§¹i häc quèc gia hµ néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
=====================
CHU THỊ THU TRANG
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ
TRỢ PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Hµ Néi – 2014
§¹i häc quèc gia hµ néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
=====================
CHU THỊ THU TRANG
VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG VIỆC HỖ
TRỢ PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Công tác xã hội
Mã số : 60 90 01 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn An Lịch
Các số liệu, kết quả nghiên cứu và các kết luận được trình bày trong luận văn
hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ một nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên
Chu Thị Thu Trang
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tập thể thầy
cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tận tình dạy dỗ và
truyền đạt cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm cũng như lòng yêu mến, tâm
huyết với nghề nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn thầy giáo PGS.TS Nguyễn An Lịch người đã hướng
dẫn và chỉ bảo cho tôi rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Nhờ có sự
chỉ bảo giúp đỡ của thầy, tôi đã có được nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc
triển khai và thực hiện đề tài nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban
nhân dân, các phòng, ban, đoàn thể của thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên,
cùng các cô, chú trong cơ quan Hội Liên hiệp Phụ nữ thị xã đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt công trình nghiên cứu này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cô, các chị - những người phụ nữ đơn
thân và người dân trong cộng đồng thị xã Sông Công đã tận tình giúp đỡ và hợp
tác với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
Dù đã rất cố gắng và tâm huyết với đề tài nhưng do kiến thức của bản thân
về lĩnh vực nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu, thời gian nghiên cứu còn hạn
chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô giáo để Luận văn của tôi được hoàn chỉnh và
chất lượng hơn.
phụ nữ đơn thân................................................................................................... 29
1.4. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ............................................................. 32
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN ..... 39
2.1. Khái quát chung về phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn thị xã
Sông Công, tỉnh Thái Nguyên ................................................................ 39
2.2. Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn thị xã Sông Công,
tỉnh Thái Nguyên ................................................................................... 45
2.2.1. Đời sống vật chất của phụ nữ đơn thân nuôi con ................. 45
2.2.2. Đời sống tinh thần của phụ nữ đơn thân nuôi con ................ 49
2.2.3. Trình độ học vấn – nghề nghiệp của phụ nữ đơn thân ......... 50
2.2.4. Tình trạng sức khỏe của phụ nữ đơn thân nuôi con .............. 51
2.2.5. Phụ nữ đơn thân nuôi con và những trở ngại trong việc nuôi con . 54
2.2.6. Đặc điểm tâm lý của phụ nữ đơn thân nuôi con ................... 57
2.3. Nhu cầu và mong muốn của phụ nữ đơn thân nuôi con ...................... 61
2.4. Thực trạng công tác hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa
bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên................................................ 65
2.4.1. Quan điểm của chính quyền địa phương............................... 65
2.4.2. Các chương trình hỗ trợ về mặt chính sách .......................... 66
2.4.3. Các hoạt động hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình cho phụ nữ
đơn thân đang được triển khai tại địa phương ............................... 67
2.4.4. Hiệu quả công tác hỗ trợ phụ nữ đơn thân tại thị xã Sông
Công, tỉnh Thái Nguyên ................................................................... 69
CHƢƠNG 3: MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI PHỤ NỮ ĐƠN
THÂN NUÔI CON TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SÔNG CÔNG - TỈNH
THÁI NGUYÊN ........................................................................................ 77
3.1. Phƣơng pháp và kỹ năng tiếp cận trong công tác xã hội đƣợc sử dụng
khi làm việc với phụ nữ đơn thân........................................................... 77
LHPN
NXB
THCS
THPT
TCCN
UBND
Nguyên nghĩa
Công tác xã hội
Nhân viên xã hội
Phụ nữ đơn thân
Liên Hợp Quốc
Liên hiệp phụ nữ
Nhà xuất bản
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Trung cấp chuyên nghiệp
Ủy ban Nhân dân
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG 2.1. PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON DƢỚI 18 TUỔI PHÂN THEO
ĐỊA BÀN XÃ/PHƢỜNG .......................................................................................... 40
BẢNG 2.2. SỐ PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON DƢỚI 18 TUỔI PHÂN
THEO KHU VỰC THÀNH THỊ, NÔNG THÔN ................................................ 41
BẢNG 2.3. SỐ PHỤ NỮ ĐƠN THÂN CÓ CON DƢỚI 18 TUỔI LÀM CHỦ
HỘ VÀ KHÔNG LÀM CHỦ HỘ ........................................................................... 42
BẢNG 2.4. PHÂN LOẠI CÁC LOẠI HÌNH PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI
CON DƢỚI 18 TUỔI.................................................................................................. 42
BẢNG 2.5. ĐỘ TUỔI CỦA PHỤ NỮ ĐƠN THÂN NUÔI CON DƢỚI 18
Để thực hiện được mục tiêu bình đẳng giới, trong những năm qua, Đảng và
Nhà nước ta đã đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện và cơ
hội bình đẳng cho phụ nữ trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động; hướng tới giải
phóng người phụ nữ; góp phần xây dựng một đất nước công bằng, văn minh. Tuy
nhiên, chúng ta cũng cần phải nhìn nhận lại một cách thẳng thắn về những hạn
chế, những tồn tại trong quá trình thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Một trong
những minh chứng cụ thể nhất, đó là chúng ta đã nỗ lực, đã làm rất nhiều nhưng
vẫn còn đó những mảnh đời, những câu chuyện rơi nước mắt trong thực tế về
những người phụ nữ đơn thân. Họ không chỉ chịu gánh nặng về tài chính – kinh
tế, về sức khỏe mà họ đã và đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, tủi cực
trong cuộc sống, nhất là những khó khăn, áp lực về tâm lý.
Là phụ nữ, ai cũng đều mong ước có một mái ấm gia đình hạnh phúc, một
nơi để nương tựa, để sẻ chia những khó khăn, muộn phiền mà họ gặp phải trong
cuộc sống nhưng không phải người phụ nữ nào cũng may mắn có được tất cả
những điều ấy. Một số phụ nữ do mang trên mình một khiếm khuyết nào đó,
hoặc do “duyên phận lỡ làng”, “quá lứa nhỡ thì”, họ chấp nhận không xây dựng
gia đình nhưng lại khao khát được thực hiện thiên chức của một người mẹ, vì vậy
họ quyết định lựa chọn có con với một người đàn ông “dấu mặt”. Những người
phụ nữ này luôn phải chịu những định kiến xã hội, bị coi là “hư hỏng”, “không
chồng mà chửa”, phải chịu sự soi mói, khinh thường và dị nghị của những người
1
xung quanh,… Vì vậy, họ rất cần nhận được sự hỗ trợ, sự cảm thông, chia sẻ từ
phía gia đình, cộng đồng và xã hội.
Mỗi mảnh đời phụ nữ đơn thân (PNĐT) lại có những hoàn cảnh và số phận
khác nhau. Có người phụ nữ đơn thân do chồng mất sớm hoặc vợ chồng ly hôn,
cũng có những người lựa chọn cuộc sống độc thân vì họ lo sợ những đổ vỡ của
cuộc sống sau hôn nhân, lại có những phụ nữ do thiếu hiểu biết, thiếu chín chắn
Thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên
ngành Công tác xã hội.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Trong các nhóm phụ nữ yếu thế ở Việt Nam hiện nay thì nhóm phụ nữ
đơn thân là nhóm ít nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ phía cộng đồng, xã hội.
Trong các nghiên cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ đơn thân nói chung và
phụ nữ đơn thân nuôi con cũng ít được bàn tới. Vấn đề này chỉ được đề cập đan
xen trong các công trình nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về ly
hôn và các công trình nghiên cứu về nhóm phụ nữ nghèo. Trong quá trình tìm
kiếm tài liệu, tác giả nhận thấy rằng tính đến thời điểm hiện nay những nghiên
cứu riêng về phụ nữ đơn thân ở Việt Nam chỉ có một vài nghiên cứu, ngoài ra
chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí và các bài báo.
Nghiên cứu đầu tiên mà tác giả muốn đề cập đến là cuốn sách “Cuộc sống
của những người phụ nữ đơn thân ở Việt Nam” của Trung tâm nghiên cứu Khoa
học về Gia đình và Phụ nữ. Cuốn sách là công trình nghiên cứu GS Lê Thi về
phụ nữ đơn thân ở Việt Nam. Tác giả công trình đã tập trung làm rõ các vấn đề
như: Phụ nữ đơn thân - họ là ai; những quan niệm, định kiến xung quanh phụ nữ
đơn thân, thực trạng cuộc sống của họ, những khó khăn mà những người phụ nữ
đơn thân phải đương đầu. Nghiên cứu cũng chỉ ra tâm lý và nhu cầu của người
phụ nữ đơn thân. Đặc biệt, nghiên cứu đã dành riêng một phần để tìm hiểu và
đánh giá về vai trò của gia đình, cộng đồng và xã hội trong việc hỗ trợ những đối
tượng này.
Tiếp đó là cuốn sách “Gia đình phụ nữ thiếu vắng chồng” của trung tâm
nghiên cứu Gia đình và Phụ nữ (xuất bản năm 1996). Cuốn sách trình bày những
kết quả nghiên cứu của dự án Nghiên cứu những gia đình phụ nữ thiếu vắng
chồng, bắt đầu tiến hành từ năm 1989, dưới sự tài trợ của tổ chức SAREC của
3
4
phụ nữ theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Mai Hiên – khoa luật
trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề
về quyền của phụ nữ và pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam. Phân tích
thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về các quyền của phụ nữ Việt Nam
trong một số lĩnh vực như chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, đào tạo, khoa học
công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, y tế….Đề xuất một số phương hướng và
giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ và những giải pháp này
nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam
trong điều kiện hiện nay. Cũng đề cập đến vấn đề quyền của phụ nữ, TTXVN có
bài viết “LHQ kêu gọi gia tăng quyền cho phụ nữ vùng nông thôn” (Đăng tải
ngày 16/12/2012) đã phát động thông điệp khẳng định việc không ngừng mở
rộng quyền và khả năng của phụ nữ nông thôn. Ngoài ra thông điệp của ông
Banki-moon – Tổng thư kí LHQ cũng đã khẳng định: “Trách nhiệm giải quyết
tình trạng phân biệt đối xử đang thuộc về mọi quốc gia, mọi dân tộc, sắc tộc và
tôn giáo, phải làm sao để phụ nữ có được tối đa quyền phát triển”, việc này có ý
nghĩa đặc biệt to lớn trong việc xóa bỏ nghèo đói bần cùng và tình trạng phân
biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới và nó cũng rất có ý nghĩa khi mà hầu
hết những người phụ nữ đơn thân nuôi con ở những vùng nông thôn đều phải
chịu sự phân biệt đối xử này.
Quyền của phụ nữ được đề cập đến cả trong “Hiến pháp của nước
CHXHCN Việt Nam”, bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền và lợi ích của
công dân nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việc đảm bảo
quyền và lợi ích cho đối tượng phụ nữ. Đây là căn cứ để chúng ta có thể trợ giúp
cho những đối tượng là phụ nữ đơn thân trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
cũng như việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ. Cụ thể, trong điều 40 của
hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định “Nhà nước, xã hội và mọi công
dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho bà mẹ và trẻ em”; trong điều 52,
không phải do người phụ nữ đơn thân họ không có năng lực để phát triển kinh
tế mà thực tế là họ chưa biết cách phát huy năng lực của bản thân hoặc chưa có
cơ hội, điều kiện để phát huy năng lực của mình. Trong cuốn sách “Phụ nữ
nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp” của tác giả Lê
Thi, NXB khoa học xã hội, năm 1998 đã đánh giá các tiềm năng phát triển
6
ngành nghề phi nông nghiệp của phụ nữ nông thôn, chỉ ra những thuận lợi, khó
khăn của họ khi kinh doanh. Từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị giúp
người phụ nữ nông thôn phát huy vai trò của mình trong việc phát triển kinh tế
gia đình, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề ở nông thôn.
Tất cả các bài viết, các tài liệu trên đây đã cung cấp rất nhiều tư liệu
tham khảo và phương pháp tiếp cận về vấn đề trợ giúp cho đối tượng là phụ
nữ đơn thân ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên chưa có một công trình
hay một đề tài nào đề cập đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về lĩnh vực trợ
giúp cho đối tượng là phụ nữ đơn thân nuôi con dưới góc nhìn và phương
pháp tiếp cận của ngành Công tác xã hội.
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những vấn đề đã được đề cập trong các công
trình, tài liệu kể trên, cùng với tài liệu về Hiến pháp – căn cứ pháp lý để nghiên
cứu đề tài, kết hợp với khảo sát thực tế tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên,
luận văn này có một số đóng góp mới như sau:
Về cách tiếp cận: Luận văn lần đầu tiên tiếp cận nghiên cứu về đời sống của
người phụ nữ đơn thân nuôi con tại địa bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên,
những khó khăn mà họ gặp phải trong cuộc sống cũng như các giải pháp, phương
hướng trợ giúp cho nhóm đối tượng này gắn liền với các phương pháp tiếp cận và
trợ giúp của ngành Công tác xã hội.
Về nội dung: Trên cơ sở hệ thống lý thuyết tương đối hoàn chỉnh, đề tài lần
đầu tiên khái quát, phân tích và đánh giá một cách có hệ thống về cuộc sống của
cho phụ nữ đơn thân nuôi con tại địa bàn, rút ra được ý nghĩa, tầm quan trọng của
công tác này, đồng thời thấy được những thế mạnh và hạn chế cần khắc phục. Từ
đó thiết lập được mô hình giải quyết vấn đề dưới góc độ ngành CTXH nhằm trợ
giúp một cách có hiệu quả cho nhóm thân chủ cụ thể trên địa bàn thị xã Sông
Công, tỉnh Thái Nguyên.
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý,
nghiên cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn về hoạt động đổi mới vì sự tiến
bộ của phụ nữ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực tế cuộc sống của những phụ nữ đơn
thân nuôi con trên địa bàn Thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, đề tài tiến hành
8
nhận định, phân tích, đánh giá, từ đó nêu bật được thực trạng, những khó khăn
mà họ gặp phải, những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn đó, những nhu cầu
của phụ nữ đơn thân nuôi con và sự cần thiết phải có sự trợ giúp dành cho các đối
tượng này.
Đồng thời, đề tài cũng đề xuất xây dựng mô hình Công tác xã hội nhằm can
thiệp, hỗ trợ cho phụ nữ đơn thân nuôi con để họ có thể vượt qua những rào cản từ
xã hội và bản thân, khắc phục khó khăn, vươn lên hòa nhập với cộng đồng xã hội.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài: Công tác xã hội;
Phụ nữ đơn thân và các khái niệm khác có liên quan .
Thông qua khảo sát tại địa phương, tiến hành tìm hiểu thực tiễn cuộc
sống, hoàn cảnh của từng phụ nữ đơn thân nuôi con, phân tích những khó khăn,
những vấn đề mà họ gặp phải trong cuộc sống; những rào cản từ bản thân họ, từ
gia đình, cộng đồng và xã hội đối với những nỗ lực của họ; nguyên nhân của vấn
- Những phụ nữ đơn thân nuôi con đang phải đối mặt với nhiều khó khăn cả
về vật chất lẫn tinh thần. Những khó khăn này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân
khác nhau.
- Chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội đã có những hoạt động trợ
giúp đối với phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn nhưng những hoạt động ấy
chưa thực sự trở thành một giải pháp hiệu quả cho những khó khăn của phụ nữ
đơn thân.
- Trên cơ sở các mô hình hỗ trợ cá nhân, nhóm và phát huy vai trò của cộng đồng,
công tác xã hội khẳng định vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, giải quyết triệt để những
vấn đề mà phụ nữ đơn thân nuôi con gặp phải, giúp họ có sự thay đổi về tâm lý, thái độ
theo hướng tích cực, dần dần hòa nhập cộng đồng; được tham gia vào một nhóm phụ
nữ đơn thân nuôi con để được cùng chia sẻ, giúp đỡ nhau ổn định cuộc sống.
10
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của luận văn
để nhận thức các sự kiện, các hiện tượng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Đó là các quan điểm: lịch sử, toàn diện, cụ thể và phát
triển. Vận dụng những quan điểm đó, trong quá trình nghiên cứu, vấn đề của
những phụ nữ đơn thân luôn được xem xét một cách toàn diện - cả về phương
diện khách quan cũng như khía cạnh chủ quan; đặt vấn đề trong một bối cảnh
không gian, thời gian cụ thể, trong những điều kiện lịch sử cụ thể và có mối quan
hệ biện chứng với các điều kiện khác trong bối cảnh ấy.
Mỗi ngành khoa học đều có đối tượng, phương pháp khác nhau trong việc
tiếp cận và giải quyết các vấn đề. Do đó, dưới góc độ ngành Công tác xã hội, khi
nghiên cứu về vấn đề phụ nữ đơn thân phải dựa trên nền tảng triết lý “Con người
là giá trị cao nhất trong ngành CTXH”, dù thân chủ của ta là ai, là người như thế
Phân tích tài liệu là một phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong
các đề tài nghiên cứu. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương
pháp phân tích tài liệu trên cơ sở có sự sàng lọc để thu thập thông tin, số liệu, để
xem xét, phân tích các cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu thông qua
phân tích báo cáo của địa phương, các tài liệu trên sách, báo, tài liệu chuyên
ngành các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan, Internet…. Sử dụng phương
pháp phân tích tài liệu giúp tác giả có cái nhìn tổng quát về vấn đề nghiên cứu.
Đồng thời qua đó tác giả tìm ra cho mình cái nhìn mới, cách tiếp cận mới và
hướng nghiên cứu mới cho đề tài của mình.
8.2.2. Phƣơng pháp quan sát
Để thu thập được những thông tin cần thiết, đáp ứng được mục tiêu nghiên
cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát. Quát sát trong nghiên
cứu xã hội được hiểu là quá trình tri giác và ghi chép mọi yếu tố có liên quan đến
đối tượng nghiên cứu phù hợp với đề tài và mục tiêu nghiên cứu. Đây cũng là
một phương pháp nhằm kiểm tra tính xác thực của những thông tin thu được
trước đó hoặc những thông tin thu được từ những phương pháp khác nhau.
12
Phương pháp này được tác giả sử dụng ngẫu nhiên hoặc có kế hoạch trong
các buổi làm việc với đối tượng tại chính nhà của họ, nơi phỏng vấn hoặc nơi trò
chuyện, giao tiếp. Sử dụng phương pháp quan sát nhằm mục đích giúp tác giả thu
thập được các thông tin về đối tượng như: hoàn cảnh, điều kiện sống (quan sát
môi trường xung quanh đối tượng); tâm lý, hành vi của đối tượng (quan sát thái
độ, cử chỉ, nét mặt của đối tượng khi giao tiếp).
8.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nghiên cứu được tiến hành chọn mẫu bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên đơn giản với cỡ mẫu khoảng 295 phụ nữ đơn thân có con dưới 18 tuổi.
Bảng hỏi được sử dụng trong quá trình thu thập thông tin bao gồm bộ
thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. (10 phụ nữ)
+ Nhóm 3: Nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con tại Tổ dân phố 7, phường
Thắng Lợi, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. (7 phụ nữ)
8.3. Các phƣơng pháp CTXH đặc thù
8.3.1. Phƣơng pháp CTXH với cá nhân
CTXH cá nhân vừa là quá trình, vừa là một phương pháp can thiệp,
giúp đỡ từng cá nhân con người có vấn đề xã hội, các vấn đề xã hội này đang
ngăn cản việc thực hiện chức năng xã hội của họ (bị mất, bị giảm thiểu hay
yếu về chức năng xã hội), thông qua mối quan hệ 1–1 (Nhân viên xã hội
(NVXH) - Thân chủ). Công cụ chủ yếu được sử dụng trong phương pháp này
là sự tương tác giữa nhân viên CTXH và cá nhân thân chủ để giúp họ nhận
thức rõ vấn đề của họ và giúp họ giải quyết vấn đề của chính họ, giúp họ
tăng khả năng vận dụng các nguồn lực (tài nguyên) từ xã hội và của bản thân
để thay đổi tình trạng của họ.
Trong phạm vi đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp CTXH cá nhân
để thực hành trực tiếp với 01 trường hợp thân chủ cụ thể. Đối với thân chủ là
phụ nữ đơn thân – một trong những nhóm phụ nữ yếu thế, khi tiến hành
phương pháp CTXH với cá nhân, nhân viên xã hội đặt thân chủ trong hệ
thống sinh thái nghĩa là đặt thân chủ trong mối quan hệ với các cá nhân
khác, với điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường xã hội mà thân chủ đó đang
sinh sống. Phương pháp tác động tập trung vào các mối quan hệ, về tâm lý
xã hội, bối cảnh xã hội mà ở đó vấn đề của thân chủ đang diễn ra và bị ảnh
hưởng, chi phối.
14
Điều cốt lõi khi sử dụng phương pháp CTXH cá nhân là giúp thân chủ
nhận ra vấn đề, mong muốn giải quyết vấn đề và cùng với NVXH giải quyết vấn
đề đó.