phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã hồng thành, huyện yên thành, tỉnh nghệ an giai đoạn 2010 - 2013 - Pdf 23

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HLHPN
ATLC – SSCĐ
PNĐTNC
CTXH
NVCTXH
MTĐH
MT
BTV
XKLĐ
QTDND
- Hội liên hiệp phụ nữ
- An toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu
- phụ nữ đơn thân nuôi con
- Công tác xã hội
- Nhân viên công tác xã hội
- Mục tiêu đại hội
- Mục tiêu
- Ban thường vụ
- xuất khẩu lao động
- Quỹ tín dụng nhân dân
1
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Thứ
tự
Bảng Nội dung Trang
1 2.1 sự gia tăng số lượng phụ nữ đơn thân xã Hồng Thành
(2010 - 2013)
2 2.2 thu nhập/tháng của PNĐTNC ở xã Hồng Thành năm
2010
3 2.3 Thu nhập/tháng của PNĐTNC ở xã Hồng Thành năm

“bà mẹ đơn thân nuôi con” đang trở thành một trào lưu và có xu hướng ngày càng
tăng.
Phần lớn những trường hợp bà mẹ đơn thân hiện nay là những trường hợp ly
hôn hoặc không kết hôn. Họ là những người phụ nữ không muốn lập gia đình, không
muốn làm vợ nhưng vẫn muốn có con, muốn trở thành mẹ. Họ còn có thể là những
người phụ nữ chủ động bỏ chồng để trở thành bà mẹ đơn thân – những trường hợp
hiếm gặp trong xã hội Việt trước đây.
4
Mô hình “bà mẹ đơn thân nuôi con” thuộc trường hợp ly hôn và không kết hôn
ngày càng nhiều, nó không chỉ xuất hiện ở các vùng đô thị hiện đại mà còn có ở cả
những vùng nông thôn yên bình. Cũng giống như thế, tại địa bàn xã Hồng Thành, nơi
tôi sinh sống, là một xã đang trong gia đoạn xây dựng mô hình nông thôn mới, không
quá khó khăn nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề xã hội bất cập. Trong đó số lượng bà
mẹ đơn thân nuôi con chiếm tỷ lệ tương đối cao. Mỗi người một lý do, một hoàn cảnh
khác nhau nhưng có đều có những khó khăn và đặc điểm chung. Hơn thế nữa, dù họ
có cố gắng làm tròn vai trò của cả người cha lẫn người mẹ thì vẫn khó đảm bảo cho
sự phát triển trọn vẹn về cả thể chất lẫn tinh thần của những đứa con của họ.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã
Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2013” để làm đề tài
khóa luận tốt nghiệp của mình. “Phụ nữ đơn thân nuôi con” không phải là một đề tài
mới, tuy nhiên, việc nghiên cứu ở phạm vi không quá lớn sẽ cho tôi thấy được cụ thể
hơn những khó khăn, nhu cầu và nguyện vọng mà đối tượng đang gặp phải. Hơn nữa,
đây sẽ là cơ hội để tôi có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng mà mình học được ở
giảng đường, áp dụng và thực tiễn cuộc sống. Từ đó, tự trau dồi thêm kiến thức, tích
lũy thêm kinh nghiệm, tự hoàn thiện những thiếu sót của bản thân, làm hành trang để
sau này có thể vững vàng hơn khi ra trường.
2. Lịch sử nghiên cứu
Gia đình là một mảng đề tài quen thuộc trong nghiên cứu khoa học ở nước ta, thu
hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu với nhiều đề tài nghiên cứu công phu, giá trị
cao. Những nghiên cứu ấy đã dựng lên một tấm phông khá cơ bản để nhìn nhận nghiên

mở những khía cạnh trong cuộc sống của bà mẹ đơn thân. Những nghiên cứu này chú
trọng đến mảng xã hội học và hướng đến xây dựng những chính sách giúp đỡ cho
những bà mẹ đơn thân.
Những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc nhất với cuộc sống của những bà mẹ đơn
thân có lẽ là những bài viết phản ánh xu hướng này trên báo chí. Những bài viết có
nhân chứng cụ thể, có những sự kiện có thật đã phần nào mô tả những đánh giá đúng
đắn về xu hướng này. Tuy chỉ dựa vào một vài trường hợp cụ thể và những đánh giá
còn sơ sài, không phải là những nghiên cứu thực sự nhưng những bài viết ấy vẫn còn
cung cấp nhiều dẫn chứng, tư liệu quý giá.
Như vậy, có thể thấy, đề tài phụ nữ đơn thân nuôi con vẫn là một đề tài mới, có
nhiều mảng trống trong nghiên cứu, nhất là nghiên cứu dưới góc độ CTXH với phụ nữ
đơn thân nuôi con.
6
3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “phụ nữ đơn thân nuôi con” trên địa bàn xã
Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ
An giai đoạn 2010 - 2013” hướng đến đối tượng chính là những bà mẹ đơn thân nuôi
con, đó là những người phụ nữ nuôi con một mình mà không có sự xuất hiện của người
đàn ông với tư cách pháp lý là chồng, là cha.
Gia đình phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã. Bao gồm các thành viên trong
gia đình có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của phụ nữ đơn thân nuôi con.
Ngoài ra, người nghiên cứu còn chú ý đến một số cán bộ xã, thôn như: Cán bộ
phụ nữ xã, cán bộ phụ nữ thôn, cán bộ hội nông dân.v.v
3.3. Phạm vi nghiên cứu
• Phạm vi không gian: xã Hồng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
• Phạm vi thời gian: Từ ngày 20/03/2014 đến ngày 20/04/2014. Đây là phạm vi thời gian
chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề tại địa bàn.

Nghệ An như thế nào?
• Nhu cầu của phụ nữ đơn thân nuôi con và việc đáp ứng các nhu cầu của họ như thế
nào?
• Mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội của phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn xã như
thế nào?
• Vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ phụ nữ đơn thân nuôi con trên địa bàn
xã?
6. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp luận
• Chủ nghĩa duy vật biện chứng
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì khi xem xét, đánh giá mỗi
hiện tượng – sự kiện xã hội phải đặt nó trong mối liên hệ phổ biến với các hiện tượng –
sự kiện khác. Ngoài ra phải có quan điểm toàn diện khi đánh giá về một vấn đề để
tránh cách nhìn phiến diện.
Là thế giới quan của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng giải
thích các hiện tượng và quá trình xã hội trong mối quan hệ qua lại, trong sự vận động
và biến đổi không ngừng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng được vận dụng vào việc
nghiên cứu cuộc sống xã hội cũng như nghiên cứu các hình thức sinh hoạt xã hội. Vì
vậy, khi nghiên cứu cần phải sử dụng các lý thuyết trong công tác xã hội như thuyết vai
trò, thuyết hành động xã hội, thuyết hệ thống, thuyết năng động nhóm, để làm rõ
nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng và khách thể nghiên cứu. Đồng thời góp phần
làm thay đổi tích cực thực trạng.
• Chủ nghĩa duy vật lịch sử
8
Chủ nghĩa duy vật lịch sử có quan điểm khi nhìn nhận một vấn đề cần phải xác
định được hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nơi vấn đề đang tồn tại và chịu ảnh hưởng. Bởi
cùng một sự vật hiện tượng nhưng trong những bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau thì
cách nhìn nhận, đánh giá về hiện tượng, sự vật đó là không giống nhau.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
6.2.1. Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu thành văn

thời nó mang lại cho chúng ta cái nhìn thực tế, giúp người nghiên cứu hiểu rõ bản chất
vấn đề hơn. sử dụng kĩ năng quan sát trong trường hợp này, để thấy được hoàn cảnh
sống, thái độ của đối tượng trước vấn đề mà họ gặp phải. Đặc biệt là có thể quan sát
đối tượng trong các hoạt động công tác xã hội cá nhân.
6.2.5. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc
Trong thời gian thực tập tại địa bàn, tôi đã tiến hành 6 cuộc phỏng vấn bán cấu
trúc. Với 4 phụ nữ đơn thân nuôi con và 2 cán bộ phụ nữ.
Phỏng vấn bán cấu trúc đối với phụ nữ đơn thân nuôi con nhằm thu thập các
thông tin về đời sống, thái độ và tâm lý của họ trước hoàn cảnh của bản thân.
Phỏng vấn bán cấu trúc đối với cán bộ phụ nữ xã và xóm nhằm biết thêm thông
tin về sự hỗ trợ từ chính quyền xã, xem xét mức độ quan tâm của họ đối với vấn đề phụ
nữ đơn thân nuôi con.
7. Ý nghĩa đề tài nghiên cứu
7.1. Ý nghĩa lý luận
Khi lựa chọn đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 - 2013” tôi mong muốn làm sáng tỏ hơn các
khái niệm và lý thuyết như: lý thuyết vai trò, thuyết hành động xã hội, lý thuyết nhu
cầu của Abraham Maslow, lý thuyết hệ thống, lý thuyết nữ quyền, lý thuyết cấu trúc –
chức năng… Áp dụng những kiến thức đã được học từ sách vở đi vào thực tiễn cuộc
sống, lý luận được kiểm nghiệm, đánh giá. Hiệu quả được chứng minh. Qua đó bổ
sung, loại bỏ những thiếu sót không phù hợp để kiến thức được trang bị cho những
khóa sau tốt hơn. Sự bổ sung và hoàn thiện cho nhau giữa một bên là kiến thức sách vở
và một bên là thực tiễn cuộc sống thông qua những bài báo cáo có sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn của cuộc sống.
7.2. Ý nghĩa thực tiến
Thực hiện đề tài “phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010 – 2013” bởi tính cấp thiết, nóng bỏng của thực
trạng phụ nữ đơn thân nuôi con. Nó đã để lại nhiều ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
* Đối với bản thân người nghiên cứu
Hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan đến phụ nữ đơn thân nuôi con như vấn đề ly

Nâng cao nhận thức của người dân về những vấn đề liên quan đến gia đình phụ
nữ đơn thân nuôi con, để người dân có cái nhìn cảm thông đối với họ. Những thông
tin, kết luận, những giải pháp và phát hiện mới của kết quả nghiên cứu là cơ sở cần
thiết, quan trọng để nâng cao những chính sách hỗ trợ đối với phụ nữ đơn thân nuôi
con tại địa bàn nhằm cải thiện cuộc sống của gia đình họ.
* Đối với xã hội
11
Góp phần bảo vệ và chăm sóc một cách tốt nhất có thể cho thế hệ trẻ em hôm
nay, thế giới ngày mai. Việc hỗ trợ, cải thiện đời sống các gia đình phụ nữ đơn thân
nuôi con đồng nghĩa với việc tạo điều kiện phát triển tốt hơn cho những đứa trẻ
không có sự chăm sóc của người cha. Ngoài ra, hạn chế hơn nữa sự gia tăng hình thái
gia đình “phụ nữ đơn thân nuôi con” để có được những thế hệ tương lai phát triển
toàn diện cả về thể chất, trí lực và tinh thần.
8. Bố cục đề tài
Đề tài ngoài lời nói đầu, kết luận, khuyến nghị, mục lục, tài liệu tham khảo,
phần phụ lục (biên bản phỏng vấn sâu, hình ảnh minh họa ) thì nội dung chính được
chia làm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và các khái niệm, lý thuyết liên
quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Thực trạng về đời sống phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và những ảnh hưởng của thực trạng đó
Chương 3. Công tác xã hội với phụ nữ đơn thân nuôi con ở xã Hồng Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
12
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KHÁI
NIỆM, LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý

Nam rất khô nóng, làm cho sự bốc hơi diễn ra nhanh, đồng ruộng khô hạn. Nhiệt độ
trung bình mùa hè là 35 độ C, có ngày lên đến 39 độ C; khi chưa có hệ thống nam
giang, hồ đập, những đợt Nam Lào kéo dài gây ra tác hại nghiêm trọng đến mùa màng
và sức khỏe con người. Mùa đông, gió mùa Đông Bắc xâm nhập vào, nhiệt độ giảm,
tạo nên sự khô hanh, cũng có khi mưa dầm kéo dài.
1.1.1.4. Thủy văn
Địa bàn xã Hồng Thành có dòng sông Đào chảy qua, là hệ thống cung cấp nước
cho sản xuất và tưới tiêu của xã. Ngoài ra, trên địa bàn xã cũng có nhiều kênh mương.
Nên nguồn nước khá dồi dào. Hơn nữa, xã lại tiếp giáp với các xã vùng núi cao như
Mã Thành, Lăng thành nên ở đây cũng có hiện tượng nước chảy ngầm.
1.1.2. Điều kiện kinh tế
Theo báo cáo tóm tắt kết quả 3 năm thực hiện nghị quyết đại hội Đảng các cấp
nhiệm kỳ 2010 – 2015 (trình hội nghị BTV huyện ủy về làm việc tại xã Hồng Thành)
thì đến cuối năm 2013, giá trị sản xuất đạt 149.476 triệu đồng, đạt 80,62% so mục tiêu
ĐH, tốc độ tăng trưởng bình quân 13.5%/năm. Thu nhập bình quân đầu người
22.477.000 đồng/năm (1.873.000 đồng/tháng/người) đạt 81,47% so với chỉ tiêu Đại hội
đến 2015 là 27.588.000 đồng/năm/người.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng: So với đầu nhiệm kỳ đến cuối năm 2013
là:
* Nông ngư nghiệp: Từ 48% xuống còn 31,24% (MT ĐH: 31,2%). Công nghiệp -
Xây dựng từ 15,5% lên 29,11% (MT 24,3%); Thương mại - Dịch vụ đạt từ 32,5% lên
39,65% (MT 44,5%).
14
* Về sản xuất nông nghiệp: Sau chuyển đổi ruộng đất đến nay còn 1,46 thửa/hộ
giảm 1,6 thửa. Có 20 mô hình chuyển đổi cây con mới, xây dựng thành công cánh
đồng mẫu 40 ha lúa. Nhiều hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng công nghiệp. Do
làm tốt tiêm phòng nên chưa có dịch bệnh xảy ra.
* Công nghiệp - xây dựng: Đã quy hoạch khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
thu hút nguồn vốn đầu tư xây dựng 13 công trình, có giá trị 38,168 tỷ đồng; Trong đó
ngân sách Nhà nước cấp trên 13,350 tỷ đồng, ngân sách xã 7,2 tỷ đồng, nhân dân đóng

chính trị đều đạt khá giỏi, giao quân tuyển quân vượt chỉ tiêu trên giao.
* Công tác an ninh: Làm tốt công tác phối hợp với các ban ngành, tổ chức tuyên
truyền phổ biến pháp luật trong nhân dân, duy trì hoạt động tổ an ninh tự quản. Thường
xuyên phát động phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc. Kịp thời phát hiện xử lư
nghiêm các vi phạm theo đúng pháp luật, không để xảy ra trọng án phức tạp nhất là ở
các vùng đặc thù.
1.1.5. Điều kiện dân cư và nguồn lao động
* Dân cư
Theo báo cáo dân số năm 2013 của ban dân số kế hoạch hóa gia đình xã Hồng
Thành, toàn xã có 6.583 nhân khẩu với 1626 hộ. Trong đó, nữ chiếm gần một nửa với
3.130 người.
Toàn xã có 14 thôn, có 3 họ giáo sống ở 4 xóm với gần ¼ dân số (341 hộ với
1475 nhân khẩu).
Dân cư chủ yếu là người dân tộc kinh, sống theo cụm dân cư đông đúc. Quy mô
bình quân mỗi hộ 4 đến 5 người.
Công tác kế hoạch hóa gia đình trong những năm qua luôn được coi trọng nhờ
việc tuyên tuyền, vận động nhân dân thực hiện tốt các chính sách dân số và đạt được
những kết quả khả quan.
Dân cư trong vùng chung sống hòa thuận và đoàn kết. Cũng như bao vùng quê
khác tình làng nghĩa xóm luôn được mọi người đề cao và coi trọng. Vì thế, những đối
tượng là “bà mẹ đơn thân” nhờ đó cũng được bà con lối xóm giúp đỡ rất nhiều, làm
giảm bớt đi những khó khăn và gánh nặng cuộc sống. Làm cuộc sống của họ có ý
nghĩa hơn. Tuy nhiên, cũng chính bởi đặc điểm là vùng nông thôn nên tư tưởng của
con người cũng chưa tiến bộ nhiều, vẫn còn một số bộ phận mang nặng tư tưởng phong
16
kiến và lạc hậu nên việc bà mẹ đơn thân “không chồng mà chửa” ở đây thường phải
gánh chịu dư luận xã hội, những bàn tán của làng xóm rất nặng nề.
* Lao động
Lao động là yếu tố quyết định sự phát triển của loài người. Không một quá trình
sản xuất nào diễn ra mà không có sự tham gia của người lao động. Vì vậy, việc phân

Trong khuôn khổ thực hiện khóa luận này thì tôi sử dụng phương pháp công tác
xã hội với cá nhân là chủ yếu.
“Công tác xã hội cá nhân nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sự thực thi bình
thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trong bối cảnh xã hội mà vấn
đề của họ đang diễn ra mà bị tác động.” [3;6]
Theo Grace Mathew thì : “công tác xã hội với cá nhân là một phương pháp
giúp đỡ cá nhân, con người thông qua mói quan hệ một – một. Nó được nhân viên
công tác xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp đỡ những người có vấn đề về
chức năng xã hội và thực hiện các chức năng xã hội.”
1.2.2. Khái niệm phụ nữ
Nữ giới là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn bộ
những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giới tính được
xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn thiện và chức
năng giới tính hoạt động bình thường.
Phụ nữ chỉ một, một nhóm hay tất cả nữ giới đã trưởng thành, hoặc đã được cho
là trưởng thành về mặt xã hội.
1.2.3. Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con
Khái niệm phụ nữ đơn thân nuôi con là một khái niệm mới xuất hiện trong những
năm 1990, hiện tượng này vẫn còn nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về khái
niệm.
Theo một số nhà khoa học. “Phụ nữ đơn thân nuôi con là những người mẹ một
mình nuôi con mà không có người chồng và người thân bên cạnh.” [3.tr3]
1.2.4. Khái niệm bạo lực gia đình
Bạo hành gia đình hay Bạo lực gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo
lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình. Hành vi bạo lực thường thấy nhất là
giữa vợ và chồng nhưng bạo lực giữa cha mẹ với con cái hay ông bà, anh em ruột với
nhau hoặc giữa mẹ chồng và con dâu cũng có xảy ra và được xếp vào nhóm các hành
vi này. Nạn nhân của bạo lực thân thể thường là phụ nữ - vợ hoặc mẹ của đối tượng,
với nam giới họ là nạn nhân của bạo lực tinh thần nhiều hơn. Bạo lực gia đình xảy ra ở
18

Xuất phát từ nhận thức sâu sắc đó, Đảng cộng sản đã đưa ra nhiều khẩu hiệu đòi quyền
lợi cho phụ nữ và sau khi giành ðộc lập dân tộc, chủ trýõng lôi cuốn phụ nữ vào các
hoạt ðộng xã hội tạo điều kiện cho phụ nữ phát huy năng lực và vai trò của mình trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáp lại niềm tin của Đảng và dân tộc,
19
các thế hệ phụ nữ Việt Nam đã phát huy cao độ truyền thống tích cực trong lịch sử dân
tộc, sát cánh cùng nam giới trên mọi lĩnh vực công tác và đã có nhiều cống hiến to lớn
cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng xã hội mới. Hồ Chí Minh và đường
lối của Đảng trong cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa là giải
phóng phụ nữ gắn liền với giải phóngdân tộc và giải phóng giai cấp. Dân tộc có tự do,
ðộc lập thì phụ nữ mới có tự do, độc lập. Xã hội không còn áp bức bóc lột giai cấp thì
phụ nữ mới được giải phóng khỏi sự bóc lột và áp bức. Như vậy giải phóng phụ nữ xét
cho cùng là tạo điều kiện phát triển tự do năng lực cá nhân của giới phụ nữ. Giải
phóng phụ nữ gắn liền với giải phóng nam giới, giải phóng xã hội.
Qua đây ta đánh giá được quyền và trách nhiệm cũng như vai trò của phụ nữ
trong xã hội, đặc biệt là phụ nữ đơn thân nuôi con từ đó tìm hiểu sâu hơn về quyền lợi,
trách nhiệm của phụ nữ đơn thân tại địa bàn nghiên cứu.
1.3.3. Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính:
nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs).
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có
đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ.v.v Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu
cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,
họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống
hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao. Những nhu
cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, vui vẻ, địa
vị xã hội sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân v.v
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc
cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống.v.v họ sẽ không quan tâm đến

trong đó cấu trúc giữ vai trò quyết định. Sự thay đổi về mặt chức năng sẽ làm hoàn
thiện cấu trúc của nó. Cấu trúc xã hội đảm bảo tính cân bằng cho xã hội về mặt chức
năng.
21
Còn R.Merton lại cho rằng: các chức năng xã hội có tính thống nhất thể hiện ở
cấp độ xã hội và cá nhân. Trong lý thuyết cấu trúc – chức năng, xã hội được nhìn nhận
như một hệ thống hoàn chỉnh của các quan hệ qua lại của các bộ phận, mỗi bộ phận lại
liên quan với các bộ phận khác.
Thuyết cấu trúc – chức năng cho thấy những hành vi cá nhân luôn luôn nằm trong
cấu trúc nhất định, mặc dù cá nhân luôn có sự lựa chọn những ứng xử trong một tình
huống cụ thể. Ví dụ: trong khi xem xét mối quan hệ kinh tế và gia đình, ở khía cạnh
nuôi dạy và giáo dục con cái của phụ nữ đơn thân nuôi con. Thì chúng ta có thể dễ
dàng thấy được, những phụ nữ có điều kiện kinh tế và việc làm ổn định sẽ nuôi dạy và
giáo dục con cái tốt hơn so với những phụ nữ không có việc làm và kinh tế.
Lý thuyết cấu trúc chức năng như là một lý thuyết chủ đạo, xem xét các chức
năng của gia đình, trong đó chức năng giáo dục - xã hội hóa của gia đình. Tất nhiên,
các chức năng của gia đình không thể tách rời nhau mà nằm trong một cấu trúc thống
nhất.
Gia đình có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của đứa trẻ. Đây là
môi trường cơ bản, chính thức đầu tiên của xã hội hóa cá nhân. Với chức năng của
mình, gia đình là công cụ truyền lại cho con cháu các giá trị văn hóa truyền thống và
văn hóa hiện đại, đặc biệt là các giá trị xã hội, đạo đức Đối với những người chưa
trưởng thành và chưa đến tuổi đi học thì đạo đức lối sống, nhân cách đã chịu sự chi
phối nhiều nhất của quá trình xã hội hóa của gia đình. Vì thế mà, trong mô hình gia
đình “phụ nữ đơn thân”, việc giáo dục và xã hội hóa càng trở nên phức tạp và có nhiều
khó khăn hơn so với những gia đình bình thường.
Theo A.G.Chavezew: “gia đình không chỉ ủy nhiệm mà còn tạo ra những giá trị
tinh thần như tình yêu vợ chồng, tình yêu bố mẹ, sự kính trọng của con cái đối với bố
mẹ, tình đoàn kết gia đình, những giá trị được tạo ra này cũng tham gia vào quá trình
xã hội hóa và những nội dung được hậu thế tiếp thu”.

2.1.1. Thực trạng phụ nữ đơn thân nuôi con trên thế giới
Trong một vài thập kỷ gần đây, lối sống độc thân, kết hôn muộn, đã và đang diễn
ra ở các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và các nước phương Tây như Đức, Pháp, Anh
v.v Đặc biệt là phụ nữ.
Theo như tờ “La Vanguardia”, ngày càng có nhiều người ở độ tuổi thanh niên và
trung niên tại các nước phát triển đã chọn lựa cuộc sống ðộc thân. Kết quả thãm dò của
tờ báo này cho thấy tại Mỹ số hộ gia đình do vợ chồng tạo lập giảm từ 80% của những
năm 50 của thế kỷ 20 xuống còn 50% những năm đầu thế kỷ 21.
23
Số người Mỹ không kết hôn đã gia tăng từ năm 1960 khiến cho tỷ lệ sống độc
thân thì từ trước đến nay cao chưa từng có. Có 48% phụ nữ không kết hôn và nuôi con
một mình. Độ tuổi kết hôn trung bình của họ ở nước này cũng lùi lại. Có thể thấy rõ
ràng rằng người Mỹ ngày càng kết hôn muộn hơn trong gần bốn mươi năm qua (1960-
1998) thể hiện ở tuổi kết hôn trung bình của nữ tăng lên là 5 tuổi (từ 20 đến 25 tuổi).
Hệ quả là hiện nay, Mỹ là quốc gia có nhiều người sống độc thân nhất - chiếm
58.1% dân số. Ở Mỹ, có 43% người trưởng thành (tương đương với 87 triệu người) tự
cho mình là độc thân trong đó chỉ riêng thành phố New York, đã có đến 70% dân số
sống độc thân .
Sống độc thân hiện nay trên thế giới nhất là châu Âu đang trở thành trào lưu thời
thượng. Ỏ Tây Âu, theo Eurostar, số người sống độc thân là 158 triệu, chiếm 55% dân
số Irlandia, 50% dân số Phần Lan, 50% dân số Thuỵ Điển, 46% dân số Pháp. Tại Pháp,
số người sống độc thân đã tăng từ 5 triệu người (năm 1999) lên 14 triệu người (2004) .
Ở Tây Ban Nha có 6 triệu người độc thân, 18% nữ trong độ tuổi 35 – 39, ở tuổi 45-50
sống một mình. Tại một nước có tới 90% số dân theo đạo Thiên chúa như Ba Lan, vẫn
có 60% số dân vẫn chấp nhận việc phụ nữ không có chồng mà có con. Số những bà mẹ
“một mình” nuôi con đang trở thành lực lượng đông đảo trong xã hội, chiếm tới 15%
số gia đình của nước này. Sống độc thân đã trở thành một nhu cầu của con người ở các
nước tư bản phát triển .
Các nước Châu Á cũng không nằm ngoài xu hướng này. Trong hơn một thập niên
trở lại đây, ngày càng có nhiều thanh niên châu Á chọn cách sống độc thân. Nhật là

mới tác động được đến tầng này và gây ra những biến đổi mạnh mẽ. Đầu thế kỉ XXI,
hơn mười năm sau khi đổi mới và hội nhập, những biến đổi này đã bộc lộ và trở nên
mạnh mẽ, dẫn đến sự ra đời và phát triển của xu hướng bà mẹ đơn thân.
Ở Việt Nam, theo kết quả điều tra năm 2007 của tổng cục thống kê, Viện gia đình
và giới tiến hành thì tỷ lệ độc thân chiếm khoảng 2,5 % dân số tức khoảng 2.100 người,
trong đó nữ giới chiếm 87,6 %. Hội Liên hiêp phụ nữ tỉnh Thanh Hóa năm 2008 cho
biết trên toàn tỉnh trong 100 % phụ nữ đơn thân thì có 46.5 % là chồng mất, 10 % là do
ly hôn, 19 % là độc thân và số còn lại là do các nguyên nhân khác như: không lấy
chồng mà xin con nuôi, quan hệ ngoài luồng sau đó tự nuôi con một mình,…
25

Trích đoạn Đối với chắnh quyền địa phương MẪU PHIẾU ĐIỀU TRA (Dành cho PNĐTNC) MẪU PHỎNG VẤN SÂU CÁ NHÂN BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU (dành cho phụ nữ đơn thân nuôi con)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status