Đại học học Quốc gia hà nội
Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
-------***-------
Tô Thúy Hạnh
Thực trạng niềm tin đối với Đạo Tin lành
của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ tâm lý học
Hà nội - 2009
Đại học học Quốc gia hà nội
Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
-------***-------
Tô Thúy Hạnh
Thực trạng niềm tin đối với Đạo Tin lành
của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay
Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80
Luận văn thạc sĩ tâm lý học
Giáo viên hướng dẫn khoa học:
6. Ph-ơng pháp nghiên cứu
5
7. Cấu trúc của luận văn
6
Ch-ơng I. Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
7
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về niềm tin tôn giáo
7
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả n-ớc ngoài
7
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong n-ớc
9
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
11
1.2.1.Tôn giáo
1.3.2. Niềm tin tôn giáo có tính ổn định, bền vững
24
1.4. Cấu trúc tâm lý của niềm tin tôn giáo
24
1.4.1. Thành tố nhận thức
26
1.4.2. Thành tố xúc cảm, tình cảm
26
1
1.4.3. Thành tố ý chí hành động
26
1.5. Một số đặc điểm tâm lý của ng-ời Hmông
26
1.5.1. Tâm lý cộng đồng dân tộc, dòng họ truyền thống
27
36
1.7.4. Niềm tin vào đạo Tin lành Vàng Trứ đòi hỏi ng-ời Hmông 36
phải từ bỏ nhiều phong tục tập quán truyền thống
1.8. Tiểu kết ch-ơng 1
37
Ch-ơng 2. tổ chức và Ph-ơng pháp nghiên cứu
38
2.1. Ph-ơng pháp luận nghiên cứu của đề tài
38
2.1.1. Nghiên cứu niềm tin đối với đạo Tin lành từ góc độ của tâm lý 38
học xã hội
2.1.2. Nghiên cứu niềm tin đối với đạo Tin lành từ góc độ văn hoá và 38
tôn giáo
2.1.3. Nghiên cứu niềm tin đối với đạo Tin lành mang tính hệ thống
38
2.2. Các ph-ơng pháp nghiên cứu
39
2.2.1. Ph-ơng pháp nghiên cứu tài liệu
3.1.1. Dân tộc Hmông ở khu vực phía Bắc n-ớc ta dân số và các đặc 45
điểm kinh tế - xã hội
3.1.2. Đời sống tâm linh và sự chuyển đạo của dân tộc Hmông phía 51
Bắc n-ớc ta
3.2. Thực trạng niềm tin tôn giáo của ng-ời Hmông ở một số tỉnh phía 67
Bắc n-ớc ta hiện nay
3.2.1. Niềm tin vào Đức chúa trời Vàng Trứ
68
3.2.2. Niềm tin của các tín đồ Hmông vào sự tồn tại một thế giới khác
81
3.2.3. Niềm tin vào con ng-ời
88
3.3. Tiểu kết ch-ơng 3
89
Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
91
2. Kiến nghị
93
lành hơn. Sự phát triển đạo Tin lành đã có những tác động cả tích cực và tiêu cực
đến đời sống xã hội ở một số khu vực nước ta, đặc biệt là những tác động tiêu cực.
Đạo Tin lành bị các thế lực phản động lợi dụng để gây mất ổn định xã hội ở nước
ta. Việc nghiên cứu đạo Tin lành nói chung và nghiên cứu đạo Tin lành của dân tộc
Hmông ở một số tỉnh phía Bắc nói riêng đã trở nên một nhiệm vụ có tính thời sự
và có ý nghĩa thực tiễn cao hiện nay.
Một yếu tố quan trọng hàng đầu tác động đến sự phát triển đạo Tin lành là niềm
tin tôn giáo. Đây là thành tố tâm lý chủ yếu nhất của các tín đồ và của các tôn
giáo. Do vậy, việc nghiên cứu niềm tin tôn giáo của người Hmông sẽ giúp ta hiểu
được đời sống tâm lý tôn giáo của họ, lý giải được sự phát triển và ảnh hưởng của
đạo Tin lành đối với dân tộc này.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thực
trạng niềm tin đối với với đạo Tin lành của các tín đồ người Hmông ở một số tỉnh
miền núi Tây Bắc Việt Nam hiện nay”.
2. Mục đích nghiên cứu
Từ kết quả nghiên cứu thực trạng về niềm tin đối với đạo Tin lành của người
Hmông ở Tây Bắc đề xuất một số kiến nghị nhằm tạo niềm tin đúng đắn của tín đồ
người Hmông đối với đạo Tin lành, đồng thời phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt
tiêu cực của đạo Tin lành đối với họ.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về niềm tin đối với đạo Tin lành của các
tín đồ tôn giáo.
3.2. Nghiên cứu thực trạng về niềm tin đối với đạo Tin lành của người Hmông ở
khu vực phía Bắc nước ta hiện nay.
3.3. Đề xuất một số kiến nghị góp phần quản lý đạo Tin lành có hiệu quả hơn và
giúp cho các tín đồ không bị tác động tiêu cực của tôn giáo này.
Điện Biên có 20.257 người; Lai Châu có 14.924 người; Cao Bằng có 9.721 người; Lào Cai: 7.193; Bắc cạn: 6.895;
Hà Giang: 5.605; Thanh Hoá: 4.479 người… (Nguyễn Thanh Xuân, 2005)
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp quan sát có tham dự.
- Phương pháp mô phỏng thông kê toán học.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phần
phụ lục, đề tài nghiên cứu gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3. Kết quả nghiên cứu.
Chương 1
Cơ sở lý luận của niềm tin đối với đạo tin lành
1.1. Tổng quan Lịch sử nghiên cứu về niềm tin tôn giáo
1.1.1. Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Niềm tin tôn giáo được các tác giả phương Tây tìm hiểu từ nhiều góc độ khác
nhau. Có thể nêu ra một số quan niệm theo các khuynh hướng khác nhau về niềm
tin tôn giáo.
Có thể nói tôn giáo nói chung và niềm tin tôn giáo nói riêng được các nhà triết
học rất quan tâm. Họ đã nghiên cứu nguồn gốc nảy sinh niềm tin tôn giáo, cho rằng
tôn giáo là do các trạng thái tâm lý con người gây nên, với những nghiên cứu của
Đêmôcrit (460-370 TCN), Lútvích Phơbách (1804-1872). Các nhà triết học này
cho rằng: do điều kiện sống khó khăn và sự bế tắc đã tạo cho con người những
Lành là niềm tin vào Chúa Trời – người có quyền uy tối thượng [7, tr.16]. E.
Durkheim (1858-1917), nhà xã hội học người Pháp cho rằng niềm tin tôn giáo là
niềm tin vào một vị thần siêu việt hay vào cái siêu nhiên [theo 7, tr.16].
Trong ba thập kỷ cuối của thế kỷ XX, một số tác giả châu á đã nghiên cứu về
sự phát triển đạo Tin lành, trong đó có niềm tin đối với đạo Tin lành của các tín đồ
ở khu vực châu á. Đó là các tác giả Kou Seying, Vayong Moua, Kaoly Yang, Tou
T.Yang, G.l.Lee và các tác giả phương Tây như F.F. Clackin, N.J. Hefler, B.N.
Grimmett, R. Julian... Các tác giả này đã tìm hiểu các nguyên nhân của sự phát
triển đạo Tin lành ở khu vực châu á, trong đó có vấn đề từ bỏ các tín ngưỡng
truyền thống sang ki tô giáo. Trong khi phân tích các nguyên nhân này các tác giả
đã phân tích niềm tin của các tín đồ đối với đạo Tin lành như một yếu tố quan
trọng của việc chuyển đối tín ngưỡng.
Là một khía cạnh tâm lý đặc biệt của con người, niềm tin tôn giáo được nhiều
nhà tâm lý học quan tâm. P. Johnson, nhà Tâm lý học người Mĩ (1957), trong cuốn
“Tâm lý học tôn giáo”, theo tác giả, yếu tố quan trọng nhất dẫn đến nguồn gốc tâm
lý nảy sinh tôn giáo là sự sợ hãi, đặc biệt là sự sợ hãi trước cái chết [7, tr.16].
Năm 1914-1933, nhà Tâm lý học Mĩ, gốc Thụy Sĩ J.H. Leuba (1868-1946) đã
tiến hành nghiên cứu niềm tin tôn giáo của các nhà khoa học Mĩ và cho thấy tỷ lệ
đáng kể các nhà khoa học được hỏi tin vào Chúa. Năm 1916, tác giả viết cuốn
sách: “Niềm tin vào Chúa và sự bất tử”, trong đó đề cập đến nguồn gốc của niềm
tin tôn giáo. Niềm tin này được phát sinh từ hai nguồn: nhu cầu giải thích (do con
người muốn giải thích về các hiện tượng bí ẩn về cuộc sống) và nhu cầu tìm kiếm
sự giúp đỡ trong cuộc sống [7, tr.16].
Ngoài ra, nhà tâm lý học Nga D.M.Ugrinovich (1986) còn chỉ ra các đặc điểm
của nềm tin tôn giáo - đó là niềm tin hư ảo, niềm tin không có tính lôgíc và niềm
tin bền vững ở các tín đồ [7, tr.17].
Như vậy, các công trình nghiên cứu của nước ngoài đã trình bày một số vấn
đề về tâm lý học tôn giáo, niềm tin tôn giáo. Khi lý giải các khía cạnh của niềm tin
đẩy” như tâm lý nặng nề về quá khứ bi thương, bị chèn ép, luôn ước mơ về thời kỳ
hưng thịnh với “Vương quốc tam miêu”, những khó khăn về kinh tế, xã hội, tâm lý
mà người Hmông có thể đã trải qua? Những câu hỏi như vậy đang đặt ra nhu cầu
cấp bách phải tìm ra các câu trả lời từ góc độ tâm lý học.
Vũ Dũng (1998), trong công trình nghiên cứu về tâm lý học tôn giáo thể hiện
trong cuốn sách: “Tâm lý học tôn giáo” đã đề cập tới đặc điểm của niềm tin tôn
giáo dưới góc độ lý luận [1, tr.41-82]. Năm 2003 – 2004, tác giả đã nghiên cứu một
số vấn đề tâm lý của đạo Tin lành ở Tây Nguyên trong khuôn khổ của Dự án điều
tra cơ bản cấp Nhà nước: “Những yếu tố tâm lý dân tộc ảnh hưởng đến sự ổn định
và phát triển ở Tây Nguyên hiện nay” [2]. Từ 2004 – 2005, trong khuôn khổ của đề
tài độc lập cấp Nhà nước: “Những đặc điểm tâm lý cơ bản của cộng đồng người
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển kinh tế – xã
hội ở khu vực này”, tác giả tiếp tục nghiên cứu về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo của
các dân tộc bản địa ở Tây Nguyên [3]. Từ kết quả nghiên cứu của hai đề tài này,
tác giả đã chỉ ra một số vấn đề tâm lý của các tín đồ Tin lành ở Tây Nguyên như
nhận thức về đạo Tin lành của các dân tộc thiểu số là còn hạn chế, đưa ra các
nguyên nhân tâm lý dẫn các tín đồ đến với đạo Tin lành. Ngoài ra, trong nghiên
cứu của mình, tác giả còn phân tích một số hành vi tôn giáo phản ánh niềm tin tôn
giáo của các tín đồ.
Một số tác giả như Trương Ngôn, Phan Viết Phong, Hoàng Minh Đô đã
nghiên cứu nhận thức của các tín đồ đạo Tin lành, thực trạng tuyên truyền đạo Tin
lành vào Việt Nam trong thời gian qua.
Vương Kim Oanh đã tìm hiểu nhận thức và niềm tin đối với đạo Tin lành của
các dân tộc thiểu số ở tỉnh Gia Lai, khu vực Tây Nguyên.
Nhìn chung, các nghiên cứu về niềm tin tôn giáo đối với các dân tộc thiểu số ở
nước ta còn ít ỏi về cả mặt lý luận và thực tiễn, chỉ có ít một số công trình nghiên
cứu từ góc độ tâm lý học. Đồng thời, các công trình nghiên cứu trên cũng chưa đề
cập một cách hệ thống về lý luận và thực trạng niềm tin tôn giáo nói chung cũng
một cách trực giác và tác động một cách hư ảo với con người, nhằm lý giải những
vấn đề ở trần thế cũng như thế giới bên kia” [13, tr. 23]. ở đây, tác giả nhấn mạnh
tới yếu tố niềm tin của cộng đồng người vào đối tượng là lực lượng siêu nhiên. Lực
lượng này là vô hình, không có thực, mang tính “thiêng”, được con người chấp
nhận một cách trực giác. Ngoài ra, tác giả cũng đề cầp tới các yếu tố cấu thành một
tôn giáo bao gồm hệ thống niềm tin, nội dung và hành vi tôn giáo.
Trong từ điển Tôn giáo, tác giả Mai Thanh Hải quan niệm: “Tôn giáo là một
hình thái nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực qua các khái niệm, hình ảnh mang
tính ảo ảnh, ảo vọng. Đó là niềm tin vào đấng siêu nhân, vô hình mà con người cho
là linh thiêng, được con người sùng bái và cầu khấn để nhờ che cậy hoặc ban phát
điều tốt lành” [4, tr.642-644].
Từ những quan đểm trên, có thể đưa ra một khái niệm về tôn giáo như sau:
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh mối quan hệ giữa con người với
các lực lượng siêu nhiên, biểu hiện niềm tin của con người vào các lực lượng siêu
nhiên, được thể hiện thông qua hệ thống giáo lý, luật lệ, theo một hình thức lễ nghi
nhất định nhằm tập hợp những thành viên trong một cộng đồng xã hội.
Khi đề cập đến tôn giáo, người ta cũng thường đề cập đến tín ngưỡng, thậm
chí, nhiều khi cụm từ “tín ngưỡng tôn giáo” được dùng để nói về một tôn giáo nào
đó. Tuy nhiên, khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo là hai khái niệm không thể đồng
nhất những cũng có những điểm giao thoa.
Khái niệm tín ngưỡng có thể được hiểu như sau: Tín ngưỡng là niềm tin và
sự ngưỡng mộ về một lực lượng siêu nhiên hoặc một đối tượng nào đó mà cá nhân,
nhóm hoặc cộng đồng tôn thờ.
Như vậy, cả tôn giáo và tín ngưỡng đều nói tới niềm tin vào một lực lượng
siêu nhiên. Tuy nhiên, chúng có hai điểm khác nhau cơ bản:
- Thứ nhất, đối tượng của niềm tin trong tín ngưỡng rộng hơn trong tôn giáo.
Đối tượng của niềm tin trong tín ngưỡng có thể là lực lượng siêu nhiên (thần,
thánh…) như đối tượng của niềm tin tôn giáo nhưng ngoài ra, nó có thể là những
niềm tin tôn giáo, nhu cầu tôn giáo, tình cảm tôn giáo, hành vi tôn giáo… của cá
nhân, cộng đồng, nhóm…
1.2.2. Niềm tin
A.V.Petrovski cho rằng, niềm tin là trạng thái tâm lý đặc biệt, thể hiện ở việc
con người chấp nhận hoàn toàn không điều kiện các thông tin, văn bản, hiện tượng,
sự kiện nào đó, quy định một số hành vi, phán đoán, chuẩn mực ứng xử quan hệ [5,
tr.53]. ở đây, “đối tượng” mà cá nhân đặt niềm tin vừa là các sự vật hiện tượng bên
ngoài (thông tin, sự kiện, hiện tượng), vừa là kết quả kết quả nhận thức của các cá
nhân về các sự kiện (biểu tượng, suy luận của bản thân).
Theo nhà tâm lý học người Mĩ J.H.Leuba, niềm tin (bao gồm niềm tin tôn giáo)
bao hàm sự tin tưởng vào tính đúng đắn của những phán đoán hay các quan điểm
nhất định, tình cảm, nhu cầu của cá nhân, ý chí thực hiện những nhu cầu đó [1, tr.
56].
Trong cuốn “Tâm lý học tôn giáo”, niềm tin là định hướng giá trị được xác
định vững chắc trong nhận thức và chi phối hành động của cá nhân. Niềm tin có
vai trò hết sức quan trọng đối với con người. Nó có thể làm thay đổi ý thức, động
cơ, tình cảm và lối sống của cá nhân [1, tr.56 ].
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan,
là kết tinh của các quan điểm, tri thức, rung cảm, ý chí, được con người thể hiện,
trở thành chân lý bền vững bên trong mỗi cá nhân [7, tr.53].
1.2.3. Niềm tin tôn giáo
G.Gephund nghiên cứu niềm tin tôn giáo từ góc độ các thành phần tâm lý
cấu thành niềm tin. Ông cho rằng, tình cảm là đặc điểm cơ bản nhất của mọi tôn
giáo và là cơ sở của niềm tin tôn giáo [5, tr.54].
Theo E.Ôđôgerti, niềm tin tôn giáo là niềm tin hướng vào các lực lượng siêu
nhiên, tồn tại bên ngoài không gian, thời gian và không thể đạt được bằng kinh
nghiệm con người. Niềm tin đó không phải là kết quả của hoạt động nhận thức, mà
là tiền đề, điểm khởi đầu của hoạt động này, nguồn gốc của nó bắt nguồn từ “sự
là Thiên chúa, Đức Chúa Trời, thế giới khác là Thiên đường, địa ngục. Vì thế, khi
đề cập đến khách thể siêu nhiên mà đối tượng của niềm tin tôn giáo hướng tới cần
phải xác định rõ khách thể theo quan niệm của tôn giáo cụ thể.
Từ một số quan niệm trên, có thể rút ra kết luận sau: Niềm tin tôn giáo là niềm
tin của cá nhân tín đồ. Đó là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vào thế giới hư
ảo (thế giới bên kia) do con người tưởng tượng ra theo quan niệm của tôn giáo.
Đây là niềm tin vào luật lệ, lễ nghi và tổ chức của một tôn giáo nào đó, thể
hiện rõ ở hành động của cá nhân thực hành các nghi lễ tôn giáo, ở các hành động
sinh hoạt trong tổ chức tôn giáo đó.
1.2.4. Đạo Tin lành
Đầu thế kỷ XVI, do sự khủng hoảng về uy tín, ảnh hưởng của Giáo hội Công
giáo cùng với các nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội, xuất hiện phong trào
cải cách tôn giáo ở châu Âu, bắt đầu từ nước Đức, rồi lan sang Thuỵ Sỹ, Pháp,
Anh, Nauy, Đan Mạch… hình thành một tôn giáo mới tách khỏi Công giáo - Đạo
Tin lành.
Đạo Tin lành có nhiều tên gọi như: đạo Thệ phản, đạo Cải cách, đạo Cơ đốc,
Tân giáo.
ở Việt Nam, đạo Tin lành được truyền bá vào Việt Nam vào những năm cuối
thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, do hội Truyền giáo Phúc âm liên hiệp Tin lành Mĩ
truyền vào. Đạo Tin lành là một trong ba trường phái chính của Kitô giáo ra đời từ
trong phong trào Cải cách tôn giáo, tách ra từ giáo hội công giáo tại Châu Âu thế kỉ
XVI… Đạo Tin lành ở Việt Nam hiện nay tồn tại dưới hai tổ chức : Hội thánh Tin
lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam). Theo tác
giả Đỗ Quang Hưng các tín đồ đạo Tin lành ở nước ta hiện nay có hơn 500.000 tín
đồ (Đỗ Quang Hưng, 2006). Theo Tạp chí Operation World năm 1998 thì số
lượng tín đồ đạo Tin lành ở nước ta là 600.000 người. Số liệu này được giới chức
Tin lành Việt Nam cho là chính xác. Thực tế khó có thể thống kê chính xác số
lượng tín đồ của đạo Tin lành ở nước ta, vì số người theo đạo và bỏ đạo thay đổi
Như vậy, Tin lành là một tôn giáo được tách ra từ Công giáo, song có nhiều
cải cách, đổi mới về giáo lý, luật tục, lễ nghi và tổ chức giáo hội. Vì thế, tôn giáo
này tuy du nhập vào nước ta muộn hơn so với các tôn giáo khác nhưng hiện nay
đang có chiều hướng phát triển ở những vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, nơi có
trình độ dân trí, học vấn thấp.
Các nhà nghiên cứu đều thấy rằng đạo Tin lành là một tôn giáo có đường
hướng và cách thức hoạt động rất linh hoạt, năng động, luôn đổi mới và thích nghi
để phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Đặc biệt, đạo Tin lành là một tôn giáo quan tâm
và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, các lĩnh vực từ thiện và nhân đạo.
Những đặc tính trên đây cùng với việc sử dụng các phương cách truyền đạo đặc
biệt làm cho đạo Tin lành rất thích hợp, thậm chí “hấp dẫn” với các dân tộc thiểu
số như người Hmông, vốn có tính tự lập cao, thích tự do phóng khoáng, chưa có
tôn giáo chính thống, đang đi từ tín ngưỡng đa thần đến tôn giáo nhất thần.
1.2.5. Tín đồ - Tín đồ đạo Tin lành
Theo Đại từ điển tiếng Việt, tín đồ được hiểu theo nghĩa rộng, là người theo
một tôn giáo nào đó [7, tr.38]. Chẳng hạn, cá nhân tới Chùa lễ Phật vào ngày rằm,
mồng một có thể được coi là tín đồ “theo” đạo Phật.
Với Mai Thanh Hải, tác giả quan niệm hẹp hơn: “Tín đồ là những ai tin ở
những gì một tôn giáo dạy bảo và qua một thủ tục nhập đạo” [4, tr.633]. Như vậy,
chỉ khi cá nhân có niềm tin vào tôn giáo và gia nhập vào tôn giáo đó thì mới được
coi là tín đồ. Tuy nhiên, ở đây cũng cần phân biệt với những người có niềm tin vào
tôn giáo nào đó nhưng không theo tôn giáo (không phải là tín đồ). Ví dụ như, một
cá nhân tin vào giáo lý đạo Phật, đi lễ chùa, làm điều thiện nhưng lại không phải là
tín đồ của đạo Phật.
Như vậy, có thể đưa quan niệm về tín đồ: đó là những người có niềm tin vào
một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận.
Trong đạo Tin lành, chỉ công nhận tín đồ theo đạo khi cá nhân đủ tuổi để có
xét: “ Có thể nói rằng, con người tạo ra thần thánh để mà tin, không phải chỉ vì
cảm nhận thấy sự bất lực, sự kém cỏi mà còn xuất phát từ một nhu cầu muốn được
bất tử trong một thế giới vĩnh hằng”. Do đó, niềm tin tôn giáo là niềm tin vào
những khách thể không tồn tại trong hiện thực, không có căn cứ khoa học.
Mỗi tôn giáo khác nhau, quan niệm về lực lượng siêu nhiên là khác nhau
nhưng chúng đều có một đặc điểm chung. Đó là lực lượng do con người tưởng
tượng ra. Với những người có niềm tin tôn giáo thì họ tin rằng các lực lượng đó có
thật, tồn tại thực, ảnh hưởng đến cuộc sống thực tại của họ.
Chẳng hạn, với những người theo đạo Hồi, họ cho rằng Thánh Ala là Thượng
đế, các tín đồ đạo Phật lại chỉ cần có Bụt, là Thượng đế duy nhất… Những người
theo đạo Tin lành có niềm tin vào sự tồn tại, vào sức mạnh quyền uy của Đức Chúa
Trời. Họ cho rằng Đức Chúa Trời có 3 ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức
Thánh Linh. Họ tin rằng Đức Chúa Cha là người tạo nên trời đất và muôn loài,
Đức Chúa Con là đấng cứu con người khỏi tội lỗi. Đức Thánh Linh hoàn tất công
việc cứu chuộc nhờ sự thánh hoá.
Cùng với niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên thần bí của mỗi tôn giáo
hướng tới, các cá nhân còn có niềm tin vào một thế giới thứ hai, là một cuộc sống
thứ hai sau khi chết. Thế giới đó theo cách gọi của Đạo Tin lành, Công giáo là
Thiên đường, Địa ngục. Theo họ, Thiên đường là nơi Đức Chúa Trời sinh sống, đó