm vực cao- thấp, cách gieo vần, luật
niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ.
4.3. Phương pháp so sánh
Luận án so sánh các tập S1, S2, S3, S4, S5, S6 (xem trang chú thích kí
hiệu viết tắt) với tổng số 514 bài thơ để đánh giá kết quả số liệu về thể thơ,
về các mô hình bài thơ (tính theo số khổ trong bài và số câu trong khổ). Trên
cơ sở đó, luận án bàn luận về thơ theo giai đoạn (1900-1945; 1945-2000)
hoặc theo tác giả, so sánh các giai đoạn, các tác giả khác nhau để làm nổi
bật những nét mới, những yếu tố tự do hóa và hiện đại hóa trong thơ. Từ đó
tìm hiểu và khẳng định vài nét về phong cách của một số nhà thơ.
4.4. Phương pháp phân tích thi pháp ngôn ngữ học
Luận án tìm hiểu, phân tích một số khả năng kết hợp, đảo ngữ, “vặn
câu”… Đồng thời, luận án cũng thực hiện các thao tác thay thế, chêm xen, cải
biến … và vận dụng lý thuyết về trục liên tưởng, trục cú đoạn (hệ hình, cú
đoạn) để khai thác sự kết hợp thể hiện tính đa trị của thơ. Bên cạnh đó, luận
Hội nhà văn Việt Nam, 1983, 60 trang; “Xúc xắc mùa thu”, NXB Hội nhà
văn Hà Nội, 1992, 59 trang) và ở 1 tập thơ của Lê Đạt (“Bóng chữ”, NXB
Hội nhàvăn, Hà Nội, 1994, 138 trang); Tuyển thơ Nhà thơ- Nhà giáo, Nhà
xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, 400 trang; Tuyển tập thơ tình Việt Nam
thế kỷ XX, Nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, 2003, 511 trang.
Ở cấp độ bài thơ, luận án có 2 phần: khảo sát theo diện bằng phương pháp
định lượng trên tư liệu thơ của nhiều nhà thơ; khảo sát theo điểm bằng
phương pháp định lượng và định tính trên tư liệu 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử,
50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan Viên và thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ
1945-1975. Trong số các tư liệu nói trên, chúng tôi chọn Tuyển thơ Nhà thơNhà giáo, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Hà Nội, 2002, 400 trang làm tư liệu
cho luận án vì trong tuyển thơ này có nhiều tác giả có tên tuổi trên thi đàn
như: Vũ Đình Liên, Trần Đăng Khoa, Ngô Văn Phú, Vũ Quần Phương,
Nguyễn Khoa Điềm, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Trọng Hoàn, Cầm Giang, Tế
Hanh, Chính Hữu, Hữu Loan, Bằng Việt, Nguyễn Bùi Vợi….
Ở cấp độ khổ thơ và câu thơ, luận án chọn tư liệu thơ của các tác giả Hàn
Mặc Tử, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, Hoàng Nhuận Cầm, Phạm Tiến
Duật đồng thời luận án phân tích kĩ hơn về 01 bài lẻ của Hữu Loan, 01 câu lẻ
của Nguyễn Đình Thi vì tất cả các tư liệu này phù hợp, đáp ứng với mục đích
nghiên cứu mà luận án đề ra.
Đồng thời, đề tài cũng sử dụng tư liệu đã được xử lý của một số sinh viên
trong khóa luận tốt nghiệp, công trình nghiên cứu khoa học sinh viên (xem
phụ lục 2).
5.2. Đề tài cũng tham khảo thêm các ví dụ, các quan điểm của các giáo
trình, công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, về thơ Việt Nam các giai đoạn,
đặc biệt là thơ Việt Nam thế kỷ XX.
6
6. Một vài tiên liệu về đóng góp của luận án
sau đại học.
7. Bố cục của luận án
Ngoài mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 phần chính:
mở đầu, nội dung, kết luận.
Trong đó, phần Nội dung gồm có 4 chương:
Chương 1. Cơ sở lý thuyết: những vấn đề lí luận liên quan đến nội dung luận án
7
Chương 1 tìm hiểu khái niệm về thơ, ý thơ, tứ thơ. Chương này cũng trình
bày về cấu trúc của thơ (dạng tồn tại và nguyên tắc tổ chức cơ bản của thơ:
thế nào là bài thơ, khổ thơ, câu thơ. Sau đó, luận án khai thác những cách tiếp
cận khác nhau trong khi nghiên cứu thơ và trình bày những lối nghiên cứu
thơ từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam.
Chương 2. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ bài thơ
- Nêu kết quả khảo sát (theo diện) bằng phương pháp định lượng các loại
bài thơ ở các tập S1, S2, S3, S4, S5, S6. Trên cơ sở các bảng thống kê, luận
án so sánh, đánh giá kết quả số liệu về thể thơ, về các mô hình bài thơ ở một
vài tác giả và theo giai đoạn.
- Trình bày kết quả khảo sát (theo điểm) bằng phương pháp định lượng và
định tính: về 4 tập thơ của Hàn Mặc Tử, về 50 bài thơ đặc sắc của Chế Lan
Viên, về một số bài thơ của các nhà thơ- nhà giáo thời kỳ 1945-1975. Rồi đến
tiểu kết của chương 2.
Chương 3. Sự tự do hóa ngôn ngữ thơ tiếng Việt thế kỷ XX ở cấp độ khổ thơ
Chương 3 bàn về sự tự do hóa thơ tiếng Việt thế kỉ XX ở cấp độ khổ thơ,
tập trung chủ yếu ở khổ thơ trong thơ 7 chữ (có so sánh với khổ trong thơ 8
chữ và khổ trong thơ tự do). Cụ thể hơn, chương này nghiên cứu về một số
vấn đề như: các loại khổ thơ (khổ 1 câu, khổ 2 câu… khổ nhiều câu), luật
đối, luật niêm, gieo vần trong khổ. Vấn đề các loại khổ thơ sẽ chỉ được trình
Thời kỳ thơ mới (1932-1945), các nhà thơ Mới đã bứt mình ra khỏi những
ràng buộc của thơ Đường và thơ Cổ phong. Cái Tôi trong thơ Mới được khẳng định
mạnh mẽ. Ngôn ngữ thơ phóng khoáng, chủ đề thơ rộng mở hơn trước. Từ Tản Đà,
Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Lan Sơn, Thanh Tịnh, Thúc Tề, Huy Thông cho đến
Nguyễn Vỹ, Đoàn Phú Tứ, Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Yến Lan, Phạm Hầu,
Xuân Tâm, Thu Hồng, Bàng Bá Lân, Nam Trân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Hàn Mặc
Tử, Chế Lan Viên, ngôn ngữ thơ từng bước được “thoát xác” khỏi những khuôn
thước về câu chữ, niêm luật, vần…Những sáng tác của họ và hoạt động thực tế sáng
tác của họ đã làm nên một cuộc “cách mạng thơ” thực sự.
Năm 1943, Dương Quảng Hàm đã đề cập đến những nét cơ bản của các thể loại
thi ca tiếng Việt trong cuốn “Việt Nam văn học sử yếu”. Sau đó, 1971, Bùi Văn
Nguyên và Hà Minh Đức đã nghiên cứu về cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu
lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung trong “Thơ ca Việt Nam- Hình thức và
thể loại” trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã có của Phan Kế Bính trong “Việt
Hán văn khảo” (1918), Bùi Kỉ trong “Quốc văn cụ thể” (1932), Dương Quảng Hàm
trong “Việt Nam văn học sử yếu” (1943)… Đặc biệt, phần nghiên cứu về thể thơ
của Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức có ý nghĩa tạo một bước tiến nền tảng cho
việc nghiên cứu thể loại thơ nói chung.
Gần hơn nữa, một số công trình nghiên cứu của các tác giả như Trần Đình Sử,
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lý Hoài Thu, Lê Lưu Oanh, Trinh Đường, Mã Giang
Lân, Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Phạm Hùng, Bùi Công Hùng…đều hướng tới một, hoặc
9
một vài hoặc nhiều tác giả, tác phẩm thơ (có cả thơ trung đại và hiện đại, nhiều
công trình chú trọng vào thơ Việt thế kỷ XX) với một số nội dung chính như sau:
-
Tiến trình văn học.
kỳ” (Trần Văn Nam)…
Các công trình và bài viết nói trên đã đề cập đến “ngôn từ” và “ngôn ngữ” khi
bàn về thơ Việt Nam thế kỉ XX. Thực ra, việc nghiên cứu chú ý đến những cách
tiếp cận nghệ thuật mới về nghệ thuật thi ca và các yếu tố ngôn ngữ trong thơ đã có
mầm mống ở Nga từ đầu thế kỉ XX. Có thể nói, “Vào đầu thế kỷ XX, trường phái
hình thức Nga đã đưa ra những cách tiếp cận mới về nghệ thuật thi ca. Con đường
khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức để lý giải nội dung ý nghĩa. Đây có
thể coi là một bước nhảy vọt đáng ghi nhận về quan điểm và nhận thức của giới
nghiên cứu văn học. Lấy những yếu tố mang tính phân biệt về hình thức giữa thơ và
10
văn xuôi như âm luật, vần, câu thơ, đoạn thơ… làm đơn vị khảo sát, trường phái
này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ. Đó là sự cụ thể hóa cái cơ
bản nhất của các loại hình văn chương nằm trong định nghĩa mang tính khái quát
“văn học là nhân học” của M. Gooki.
Các nhà hình thức Nga như R. Jacobson, V. Girmunski đã đi sâu nghiên cứu
các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông
qua các đơn vị cấu trúc hệ thống. Những quan điểm nghiên cứu của trường phái này
thể hiện rõ nét và tập trung nhất trong bài viết về “Những con mèo” của Ch.
Baudelaire.” [51, tr.5]
Bên cạnh đó, có thể thấy những luận điểm của Roman Jakobson về chức năng
của ngôn ngữ thơ có vai trò như một cánh cửa gợi mở đường hướng cho các nhà
nghiên cứu bước sang một con đường nghiên cứu thơ Việt Nam nói chung, thơ Việt
thế kỷ XX nói riêng: nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lý thuyết
về chức năng ngôn ngữ thơ. Bài viết của Roman Jakobson tuy chưa phân tích vào
những dẫn liệu cụ thể nhưng lại có sức thuyết phục bởi tư tưởng khái quát mang
tính định hướng nghiên cứu cho những người muốn đào sâu khai thác vào địa hạt
của văn học, thơ ca từ góc độ ngôn ngữ - một góc độ dù đã được giới nghiên cứu
nhuyễn các lý thuyết quan hệ hệ hình, quan hệ cú đoạn… Bên cạnh đó, các cuốn
“Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” (2000), “Phong cách
học tiếng Việt hiện đại” (2001), “Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê
bình văn học” (2002) của tác giả này cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị
nền tảng, cơ sở cho việc nghiên cứu về văn học nói chung, thơ nói riêng từ phương
diện phong cách học của ngôn ngữ học.
Trong cuốn “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng Ngôn ngữ học” (Nhà xuất bản
Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, in lần 2, 2005), Mai Ngọc Chừ đã rất cẩn thận, tỉ mỉ
với một phương pháp làm việc logic, khoa học của ngôn ngữ học để khai thác tương
đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: Chức năng của vần, mối quan hệ của nó với
các yếu tố khác; Đơn vị hiệp vần, hai mặt đồng nhất và khác biệt của vần thơ; Vai
trò và quy luật phân bố các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần
thơ; Vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động của các loại vần trong các thể thơ,
khổ thơ, vần xét về mặt hòa âm. Đây là một trong những công trình khẳng định
được vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt, dù mới chỉ đi sâu
vào cấp độ vần thơ (có đặt vần thơ trong mối liên hệ với các hiện tượng khác như
nhịp điệu, ngữ điệu…, trong mối liên hệ với các câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, thậm
chí bài thơ). Đồng thời, công trình này cũng là một gợi ý và tạo cơ sở cho luận án
của chúng tôi khi nghiên cứu thơ Việt Nam thế kỷ XX ở nhiều cấp độ khác nhau:
bài thơ, khổ thơ, câu thơ.
Gần đây còn có các bài báo của Lý Toàn Thắng (“Thơ mới bảy chữ của Xuân
Diệu: khổ thơ và luật thơ” 223, tr 3-7, “Thử đo đếm thơ”, 224, tr 42->49), Trần
12
Đại Nghĩa (“Đọc mới bài thơ “Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan 193, tr
34->37), Vũ Duy Thông (“Ngôn ngữ Thơ mới và ngôn ngữ thơ kháng chiến” 235,
tr 52->57), Nguyễn Thế Lịch (“Ngữ pháp của thơ” 198, tr.58->64) cũng chú ý
đến ngôn ngữ thơ.
Bạch Cư Dị (đời nhà Đường, Trung Quốc) qua thư gửi Nguyễn Chẩn đã viết
“Cái gọi là thơ thì cảm hóa nhân tâm không gì bằng tình cảm. Không thể bắt đầu
bằng cái gì khác ngoài ngôn ngữ. Không gì thân thiết bằng âm thanh. Không gì sâu
sắc bằng nghĩa lý. Gốc của thơ là tình cảm. Lá của thơ là ngôn ngữ. Hoa của thơ là
âm thanh. Quả của thơ là nghĩa lý” (Văn nghệ số 5 ngày 10-12-1994).
Ở thời kỳ hiện đại cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thơ. Trong số đó
phải nói đến quan niệm về thơ của các nhà thơ, quan niệm về thơ của các nhà phê
bình, lí luận và quan niệm về thơ của những người nghiên cứu theo thi pháp học và
theo cách nhìn của nhà ngôn ngữ học.
* Quan niệm về thơ của các nhà thơ:
Bàn theo góc độ cảm hứng sáng tác, các nhà thơ có quan niệm về thơ như sau:
Nhà thơ Tố Hữu trong một lần trả lời phỏng vấn Lê Thọ Bình (theo Pháp Luật
Thành phố Hồ Chí Minh) đã nói rất ngắn gọn: “Thơ là cảm hứng. Cảm hứng thì nên
ghi lại”.
Theo phần trích dẫn của Mã Giang Lân trong 79, tr.17->18 thì: Lưu Trọng
Lư cho rằng “Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống”. Thanh Tịnh
cũng nghĩ: “Thơ là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm”. Tố Hữu
quan niệm: “Thơ biểu hiện tinh chất của cuộc sống”, “thơ là cái nhụy của cuộc
sống”, “Thơ là tiếng nói tri âm”, “Thơ là chuyện đồng điệu”. Sóng Hồng trong bài
Tựa tập Thơ của mình đã viết: “Thơ là biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp”. Có
thể nói, các quan niệm của các nhà thơ này đều theo hướng thơ gắn liền với cuộc
đời.
Theo Lê Quang Đức trong bài “Chế Lan Viên- tháp Bayon bốn mặt là ông?”
thì: “Chế Lan Viên một trong những người suy tư và viết về lao động thơ nhiều
nhất, ông thể hiện tất cả điều đó thành thơ:
“Thơ, thơ đong từng ngao như tát bể
Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời.”
Hiểu giá trị của thơ, ông là người trong suốt hành trình sáng tạo đã luôn tìm cách
tốt nhất để chuyển hóa chất liệu đời sống thành chất liệu tâm hồn bằng cách thầm
lặng đánh vật với câu chữ, ý tưởng như người phu chữ. Ông luôn tuân theo những
“Tôi đã già đi từ tiếng đầu đến tiếng cuối của bài thơ”.
Trong bài viết “Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ thơ Việt đương
đại”, Trần Ngọc Hiếu đã viết: “… họ định nghĩa “làm thơ tức là làm chữ”, hay cụ
thể hơn, “làm thơ tức là làm tiếng Việt” (Trần Dần), nhà thơ chính là “kẻ phu chữ”
(Lê Đạt). “Thơ cổ lai đặt ở tứ lạ, lời hay, hình ảnh đẹp, âm điệu ru hồn. Tôi giản dị
đồng nhất thơ vào chữ.” (Trần Dần)
Còn nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm khi trả lời phỏng vấn phóng viên Thu Hà của
Việt Nam net thì khẳng định: “Thơ ca cũng như tình yêu, không ép buộc được đâu,
khi gọi nó không đến nhưng khi đuổi thì nó không chịu đi. Bằng kinh nghiệm làm
15
thơ riêng của mình, tôi thấy những bài thơ hay lại ra đời trong hoàn cảnh chẳng thơ
chút nào”.
* Quan niệm về thơ của các nhà lí luận, phê bình
Phạm Quang Trung khẳng định: “Thơ là tình, nhưng là tình không tách rời ý.
Nếu chỉ là tình, dẫu là tình tột bậc, cũng không thể làm nên những vần thơ tuyệt bút.
Lê Hữu Trác xác định: “Thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Không phải bất cứ
điều gì cũng phải nói ra bằng thơ. Như thế mới là thơ có giá trị”120, tr.63. Còn Mã
Giang Lân thì định nghĩa: “Thơ là một thông báo thẩm mỹ trong đó kết hợp 4 yếu tố
Ý- Tình- Hình- Nhạc” 75, tr.19.
Rải rác ở một số bài viết trên internet có các quan niệm khác nhau về thơ của
một số nhà văn, nghệ sỹ hoặc nhà phê bình văn học. “Thơ dẫn chúng ta tới chỗ tập
trung kì lạ của năng lực tinh thần, đưa chúng ta vào vòng liên kết sống động đầy
cảm thông của đời sống, trong đó năng lực cảm thụ là yếu tố quyết định. Chỉ những
kẻ có khả năng tự mở lòng mình ra, như một bông hoa hồn nhiên ca hát, hay, như
đứa trẻ đứng bên đường, lặng lẽ mỉm cười bí mật, thì mới có thể học được nghệ
thuật cảm thụ. Thơ và nghệ thuật cảm thụ là người canh giữ tài giỏi nhất của tâm
hồn bạn qua những sự kiện đầy ấn tượng trong đời sống, sinh đẻ, cái chết, mất mát,
Phan Ngọc trong bài “Thơ là gì?” cũng viết: “Thơ là cách tổ chức ngôn ngữ
hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc, và phải suy nghĩ do
chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”, tức là đối lập hẳn với ngôn ngữ hàng ngày.
Tác giả muốn nêu lên một định nghĩa về thơ:
a. Có giá trị phổ quát, tức là áp dụng cho mọi hiện tượng gọi là thơ trên trái
đất này, bất chấp ngôn ngữ, thời gian, tập quán, trường phái…
b. Mang tính hình thức giúp người ta nhận diện được ngay thơ, không cần
phải có kinh nghiệm và hiểu biết nghệ thuật.
c. Giúp người ta nắm được thực chất của thơ, để làm thơ, đọc thơ và giảng
thơ có kết quả.” 79, tr.18
Theo Nguyễn Hữu Đạt trong 32, tr.25 thì: “Thơ là một thể loại của văn học
được trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất với các tổ chức ngôn ngữ
có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ nhằm phản ánh cuộc
sống tập trung và khái quát nhất, dưới dạng các hình tượng nghệ thuật”.
Trong 148, tr.58->63, Hữu Đạt khẳng định: “Nói tới thơ ca là chúng ta
đụng chạm tới một loại văn bản có tính hình thức khá đặc biệt. Đặc điểm đó không
những được thể hiện ở việc sử dụng các đơn vị từ ngữ, cú pháp mà còn ở sự hoạt
động của mỗi loại đơn vị ngôn ngữ trong khi thực hiện các chức năng của mình. Ở
loại văn bản này, có nhà nghiên cứu nhận xét, ngôn ngữ không những là cái để nói
về đối tượng mà còn là cái để nói về chính mình. Nói một cách khác, ngôn ngữ
không chỉ là công cụ nhận thức đối tượng mà còn là công cụ nhận thức của công cụ
nhận thức.” “Thơ là loại văn bản nghệ thuật có tổ chức ngôn ngữ bằng cách lắp
17