Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống trên truyền hình Hải Phòng : Luận văn ThS. Báo chí và truyền thông: 603201 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ BÍCH LIÊN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG TRÊN
TRUYỀN HÌNH HẢI PHÕNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRẦN THỊ BÍCH LIÊN

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRÊN
TRUYỀN HÌNH HẢI PHÕNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã ngành: 60.32.01.01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:TS Đỗ Anh Đức

3.1 Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 12
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: ................................................................................... 12
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu....................................................................... 13
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:................................................................................ 13
5.1. Phƣơng pháp luận:........................................................................................ 13
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể: .................................................................. 14
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài ............................................................. 16
6.1 Ý nghĩa lý luận: ............................................................................................. 16
6.2 Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................... 16
7. Kết cấu luận văn .............................................................................................. 17
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ DI SẢN VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG “BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG’ ..................................... 18
1. Các khái niệm cơ bản ...................................................................................... 18
1.1 Khái niệm Di sản văn hóa và Di sản văn hóa truyền thống ......................... 18
1.2 Tổng quan về hệ thống di sản văn hóa ở Hải Phòng..................................... 24
1.3 Vai trò của báo chí với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống .. 28
TIỂU KẾT CHƢƠNG I ...................................................................................... 35
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN TRÊN SÓNG THP CỦA ĐÀI
PT&TH HẢI PHÒNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG .............................................................................................. 36
2.1 Vài nét về Đài PT &TH Hải Phòng ............................................................. 36

1


2.2 Toàn cảnh di sản văn hóa truyền thống địa phƣơng đƣợc phản ánh qua sóng
THP của Đài PT&TH Hải Phòng ........................................................................ 39
2.3 Thực trạng phản ánh trong « bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền
thống » trên sóng THP trong thời gian khảo sát ................................................. 45


:

Biên tập viên

DCT

:

Dẫn chƣơng trình

KGVH

:

Không gian văn hóa

LSVH

:

Lịch sử văn hóa

PT- TH

:

Đài Phát thanh & Truyền hình

PTV

Bảng 4: : Đánh giá của công chúng về chất lƣợng hình thức các chƣơng trình,
KGVH
Bảng 5: Mức độ tƣơng tác của công chúng với chƣơng trình KGVH

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hải Phòng là vùng đất cổ, con ngƣời sinh sống từ lâu đời và là vùng đất lấn
biển qua nhiều thế kỷ với lớp lớp cƣ dân khác nhau ở khắp nơi về sinh sống. Sự
hình thành và phát triển của Hải Phòng gắn liền với các chứng tích của ngƣời
tiền sử ở di tích khảo cổ Cái Bèo trên đảo Cát Bà với niên đại cách ngày nay từ
khoảng 7000 đến 4000 năm, con ngƣời đã sống ở đây, săn bắt và đánh cá.
Các chứng tích của con ngƣời ở di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh huyện Thủy
Nguyên, núi Voi huyện An Lão cách ngày nay từ khoảng 3000 đến 2000 năm.
Các bộ lạc sinh sống trên mảnh đất này còn là cƣ dân nông nghiệp trồng lúa, qua
các hiện vật tìm thấy ở Việt Khê là một trong năm mộ đóng hình thuyền ở Việt
Khê có 107 hiện vật, trong đó có 93 hiện vật đồng gồm công cụ sản xuất, vũ khí,
nhạc khí.
Lịch sử Hải Phòng gắn liền tên tuổi của nữ tƣớng Lê Chân - ngƣời lập
trang An Biên vào đầu công nguyên, cái nôi hình thành nên đô thị Hải Phòng
ngày nay. Khu vực nội thành Hải Phòng cũng là một quá trình chuyển đổi từ
vùng đất nằm giữa kênh rạch tạo thành xóm làng rồi trở thành thành phố.
Quá trình hội tụ cƣ dân từ khắp nơi cũng là quá trình hội tụ văn hóa. Những
nét đặc sắc của văn hóa nhiều miền đã hòa trộn đan xen với nhau tạo nên sắc
thái riêng biệt về truyền thống văn hóa phong phú và đa dạng của Hải Phòng.
Hải Phòng có hệ thống di tích nhiều về số lƣợng, phong phú đa dạng về
loại hình di tích cũng nhƣ đa dạng về tín ngƣỡng ẩn chứa trong di tích. Vùng đất
có đầy đủ bậc nhất cả nƣớc về loại hình di tích mà Luật di sản văn hóa đã phân

Đài Phát thanh & truyền hình ( PT – TH ) Hải Phòng là cơ quan báo chí lớn
của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phƣơng phải đảm nhiệm vai trò là
cầu nối thông tin, truyền tải các giá trị văn hóa của địa phƣơng đến công chúng
trong và ngoài nƣớc. Những nét đẹp văn hóa, những truyền thống nhân văn có
giá trị của thành phố Hoa phƣợng đỏ cần đƣợc truyền bá, lƣu giữ và phát huy.
Tuy nhiên, có thể thấy rằng, sự hiểu biết của du khách, thậm chí của cả
ngƣời dân địa phƣơng về Hải Phòng phần nhiều chỉ dừng lại ở quần thể danh
6


lam thắng cảnh biển, những khu nghỉ mát bao gồm Biển Đồ Sơn, Đảo Cát
Bà…trong khi đó kiến thức và hình ảnh về di sản văn hóa vật thể: hệ thống di
tích LSVH bao gồm đình, chùa, miếu…và di sản văn hóa phi vật thể: các lễ hội
văn hóa, các trò chơi dân gian, ẩm thực, làng nghề….vẫn chƣa thực sự nhiều và
đầy đủ. Hiểu biết và yêu thích là một trong những nền tảng cơ bản để bào tồn và
phát huy, chính vì vậy, để bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống của
địa phƣơng cần sự góp sức rất lớn của các phƣơng tiện truyền thông đại chúng,
trong đó báo chí đóng vai trò quan trọng nhất trong việc tuyên truyền, quảng bá,
giới thiệu, cũng nhƣ phân tích, phê bình để công chúng có thể nắm bắt đƣợc cái
hay, cái đẹp, cái đáng quý cần đƣợc lƣu giữ.
Những năm qua, trên sóng THP của Đài Phát thanh và Truyền hình Hải
Phòng (PTTH) đã có khá nhiều các chuyên mục, bài viết…. liên quan đến vấn
đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa truyền thống. Thế nhƣng, với
sự phát triển đa dạng của các chƣơng trình giải trí, cũng nhƣ nhịp sống đô thị với
nhiều mối quan tâm nhƣ hiện nay, số lƣợng và chất lƣợng các bài viết cũng nhƣ
các chuyên mục đó đã đủ để thu hút và tác động đến nhận thức của ngƣời dân
đặc biệt là những bạn trẻ - thế hệ tƣơng lai, những ngƣời sẽ nối tiếp việc lƣu giữ
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của quê hƣơng hay chƣa? Đó là câu
hỏi, cũng nhƣ băn khoăn của những ngƣời làm văn hóa, du lịch và cả những
ngƣời làm truyền thông, bởi lẽ nếu không làm tốt và có hiệu quả công tác này,

Nam” [28] là kết quả nghiên cứu của hai tác giả tổng hợp qua các bài viết đƣợc
đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa Việt
Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dƣới sự chỉ đạo của Đảng: “Xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn
diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ
tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm nhuần vào toàn bộ đời sống
xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của
phát triển”.
Chu Thái Thành trong bài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”
[43] khẳng định từ xƣa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức sống
mãnh liệt, giúp cộng đồng ngƣời Việt Nam vƣợt qua biết bao thử thách khắc
8


nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh. Nhận thức đƣợc tầm
quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên tối đa
nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc,
đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con ngƣời trong điều kiện đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tác giả Ngô Phƣơng Thảo trong bài “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ những
góc nhìn” [44] đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ di sản văn hóa hiện nay.
Theo tác giả thì “Mỗi ngày, di sản văn hóa càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất
phát từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về trách
nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu
rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương trình dự
án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể và
phi vật thể”.
Riêng với mảng đề tài báo chí với công tác bảo tồn và phát triển di sản văn hóa
cũng đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu. Với các tên gọi khác nhau, rất
nhiều luận văn, khóa luận của sinh viên ngành báo chí cũng đã tiếp cận đề tài

lịch triển khai đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: Nghiên cứu và đề xuất
giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng do CN. Lê
Tất Vinh làm chủ nhiệm. Đề tài tiến hành khảo nghiệm làng văn hóa, hệ thống
các văn bản tài liệu từ những văn bản do thành phố ban hành có liên quan đến
công tác xây dựng làng văn hóa; kinh nghiệm xây dựng làng văn hóa ở một số
địa phƣơng; đồng thời xác định những điểm khoa học cơ bản đối với công tác
xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng.
Năm 2009, Chƣơng trình nghiên cứu khoa học phục vụ triển khai Nghị
quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố đã triển khai nhiều chuyên đề, trong đó
Chuyên đề 8: Nghiên cứu đề xuất chủ trƣơng, giải pháp chủ yếu xây dựng và
phát triển văn hoá đến năm 2010 và 2020 để văn hoá thật sự là nền tảng tinh
thần xã hội là công trình nghiên cứu các giải pháp về việc xây dựng và phát triển
văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chuyên đề đã
đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống nhƣng mới
chỉ nghiên cứu việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, đặc biệt là
10


bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử - văn hóa. Năm 2011, Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn Hải Phòng tiến hành nghiên cứu đề tài: Điều traặp
những khó khăn, trở ngại trong quá trình tác nghiệp, đó là do mối quan hệ, cộng
tác giữa ngành, cơ quan chủ quản, địa phƣơng với Đài trong việc tuyên truyền
bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa thời gian qua chƣa có sự phối hợp
chặt chẽ và không kịp thời nên chƣa thể có nhiều chƣơng trình PT.TH, Phim Tài
128


liệu, Phóng sự, Tin, bài về nhiều mảng màu cuộc sống của Đất và Ngƣời Hải
Phòng, đặc biệt là thực hiện các Đề tài về Di Sản văn hóa ở địa phƣơng sở tại…
Do đó, sự phong phú về nội dung, đề tài vẫn chƣa đƣợc khai thác một cách hiệu

chỉ quy định để các trƣởng ban biên tập duyệt trƣớc khi Ban Giám đốc kí phát
sóng. Khi có lệnh duyệt file KTV gửi file thành phẩm cho bộ phận truyền dẫn
phát sóng tới khán thính giả.
Câu 2. Theo ông tác nghiệp hậu kỳ ở đề tài mảng văn hóa, đặc biệt là di
sản văn hóa truyền thống có những nét đặc trưng khác biệt nào khi so sánh với
tác nghiệp mảng thời sự, kinh tế, văn nghệ..?
- Mỗi một thể loại hậu kì đều có những đặc thù khác nhau
+ Thời sự: Hậu kì dựng đảm bảo nhanh, gọn chính xác thông tin chuyển tải
(ít khi dùng nghiệp vụ kĩ thuật
+ chuyên đề Kinh tế: Hậu kì dựng mang tính chất phản ánh hơi thở của các
lĩnh vực sản xuất, kinh tế lên màn hình
+ Văn nghệ: Hậu kì mang tính nghệ thuật, có tính ẩn dụ, minh họa cho tác
phẩm đó
+ Văn hóa:
Vừa mang tính phản ảnh hơi thở cuộc sống vừa mang tính nghệ thuật (nhất
là mảng văn hóa truyền thống)
Cụ thể : - Khi tác nghiệp hậu kì một chƣơng trình bảo tồn văn hóa truyền
thống : KTV và Phóng viên cần nghiên cứu và thảo luận sâu về chƣơng trình từ
đó thống nhất hình thành đƣờng dây dựng chƣơng trình (cụm hình).
- Nếu là chƣơng trình có tính di sản văn hóa truyền thống thì nhất thiết
phải có minh họa (3D) hoặc kỹ sảo ẩn dụ, mục đích khái quát nổi bật giai đoạn
lịch sử của từng thời kì nhằm giúp cho ngƣời xem hiểu rõ văn hóa lịch sử miền
đất con ngƣời giai đoạn đó.
- Ví dụ : Dựng 01 chƣơng trình tái hiện miền đất lịch sử trận chiến tại
ngã ba Sông Bạch Đằng chống quân Nguyên Mông... nhất thiết phải có sơ đồ
minh họa + vẽ 3D hình ảnh địa danh ... nhất là tái hiện các trận chiến trên dòng
sông lịch sử (nƣớc thủy triều, thuyền giặc, thuyền quân ta, tƣớng sĩ ...và đặc biệt
là hình ảnh cọc gỗ bịt sắt... khi nƣớc thủy triều xuống ... quân ta đánh đuổi ..
thuyền giặc bị cọc đâm thủng ... Thoát Hoan phải bỏ chạy chui ống đồng...)
131

Câu 1: Thưa anh, tác nghiệp ở đề tài mảng văn hóa, đặc biệt là di sản văn
hóa truyền thống có những nét đặc trưng khác biệt nào khi so sánh với tác
nghiệp mảng thời sự, kinh tế, văn nghệ..?
Là một phóng viên quay phim tham gia tác nghiệp ở nhiều lĩnh vực và
mảng khối khác nhau, tôi nhận thấy ngƣời quay phim ở đề tài văn hóa có sự
khác biệt rất lớn, với tính chất đặc thù có yêu cầu tính nghệ thuật cao nên đòi hỏi
ngƣời quay phim phải biết khéo léo kết hợp và sử dụng nhuần nhuyễn các yếu
tố: bố cục hình ảnh, nghệ thuật ánh sáng, nghệ thuật sử dụng màu sắc và cách
tạo hình ống kính.
Chúng ta không thể phủ định giá trị nghệ thuật của hình ảnh trong bất kỳ
thể loại tác phẩm truyền hình nào. Tuy nhiên, giá trị nghệ thuật đó đuợc bộc lộ
ở mức độ nào thì cần so sánh ở các thể loại truyền hình khác nhau. Với các tác
phẩm ở mảng thời sự hay kinh tế, tính nghệ thuật của hình ảnh không cao do sự
tác động của môi truờng để tạo nên tác phẩm, điều kiện sáng tác không cho phép
chúng ta có thể có đủ thời gian, không gian để sáng tạo và làm nên những cái
đẹp trong hình ảnh đƣợc, đặc biệt, hình ảnh đòi tính chính xác cao, cụ thể và
chính xác. Thƣờng quay phim sẽ phải sử dụng các cảnh fix để tiết kiệm thời gian
và để phù hợp với không gian cho phép. Về ánh sáng, ngƣời quay phim sẽ có rất
ít không gian và thời gian để có thể thể hiện việc “ chơi sáng” những góc đặt đèn
thƣờng đơn giản nhƣng phải làm nổi bật đƣợc nhân vật. Nhƣ chúng ta đã nói sự
kiện là cái tạo nên giá trị của tác phẩm trong khi thời gian và không gian không
cho phép chúng ta có khoảng trống để sáng tạo những hình ảnh nghệ thuật trong
sản phẩm vì chúng ta phải chú trọng tập trung khai thác những hình ảnh “ đắt”
để thể hiện đựoc sự ảnh huởng của nó đối với cộng đồng.
Ngƣợc lại, các chƣơng trình ở mảng văn hóa, đặc biệt nội dung về các di
sản văn hóa truyền thống, thì đây là một thể loại tác phẩm truyền hình có “đất”
để sáng tạo hình ảnh. Góc máy của quay phim có thể linh hoạt hơn, từ góc cao
133





- Máy móc thiết bị còn chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của các
chƣơng trình: máy quay chƣa full chuẩn HD, các thiết bị hỗ trợ nhƣ boom hay
ray, ánh sáng chƣa đồng bộ, khiến cho chất lƣợng hình ảnh không đƣợc sắc nét,
độ phân giải không cao;
- Một ngƣời quay phim phải quay nhiều thể loại khác nhau, nhƣ tin tức thời
sự hằng ngày, các chuyên đề, chuyên mục kinh tế và xã hội nên ngƣời quay
phim chuyên biêt về đề tài văn hóa là không có, kéo theo chất lƣợng các chƣơng
trình không đồng đều nhau;
- Quá trình sản xuất các chƣơng trình về văn hóa đòi hỏi ngƣời quay phim
phải đầu tƣ công sức và thời gian khá lớn, tìm ra những góc máy độc và đẹp,
những hiệu ứng ánh sáng có chất lƣợng; trong khi đó, quy trình sản xuất các
chƣơng trình truyền hình không cho sản xuất quá lâu, chính vì vậy, sự cẩu thả
trong quá trình quay có diễn ra, làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng hình ảnh.
Câu 3, Đề xuất của anh để nâng cao chất lượng chương trình mảng văn
hóa, đặc biệt là chương trình về di sản văn hóa truyền thống?
Trƣớc sự phát triển nhanh nhƣ vũ bão về công nghệ của mọi loại hình báo
chí, những tác phẩm phát thanh, truyền hình sản xuất theo lối cũ ít có khả năng
thu hút sự chú ý, theo dõi của ngƣời nghe, ngƣời xem. Trong xu thế ấy, bản thân
những ngƣời làm truyền hình, đặc biệt là các quay phim cần chuyển mình theo
xu hƣớng báo chí hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu thời cuộc, thỏa mãn nhu cầu
thông tin, giải trí của công chúng, đồng thời nâng cao chất lƣợng hình ảnh.
Theo tôi nghĩ, chúng ta cần phải đầu tƣ, mua sắm hàng loạt trang thiết bị
hiện đại phục vụ cho sản xuất chƣơng trình truyền hình, nhƣ: Máy quay HD,
Flycam, ray, cẩu, màn hình Led, âm thanh, ánh sáng…., chi phí sản xuất các tác
phẩm phát thanh, truyền hình cần đƣợc nâng cao… bởi, đặc thù các chƣơng
trình về đề tài văn hóa có những yêu cầu hết sức khắt khe về hình ảnh, nội dung;
đòi hỏi cần có ê kip sản xuất chuyên nghiệp, giàu tâm huyết; nhiều thiết bị hỗ
trợ; thời gian sản xuất kéo dài với nguồn kinh phí lớn.

giao lƣu tổng hợp ở thể loại báo hình. Ngay từ khi ra format chƣơng trình chúng
tôi đã kết hợp đƣợc ở đây cả 3 thể loại: phóng sự ngắn, bình luận và giao lƣu.
Kết cấu này cho khán giả những cái nhìn tổng thể,thực tế và trực diện hơn vào
một di sản nào đó chúng tôi cần hƣớng tới. Tình hình bảo tồn, thực trạng di tích,
vẻ đẹp của di tích...rõ ràng bạn dễ nhìn thấy nó hơn là 1 tác phẩm báo viết.
Các clip sinh động với âm nhạc, với sự xuất hiện của phóng viên taị hiện
trƣờng sẽ làm cho khán giả dễ hòa mình vào không gian đa chiều, càng gần gũi
với thực tế càng hấp dẫn sinh động hơn.
Mạng lƣới cộng tác viên của KGVH là những nhà nghiên cứu văn hóa,
những nhà lịch sử, nhà Hải Phòng học yêu và tâm huyết với các di sản văn hóa
truyền thống tại địa phƣơng-đây chính là kho tàng “báu vật sống” để văn hóa
của chúng ta đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác; những câu chuyện,
những kiến thức của họ sẽ làm cho chƣơng trình có mạch nguồn và sâu sắc hơn.
Đây cũng là cơ sở, là tiền đề cho những thông tin chúng tôi đƣa vào mục “góc
nhìn” để định hƣớng dƣ luận, thái độ của khán giả góp phần thực hiện chức năng
giáo dục, định hƣớng của báo chí.

137


Một phần không thể thiếu đƣợc của KGVH đó là những ngƣời dân địa
phƣơng, những nghệ nhân tâm huyết thiết tha với di sản văn hóa của quê hƣơng
mình-đây cũng là những yếu tố làm nên thành công của tác phẩm; Họ không chỉ
giúp chúng tôi có thêm tƣ liệu mà còn tạo điều kiện, thêm nguồn cảm hứng để
chúng tôi có thêm đề tài, hoàn thành tác phẩm một cách xuất sắc.
Trong bối cảnh đổi mới tại Đài PT&TH Hải Phòng thì xu hƣớng bố trí ê
kip thực hiện chƣơng trình theo kịch bản cũng là một lợi thế, sự ăn ý trong khâu
lên kịch bản, đạo diễn, biên tập, quay phim, dựng hậu kỳ sẽ làm cho KGVH với
mảng đề tài về di sản văn hóa truyền thống ngày càng hoàn thiện hơn.
Câu 2: Theo chị phóng viên tác nghiệp ở mảng di sản văn hoá có những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status