ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------------------------------
ĐỖ THỊ THU HƢỜNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH TRÌ (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------
ĐỖ THỊ THU HƢỜNG
ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH TRÌ (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng
HÀ NỘI - 2016
Huyện ủy Thanh Trì – nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn
bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khóa học.
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Đỗ Thị Thu Hường
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
Ban Chấp hành
CNH – HĐH
Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
ĐHKHXH & NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
HĐND
Hội đồng nhân dân
HTX
Hợp tác xã
NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 ................................................ 12
1.1. Các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Thanh
Trì và chủ trương của Đảng bộ ................................................................. 12
1.1.1. Các yếu tố tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp của
huyện Thanh Trì .................................................................................... 11
1.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ
huyện Thanh Trì ........................................................................... 25
1.2. Quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện
Thanh Trì ......................................................................................................... 35
1.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản
xuất hàng hóa........................................................................................ 35
1.2.2. Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào nông nghiệp ........... 42
1.2.3. Chú trọng các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp ................ 43
1.2.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp ......................... 44
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................. 46
1
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN THANH TRÌ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 .... 47
2.1. Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Thanh Trì .................... 47
2.1.1. Yêu cầu mới: ............................................................................... 47
2.1.2. Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện
Thanh Trì .............................................................................................. 49
2.2. Quá trình chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ
huyện Thanh Trì .............................................................................................. 56
2.2.1. Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa ...................................................................... 56
2.2.2. Chú trọng phát triển mô hình kinh tế trang trại ......................... 61
2.2.3. Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp ............................ 67
nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm đổi mới chính sách phát triển
nông nghiệp. Ngay khi cách mạng mới giành được thắng lợi, ngày 07/12/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên báo “Tấc đất” số đầu tiên là: “Loài người
ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước cần phải ăn), nước ta thì “dĩ nông vi
bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân muốn ăn no phải giồng giọt cho
nhiều. Nước muốn giầu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp. Do đó, Đảng
và Nhà nước ta xác định việc phát triển kinh tế nông nghiệp “là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu” và phải tiếp tục đổi mới đường lối phát
triển nông nghiệp theo hướng phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng đã đề ra nhiều chủ
trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là Nghị quyết
Trung ương bảy, khóa X (7 - 2008), đánh dấu mốc sự phát triển tư duy của
Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Trải qua quá trình hoàn thiện và đổi mới từng bước, nền nông nghiệp Việt
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tạo tiền đề và cơ sở bước
đầu cho công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Là một huyện nằm ở trung tâm phía Nam thủ đô Hà Nội, huyện Thanh
Trì có đặc thù nổi bật là có tốc độ đô thị hoá nhanh. Năm 1995, huyện Thanh
Trì gồm có 25 xã và 01 thị trấn, kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất
4
nông nghiệp. Từ tháng 01/2004, đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính trong
điều kiện tốc độ đô thị hóa nhanh trên địa bàn Hà Nội, Thanh Trì chuyển 9 xã
cùng 5 phường của quận Hai Bà Trưng để thành lập quận Hoàng Mai. Hiện
nay, Thanh Trì còn 15 xã và 01 thị trấn với diện tích đất tự nhiên 6.349,28 ha,
trong đó diện tích đất nông nghiệp là 3.349,8ha; dân số trên 23 vạn người, số
người sống ở nông thôn trên 200.000 người với 8.487 hộ nông nghiệp. Cơ cấu
kinh tế của huyện phát triển theo hướng Công nghiệp - Thương mại dịch vụ Nông nghiệp. Hiện nay, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn huyện diễn ra nhanh
nước trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đáng chú ý là các công trình
khoa học của PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc (1995), “Nông nghiệp Việt Nam
1945 – 1995”, Nxb Thống kê, Hà Nội: đã nghiên cứu về điều kiện sản xuất,
quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất; kết quả và hiệu quả kinh tế của cả nước,
từng vùng, từng địa phương từ năm 1945 đến năm 1995 trong lĩnh vực nông
nghiệp. Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc còn nghiên cứu về nông
nghiệp, nông thôn qua công trình: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ
đổi mới 1986-2002”, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội (năm 2003). Tác giả
nghiên cứu về thực trạng nông nghiệp nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới,
các vấn đề đặt ra và các giải pháp, đặc biệt tác giả đã thống kê được số liệu
nông nghiệp nông thôn Việt Nam hàng năm. Nguyễn Văn Bích (2007), “Nông
nghiệp, nông thôn sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ và hiện tại”, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội: đã phản ánh đầy đủ, toàn diện, thống kê số liệu
qua các thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng qua công trình nghiên cứu. Bùi Huy Đáp (1996), “Nông
nghiệp Việt Nam từ cội nguồn đến đổi mới”, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà
Nội: nghiên cứu về quá trình phát triển của nông nghiệp Việt Nam qua các
giai đoạn lịch sử; nông nghiệp truyền thống và kinh nghiệm làm nông nghiệp;
sự đổi mới (công nghiệp hóa, hiện đại hóa) của nền nông nghiệp Việt Nam.
6
Nguyễn Kim Sơn (2008), “ Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam–
hôm nay và mai sau”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội: đã làm rõ thực trạng
về nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay, những thành tựu, những khó
khăn còn tồn tại. Từ đó, tác giả Nguyễn Kim Sơn đã đề xuất, kiến nghị nhằm
đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển.
Thứ hai, các bài báo, công trình khoa học công bố trên các tạp chí
khoa học như: Vũ Văn Phúc (1999), “Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, số 7 (4/1999). Nguyễn
(2014), “Đảng bộ huyện Hoài Đức (tỉnh Hà Tây) lãnh đạo kinh tế nông
nghiệp từ năm 1996 đến 2008”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường ĐHKHXH
và NV, ĐHQG Hà Nội. Nguyễn Thị Thoa (2014), “Đảng bộ huyện Mỹ Đức
(tỉnh Hà Tây) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến 2008”, Luận
văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội. Nguyễn Văn
Lành (2015), “Đảng bộ huyện Quốc Oai (Hà Tây) lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2008”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường
ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội. Nguyễn Văn Hoan (2015), “Đảng bộ
huyện Thường Tín (Hà Tây) lãnh đạo phát triển kinh tế từ năm 1996 đến năm
2008”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.
Phùng Xuân Huy (2015), “Đảng bộ huyện Mê Linh (thành phố Hà Nội) lãnh
đạo phát triển kinh tế từ năm 2008 đến năm 2013”, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,
Trường ĐHKHXH và NV, ĐHQG Hà Nội.
Một số công trình đề cập đến kinh tế nông nghiệp huyện Thanh Trì như:
Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Trì (2011), “Lịch sử Đảng bộ huyện
Thanh Trì (1930 – 2010)”, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật. Ban Chấp hành
Đảng bộ huyện Thanh Trì (2010), “Thanh Trì trên đường đổi mới”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thanh Trì (2011),
“Thanh Trì 50 năm xây dựng và phát triển (31/5/1961 - 31/5/2011)”.
8
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến đường lối, chủ trương của
Đảng về nông nghiệp qua các thời kỳ lịch sử; trình bày và đánh giá chủ
trương, quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ thành
phố Hà Nội và Đảng bộ một số huyện ngoại thành Hà Nội trong thời kỳ đổi
mới. Từ nhiều khía cạnh khác nhau, các công trình đã trình bày và phân tích
sự phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng trong từng
thời kỳ lịch sử, chỉ ra những chủ trương và biện pháp của Đảng và Nhà nước
trong lãnh đạo công tác phát triển kinh tế nông nghiệp. Đây là những tài liệu
- Không gian: Địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2015. Mốc thời gian nghiên cứu năm
2006 vì là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Thanh
Trì lần thứ XXI (nhiệm kỳ 2005 – 2010) và đây là Đại hội đầu tiên sau khi
Thanh Trì chia tách địa giới hành chính (chuyển 9 xã cùng 5 phường của quận
Hai Bà Trưng để thành lập quận Hoàng Mai).
- Nội dung: Trong phạm vi Luận văn, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu
các vấn đề liên quan tới phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Thanh Trì từ
năm 2006 đến năm 2015 với trọng tâm nghiên cứu là: chủ trương và các biện
pháp của Đảng bộ huyện Thanh Trì chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành nông nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp,
xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp, chú trọng áp dụng mô hình
kinh tế hiệu quả trong nông nghiệp.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu:
- Các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam
lần thứ IX, X; XI. Các Nghị quyết của hội nghị Trung ương và các Chỉ thị của
Ban Bí thư Trung ương Đảng liên quan đến kinh tế nông nghiệp.
10
- Các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch của Đảng bộ thành phố Hà Nội về
phát triển kinh tế nông nghiệp.
- Các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết về tình hình kinh tế nông
nghiệp của Huyện uỷ, UBND và một số ban, ngành của huyện Thanh Trì.
- Một số sách và công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu:
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài việc sử dụng
các phương pháp chính của khoa học lịch sử như phương pháp lịch sử,
* Điều kiện tự nhiên:
Vị trí địa lý:
Huyện Thanh Trì nằm ở phía Nam thành phố Hà Nội, phía Bắc và Tây
Bắc giáp quận Hoàng Mai và quận Thanh Xuân, phía Đông giáp huyện Gia
Lâm và tỉnh Hưng Yên qua sông Hồng, phía Nam giáp huyện Thường Tín,
phía Tây và Tây Nam giáp huyện Thanh Oai và quận Hà Đông.
Ngày 31/5/1961, theo Quyết định số 78/CP của Hội đồng Chính phủ, Hà
Nội mở rộng lần thứ nhất, 10 xã của Quận VII hợp nhất với 11 xã và 01 thị
trấn của huyện Thanh Trì (Hà Đông cũ) để thành lập nên huyện Thanh Trì,
một trong bốn huyện ngoại thành Hà Nội. Năm 1979, Hà Nội mở rộng lần thứ
hai, huyện Thanh Trì tiếp nhận thêm các xã Liên Ninh, Ngọc Hồi, Đại Áng,
Tả Thanh Oai, Hữu Hòa. Năm 1991, xã Hoàng Văn Thụ chuyển về quận Hai
Bà Trưng. Năm 1997, xã Khương Đình chuyển về quận Thanh Xuân. Theo
Nghị định số 132/2003/NĐ-CP, ngày 6/11/2003 của Chính phủ, huyện Thanh
Trì chuyển giao 09 xã: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Yên Sở,
Trần Phú, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam để thành lập quận mới Hoàng Mai.
Từ tháng 1/2004, huyện Thanh Trì còn 15 xã và 01 thị trấn gồm: Tân Triều,
Thanh Liệt, Tam Hiệp, Tứ Hiệp, Tả Thanh Oai, Hữu Hòa, Vĩnh Quỳnh, Đại
12
Áng, Liên Ninh, Đông Mỹ, Ngọc Hồi, Ngũ Hiệp, Vạn Phúc, Yên Mỹ, Duyên
Hà và thị trấn Văn Điển, với diện tích 6.349,28 ha, dân số trên 23 vạn người.
Địa hình:
Thanh Trì là vùng đất trũng ven đê của thành phố Hà Nội, có độ cao
trung bình từ 4,5m đến 5,5m. Địa hình biến đổi dốc nghiêng dần từ Bắc
xuống Nam và từ Đông sang Tây, có thể chia làm 2 vùng địa hình chính sau:
Vùng bãi ven đê sông Hồng: có diện tích khoảng 1.174 ha, chiếm
18,70% diện tích tự nhiên, độ cao trung bình của vùng là 7 - 9m trong đó các
độ thủy văn của sông Hồng chia làm hai mùa: mùa khô và mùa lũ với biên độ
dao động mực nước rất lớn, từ dưới 2m đến trên 11,5m (báo động cấp 3), việc
thoát nước vào sông Hồng trong mùa lũ bắt buộc phải dùng bơm động lực.
Sông Hồng có lượng nước trung bình năm khoảng 1.220 x 109m3; trong đó,
mùa lũ lưu lượng nước chiếm tới 72,5%; vào tháng 7 mực nước trung bình là
9,2m, lưu lượng là 5.990m3/s (lúc lớn nhất lên tới 22.200m3/s) trong khi đó
mực nước trung bình năm là 5,3m với lưu lượng 2.309m3/s. Trong mùa lũ
nước sông Hồng dâng lên cao, mặt nước sông thường cao hơn mặt ruộng từ
6m – 7m; vào mùa kiệt mực nước trung bình khoảng 3m với lưu lượng 927
m3/s. Chế độ thủy văn của sông Nhuệ: Sông Nhuệ chảy qua phía Tây và Tây
Nam của huyện với chiều dài khoảng 10km, sông Nhuệ có nhiệm vụ tưới tiêu
cho các tỉnh Hà Nam và thủ đô Hà Nội trong đó có khu vực trong đê của
huyện Thanh Trì. Lưu lượng nước sông Nhuệ ở đầu nguồn từ 26 - 150 m3/s,
mực nước ở hạ lưu đập Hà Đông) từ 4,5m - 5,2m. Ngoài ra, chế độ thủy văn
của huyện còn chịu ảnh hưởng bởi sông Tô Lịch chảy qua địa bàn huyện với
chiều dài khoảng 17,7km, với chức năng chủ yếu là thoát nước mưa, nước
thải cho khu vực nội thành thành phố Hà Nội và khu vực huyện Thanh Trì.
Về đất đai: toàn huyện có 6 loại đất chính:
14
- Đất phù sa không được bồi và glây yếu: phân bố ở những nơi có địa
hình cao và trung bình. Đất có màu nâu tươi và nâu xám, pH từ trung tính đến
ít chua thành phần cơ giới từ cát pha đến nặng, các chất dễ tiêu.
- Đất phù sa không được bồi và glây: nằm ở nơi có địa hình thấp. Đất có
thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng.
- Đất phù sa ít được bồi, trung tính, kiềm yếu: thành phần cơ giới cát
pha, khả năng giữ màu, giữ nước kém và không bị chua.
- Đất phù sa không được bồi, glây mạnh: nằm ở nơi trũng, lòng chảo,
hàng năm bị ngập nước liên tục vào mùa hè, nên đất thường ở trong tình trạng
lao động của huyện năm 2015 là 145.863 người, chiếm 66,76% dân số. Với
sự phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, cùng với sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ thì yêu
cầu nguồn nhân lực phải được đào tạo có chất lượng. Vì vậy, nguồn lao động
của huyện cần được quan tâm đào tạo để đáp ứng nhu cầu lao động có trình
độ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của huyện.
Bảng 1.1. Hiện trạng dân số và lao động huyện Thanh Trì năm 2015
STT
1
2
-
3
Chỉ tiêu
Đơn vị
Số lượng
Tổng số nhân khẩu
Khẩu
218.483
- Nông nghiệp
Khẩu
- Nông nghiệp
Lao động
022.842
- Phi nông nghiệp
Lao động
123.021
Nông nghiệp
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Thanh Trì năm 2015)
16
Từ năm 2010 đến năm 2015, nguồn lao động của huyện tăng bình quân
là 1,06%. Tốc độ tăng lao động chủ yếu là do mức sinh khá cao của những
năm trước đây, ngoài ra còn do dòng lao động từ các tỉnh khác di cư tự do
đến. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 28 triệu đồng/người/năm.
Tỷ lệ hộ giàu tăng từ 26% năm 2010 lên 29,8% năm 2015; tỷ lệ hộ nghèo
giảm từ 3,38% năm 2010 xuống còn 0,4% năm 2015.
Truyền thống lịch sử:
Thanh Trì là vùng đất thiêng, là nơi đất lành chim đậu, từ rất sớm đã có con
người đến quần tụ nên đã tạo cho mảnh đất và con người nơi đây những giá
trị văn hoá truyền thống tốt đẹp.
Thanh Trì có con người cư ngụ từ cuối thời đại đồ đá mới, đầu thời đại
tiến lên làm cách mạng XHCN, các tầng lớp nhân dân Thanh Trì đoàn kết một
lòng dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân
dân Thanh Trì đã kiên cường bất khuất cùng cả nước đấu tranh giành chính
quyền và tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ đi đến thắng lợi cuối cùng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, Thanh Trì đã đóng góp xứng đáng vào công
cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Với những nỗ lực phấn đấu và
quyết tâm cao cùng những thành tựu nổi bật đã đạt được, cán bộ, đảng viên và
nhân dân huyện Thanh Trì rất tự hào và vinh dự được Đảng và Nhà nước
phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (năm
2000), Huân chương lao động hạng Nhất (năm 2003), Huân chương độc lập
hạng Ba (năm 2010). Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân Thanh Trì đã không ngừng nỗ lực phát huy truyền thống
của quê hương và đã đạt được nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã
hội, góp một phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước.
18
* Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thanh
Trì đối với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp:
Thuận lợi:
Huyện Thanh Trì có vị trí địa lý khá thuận lợi, mạng lưới giao thông đa
dạng, đã và đang được đầu tư phát triển. Hệ thống đường giao thông quan
trọng như cầu Thanh Trì đi các tỉnh vùng Đông Bắc; đường vành đai 3, vành
đai 3,5 và trục quốc lộ 1A-1B đi các tỉnh phía Nam; có trạm ga tàu Ngọc Hồi
là đầu mối của tuyến đường sắt Bắc - Nam. Như vậy, huyện Thanh Trì có đủ
các loại đường giao thông: đường sắt, đường bộ, đường thủy nên rất thuận lợi
cho việc giao lưu với các tỉnh trong cả nước. Đây là điều kiện quan trọng để
huyện Thanh Trì phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, huyện Thanh Trì không
chỉ là một vùng sản xuất mà trở thành địa bàn chuyển tiếp các nông sản thực