ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------
DƢƠNG THÙY LƢƠNG
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA PHỤ NỮ SAU LY HÔN
(Nghiên cứu trƣờng hợp phụ nữ sau ly hôn tại Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------------
DƢƠNG THÙY LƢƠNG
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ
ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA PHỤ NỮ SAU LY HÔN
(Nghiên cứu trƣờng hợp phụ nữ sau ly hôn tại Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội)
CHUYÊN NGHÀNH : XÃ HỘI HỌC
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : PGS. TS. NGUYỄN THỊ KIM HOA
2.1. Đời sống vật chất của phụ nữ sau ly hôn ............................................................ 28
2.1.1. Vấn đề nhà ở của phụ nữ sau ly hôn ......................................................... 29
2.1.2. Vấn đề tài sản của phụ nữ sau ly hôn ........................................................ 34
2.1.3.Về vấn đề công việc tạo dựng kinh tế sau ly hôn. ..................................... 37
2.1.4.Vấn đề chi tiêu trong cuộc sống của phụ nữ sau ly hôn ............................ 41
2.2.Đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn............................................................ 49
2.2.1. Các quan hệ xã hội của phụ nữ sau ly hôn ................................................ 50
2.2.2. Đời sống tinh thần của phụ nữ với vấn đề chăm sóc con cái .................... 66
2.2.3. Sử dụng thời gian nhàn rỗi của phụ nữ sau ly hôn.................................... 71
CHƢƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA PHỤ NỮ SAU
LY HÔN ........................................................................................................................... 79
3.1.Các yếu tố tác động đến đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ
sau ly hôn .......................................................................................................................... 79
3.2.Giải pháp để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau
ly hôn. ................................................................................................................................ 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................................ 100
PHỤ LỤC THAM KHẢO ........................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................. 105
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
[Sắp xếp theo alphabet chữ cái của từ viết tắt]
TỪ VIẾT TẮT
DIỄN GIẢI
MLHQ
KDTM
Kinh doanh thƣơng mại
XLHC
Xử lý hành chính
ĐH- CĐ
Đại học - cao đẳng
SĐH
Sau đại học
DANH MỤC BẢNG
Bảng số liệu 1.1 Bảng thống kê số vụ án thụ lý tại quận Thanh Xuân năm 2016 .25
Bảng số liệu 2.1 : So sánh thu nhập trƣớc và sau ly hôn của phụ nữ .....................39
Bảng số liệu 2.2: Bảng chi tiêu trong 1 tháng của phụ nữ sau ly hôn ( ngƣời) ......47
Bảng số liệu 2.3: Tự đánh giá về đời sống tinh thần của bản thân ( ngƣời) ..........50
Bảng số liệu 2.4: Tỷ lệ độ tuổi mắc bệnh trầm cảm ( phần trăm)...........................57
Bảng 2.5: Các lựa chọn để nâng cao sức khỏe tinh thần (ngƣời) ............................73
Bảng số liệu 2.6: Các lựa chọn hình thức nâng cao hoạt động tinh thần của phụ
nữ sau ly hôn( ngƣời)...................................................................................................74
Bảng số liệu 2.7: Nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn
(Ngƣời)...........................................................................................................................76
nhiều lúc không theo ý muốn, những gia đình không hạnh phúc dễ dẫn đến tan vỡ và
việc ly hôn là không thể tránh khỏi. Vấn đề ly hôn cũng là một vấn đề đƣợc quan tâm
hiện nay. Ly hôn giờ đây không chỉ đƣợc nhìn với một hƣớng tiêu cực mà còn đƣợc
nhìn theo hƣớng tích cực. Ly hôn sẽ giúp giải thoát những vấn đề không thể tháo gỡ,
giảm bớt tối đa hoặc ngừng phát triển các mâu thuẫn, giải phóng con ngƣời và đặc biệt
là giải phóng phụ nữ.
Việc trải qua một vụ ly hôn có thể là vô cùng thƣơng đau cho mọi ngƣời có liên
quan. Ly hôn là chấm dứt mối quan hệ trong hôn nhân, sau ly hôn là sự bắt đầu lại
cuộc sống mới cho cả hai ngƣời, đặc biệt là sự bắt đầu lại một cuộc sống mới của
ngƣời phụ nữ. Ƣu thế sau ly hôn phần lớn dành cho đàn ông. Còn với phụ nữ sau ly
hôn thì đa phần lại là sự khó khăn cùng nhiều thiệt thòi. Nghiên cứu về vấn đề ly hôn
không mới mẻ, nhƣng khi nghiên cứu về cuộc sống sau ly hôn của phụ nữ lại là vấn đề
phức tạp và cần thời gian lâu dài, và cần đƣợc tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau.
Sau ly hôn, các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hƣởng đến đời sống vật chất và
2
đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn nhƣ thế nào? Con ngƣời ta muốn tồn tại và
phát triển trƣớc hết phải có ăn, mặc, ở đi lại… rồi để thỏa mãn và hoàn thiện mình hơn
sau khi thỏa mãn đời sống vật chất ngƣời ta sẽ phát triển đời sống tinh thần. Điều gì
gây ảnh hƣởng nhiều nhất đến đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau ly hôn?
Trong luận văn này tôi đề cập đến : “ Thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của
phụ nữ sau ly hôn ( Nghiên cứu tại Quận thanh Xuân thuộc thành phố Hà Nội)”. Với
mong muốn tìm hiểu thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau ly hôn
hiện nay nhƣ thế nào? Những vấn đề mà nghiên cứu này sẽ góp phần tìm ra đƣợc thực
trạng vấn đề đời sống của phụ nữ sau ly hôn, các giải pháp phụ nữ sau ly hôn lựa chọn
để vƣợt qua khó khăn. Để chúng ta thấy đƣợc những góc khuất về những mảnh đời
không may mắn trong hôn nhân. Và khi mà vấn đề ly hôn không thể tránh khỏi thì làm
thế nào để việc ly hôn với ý nghĩa đúng đắn thì đời sống vật chất và tinh thần của phụ
(bất bình đẳng chủng tộc, giai cấp, giới) thì quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ
chính là nguồn gốc đích thực về mặt lịch sử và xã hội của những mâu thuẫn cơ bản,
chủ yếu trong quan hệ vợ chồng. Từ đó, ông đã xây dựng quan điểm về giải phóng phụ
nữ là muốn giải phóng phụ nữ thì phải xây dựng xã hội mới - xã hội không còn áp bức
bóc lột của ngƣời này với ngƣời khác, của giai cấp này với giai cấp khác. Nhƣ vậy để
xây dựng xã hội công bằng văn minh thì vấn đề quan trọng luôn đƣợc đặt ra là phải
giải phóng phụ nữ, phải đảm bảo cho phụ nữ đƣợc bình đẳng với nam giới trên mọi
phƣơng diện. Trên cơ sở đó vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ đã đƣợc nhiều văn bản
pháp lý quy định nhƣ: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948, Công ƣớc về các
quyền kinh tế xã hội và văn hóa 1966, Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị 1966, Công ƣớc về loại trừ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979
(cedaw). Những công ƣớc đó đã đƣợc nhà nƣớc ta thông qua. Bảo vệ quyền bình đẳng
của phụ nữ cũng đƣợc ghi nhận trong các văn bản của nhà nƣớc từ những bản Hiến
pháp 1946, 1959, 1986 đến Hiến pháp hiện hành 1992 và trong Luật hôn nhân gia đình
đầu tiên của nhà nƣớc đến Luật hiện hành năm 2000. Pháp luật hôn nhân và gia đình
ngoài việc bảo vệ quyền bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng còn bảo vệ
quyền làm mẹ của ngƣời phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ trong trƣờng hợp ly hôn.
Trong các nhóm phụ nữ yếu thế ở Việt Nam hiện nay thì nhóm phụ nữ ly hôn là
nhóm ít nhận đƣợc sự quan tâm, hỗ trợ từ phía cộng đồng xã hội. Trong các nghiên
4
cứu khoa học xã hội thì vấn đề phụ nữ ly hôn nói chung và phụ nữ sau ly hôn nhận
nuôi con cũng ít đƣợc bàn tới. Vấn đề này chỉ đƣợc đề cập đan xen trong các công
trình nghiên cứu về phụ nữ nông thôn, các nghiên cứu về phụ nữ đơn thân và các công
trình nghiên cứu về nhóm phụ nữ nghèo. Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tôi nhận
thấy rằng tính đến thời điểm hiện nay những nghiên cứu riêng về phụ nữ ly hôn ở Việt
Nam chỉ có một vài nghiên cứu, ngoài ra chủ yếu là các bài viết trên các tạp chí và các
bài báo. Nghiên cứu đầu tiên mà tác giả muốn đề cập đến là cuốn sách có liên quan
tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ, NXB Khoa học xã hội, năm 2002
[35] đã chỉ ra hậu quả mà ly hôn để lại phần nhiều ảnh hƣởng đến phụ nữ và con cái
của họ. Nghiên cứu đã mô tả thực trạng cuộc sống cũng nhƣ tâm lý, nhu cầu,
nguyện vọng của phụ nữ đơn thân nuôi con sau ly hôn qua một số trƣờng hợp điển
cứu. “Quyền của phụ nữ” – khía cạnh đƣợc đề cập đến ở nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ
pháp luật, góc nhìn xã hôi, vấn đề an sinh và quyền con ngƣời. Về vấn đề này có một
số công trình nghiên cứu nổi bật nhƣ luận văn thạc sĩ “Quyền của phụ nữ theo pháp
luật Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Mai Hiên – khoa luật trƣờng Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2008. [13] Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề về quyền của phụ
nữ và pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam. Phân tích thực trạng và thực tiễn thi
hành pháp luật về các quyền của phụ nữ Việt Nam trong một số lĩnh vực nhƣ chính trị,
kinh tế, lao động, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao,
y tế….Đề xuất một số phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền của
phụ nữ và những giải pháp này nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quyền
của phụ nữ ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Quyền của phụ nữ đƣợc đề cập đến cả trong “Hiến pháp của nước CHXHCN
Việt Nam” [48] , bên cạnh những điều khoản thể hiện quyền và lợi ích của công dân
nói chung, hiến pháp cũng có những quy định cụ thể về việc đảm bảo quyền và lợi ích
cho đối tƣợng phụ nữ. Đây là căn cứ để chúng ta có thể trợ giúp cho những đối tƣợng
là phụ nữ sau ly hôn đơn thân nuôi con trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ cũng
nhƣ việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ. Cụ thể, trong điều 40 của hiến pháp
nƣớc CHXHCN Việt Nam quy định “Nhà nước, xã hội và mọi công dân có trách
nhiệm bảo vệ, chăm sóc cho bà mẹ và trẻ em”; trong điều 52, chƣơng 5 – Hiến pháp
nƣớc CHXHCN Việt Nam quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
Hay tại điều 63 của chƣơng này cũng khẳn định: “Công dân nữ và nam có quyền
6
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình. Nghiêm cấm
7
thiểu ly hôn. Hoặc với trƣờng hợp nếu ly hôn là việc cần làm để giải quyết việc hôn
nhân không thể tiếp tục, thì cần làm gì để đảm bảo an toàn cho cuộc sống của phụ
nữ sau ly hôn và nâng cao chất lƣợng đời sống của phụ nữ sau ly hôn. Vì đa phần
phụ nữ sau ly hôn nhận nuôi con, nên khi nâng cao đƣợc đời sống vật chất và tinh
thần của phụ nữ sau ly hôn cũng là đảm bảo môi trƣờng sống tốt nhất cho một bộ
phận thế hệ trẻ em không may mắn sinh ra trong gia đình bị tan vỡ, mầm non tƣơng
lai của đất nƣớc sau này.
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục tiêu nghiên cứu
4.1.1. Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ
sau ly hôn nghiên cứu tại quận Thanh Xuân thuộc thành phố Hà Nội.
4.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly
hôn trên địa bàn Quận Thanh Xuân thuộc thành phố Hà Nội hiện nay.
- Làm rõ một số yếu tố tác động đến đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau ly
hôn hiện nay.
- Tìm hiểu các giải pháp để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ sau ly
hôn hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp và phân tích những cơ sở lý luận nghiên cứu về thực trạng đời sống
vật chất và tinh thần của phụ nữ sau ly hôn hiện nay.
- Đánh giá thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly
hôn hiện nay.
- Tìm hiểu mối liên hệ để giảm thiểu ly hôn, nâng cao đời sống vật chất tinh thần
của phụ nữ sau ly hôn.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5. 1 Đối tƣợng nghiên cứu
- Đời sống vật chất của phụ nữ sau ly hôn vô cùng khó khăn
- Đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly hôn rất thoải mái, hạnh phúc.
9
- Các yếu tố cá nhân nội tại của ngƣời phụ nữ sau ly hôn giúp đời sống vật chất
và tinh thần của họ phát triển tốt hơn là yếu tố xã hội.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Thu thập thông tin thứ cấp là các tài liệu nghiên cứu đi trƣớc, các sách, tạp chí,
luận văn, luận án có liên quan đến đề tài, những tƣ liệu về địa phƣơng.
Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để tìm hiểu khái quát những vấn đề liên quan
đến nội dung nghiên cứu của đề tài thông qua các nghiên cứu về hiện tƣợng ly hôn,
những nghiên cứu về hành vi ly hôn dƣới nhiều góc độ xã hội nói chung và những
nghiên cứu về ly hôn dƣới góc độ xã hội nói riêng. Qua đó có đƣợc sự đối chiếu, so
sánh nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu.
7.2. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu này, các phỏng vấn sâu thực hiện nhằm:
Tìm hiểu về vấn đề đời sống vật chất và đời sống tinh thần của phụ nữ sau ly
hôn.
Tổng số phỏng vấn sâu đã thực hiện: 20 phỏng vấn sâu. Để thực hiện luận văn đã
tiến hành chọn mẫu nghiên cứu trên địa bàn quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.
Quận Thanh Xuân với 11 phƣờng, chọn 20 trƣờng hợp để phỏng vấn sâu. Lúc đầu, với
ý định thu thấp thông tin ly hôn và các trƣờng hợp sau ly hôn với việc phỏng vấn
những phụ nữ sau ly hôn theo dữ liệu của tòa án nhƣng không thành công. Tác giả
luận văn đã thực hiện lịch phỏng vấn với các trƣờng hợp đã ly hôn trong hội nhóm ly
hôn, đảm bảo mẫu đúng yêu cầu. Các mẫu phỏng vấn đều đƣợc biết rõ nhà ở, nơi làm
việc hay điều kiện kinh tế xã hội. Tác giả thu thập sâu thông tin ngƣời đƣợc hỏi. Các
tính linh hoạt của câu hỏi về vấn đề vật chất và tinh thần đƣợc duy trì. Nếu ngƣời đƣợc
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm công cụ.
1.1.1.1. Khái niệm đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Khái niệm “đời”: Đời tức là khoảng thời gian từ lúc sinh ra đến lúc chết đi. Toàn
thể những sự việc xảy ra trong một khoảng thời gian nói trên của một ngƣời. Phần của
khoảng thời gian đó dành chủ yếu cho một hoạt động. Mối quan hệ trực tiếp trong
dòng máu từ một ngƣời đến do mình sinh ra và cứ thế về sau. Sự diễn biến của các sự
việc giữa ngƣời với ngƣời. Hoặc khi muốn nhắc đến thời gian trị vì:“đời
vua..”[16:312].
Khái niệm “ đời sống” : Là toàn thể những hiện tƣợng sự trƣởng thành, chuyển
hóa, sinh sản…xảy ra trong cơ thể của sinh vật từ lúc sinh ra đến khi chết. Hoặc là số
lƣợng và mức độ thuận lợi của các phƣơng tiện phục vụ việc ăn, ở, mặc, đi lại, giải
trí… của những gì phục vụ sự sống của con ngƣời ví dụ nhƣ trong câu: nâng cao đời
sống.. hay nói về hoạt động về một mặt nào đó của xã hội, một cá nhân: ví dụ khi đề
cập đời sống văn hóa của nhân dân, đời sống tình cảm của nhà văn. [16:312,313]
Khi hiểu theo góc độ sinh học, đời sống chính là sự sống đang diễn ra (nói cách
khác, là quá trình tồn tại của một cơ thể sống). Tất cả mọi sinh vật, trong đó có con
ngƣời đều có quá trình sống (tồn tại gắn liền với sự vận động tự thân từ bên trong đến
bên ngoài cơ thể) trong một khoảng thời gian nhất định. Quá trình ấy gọi là đời sống,
song đó chủ yếu là đời sống sinh học. Con ngƣời khác với các loài động vật ở chỗ
không chỉ có đời sống sinh học. Nét đặc thù của đời sống mỗi con ngƣời là sống không
tách rời mối quan hệ với những ngƣời khác. Động vật trong tự nhiên cũng có những
mối quan hệ với nhau (quan hệ sinh sản, quan hệ bầy đàn, quan hệ đấu tranh sinh
tồn…) nhƣng đó vẫn là những mối quan hệ tự nhiên, đƣợc thực hiện thông qua những
phản xạ tự nhiên có hoặc không có điều kiện, còn đối với con ngƣời, đây là những mối
12
13
phát biểu của lãnh tụ. Hoặc khi đề cập vấn đề thuộc trí tuệ, phƣơng diện trừu tƣợng
của đời sống con ngƣời: ví dụ ngƣời ta hay nói sách báo là món ăn tinh thần. [16:773]
Tinh thần là tất cả những gì thuộc về đời sống nội tâm của con ngƣời nhƣ ý nghĩ
tâm tƣ tình cảm : Khi muốn nói đời sống tinh thần của thị dân. Thái độ hình thành
trong ý nghĩ để định hƣớng cho hành động một cách nhìn hay một quan niệm: Ví dụ
thƣờng nói tinh thần tự lực cánh sinh. Hoặc với ý nghĩa sâu xa, thực chất của một nội
dung nào đó: phải hiểu tinh thần …, thuộc vê tinh thần [14:1067]
Tình thần: Là tổng thể nối chung những ý nghĩ tình cảm, những hoạt động về nội
tâm con ngƣời: Đời sống tinh thần, giúp đỡ về vật chất và tinh thần. Cách nghĩ, cách
nhìn định hƣớng cho hành động, hành động của con ngƣời: Mất tinh thần, giữ vững
tinh thần, chuẩn bị tinh thần. Sự quan tâm thƣờng xuyên trên cơ sở những nhận thức
nhất định: Tinh thần làm việc tốt, tinh thần trách nhiệm cao. Cái sâu sắc nhất cốt yếu
nhất của một nội dung nào đó: Khi muốn nói đến tinh thần bài thơ, nắm vững tinh thần
nghị quyết. [10:1279]
Đời sống tinh thần
Vậy, với luận văn này, “ Đời sống tinh thần” đƣợc phân tích bao gồm toàn bộ
những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, niềm
tin, niềm vui hạnh phúc… Là quá trình, hoạt động, những mối quan hệ tinh thần của
con người phản ánh đời sống vật chất của họ. Thể hiện ngay sau ly hôn và sau ly hôn
nhiều năm khác nhau như thế nào. Đời sống tinh thần thể hiện những cái riêng, nhu
cầu, sở thích, ham muốn, khát vọng, sự nỗ lực, trạng thái khao khát, hưng phấn và
thỏa mãn tinh thần của phụ nữ sau ly hôn trong cuộc sống.
Mối quan hệ giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần: Cả vật chất và tinh
thần đều đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con ngƣời.Có mối quan hệ
tƣơng quan với nhau. Khi kết hợp đƣợc cả hai yếu tố trên thì cuộc sống luôn an nhiên
hạnh phúc. Vật chất có nhiều sẽ tạo ra tinh thần tốt dễ dàng, có mạnh về tiền bạc thì
con ngƣời hầu nhƣ luôn thoải mái. Và tinh thần cũng tạo nên vật chất vì khi có tinh
với nữ giới đó, bởi nó khiến ngƣời ta liên tƣởng đến những mặt xấu, hoặc đƣợc cho là
xấu, mang đặc trƣng và thƣờng gặp ở nữ giới (Ví dụ nhƣ lắm mồm, ích kỷ, nông
cạn...) Nếu so sánh hai từ "phụ nữ" và "đàn bà" thì "đàn bà" đƣợc cho là suồng sã hơn,
thô thiển hơn, tiêu cực hơn. Khi ngƣời Việt nói về một ngƣời đàn ông: Tay này "đàn
bà" lắm thì có nghĩa chê ngƣời đó tính khí nhỏ nhen.
15
Con gái chỉ những nữ giới trẻ, thƣờng ở độ tuổi vị thành niên và thanh niên,
những ngƣời đã có biểu hiện rõ ràng của giới tính nữ (nhỏ hơn nữa thì đƣợc gọi là bé
gái) nhƣng chƣa đƣợc cho là trƣởng thành (Có những cái nhìn khắt khe đòi hỏi một
phụ nữ phải trƣởng thành trên nhiều phƣơng diện nhƣ tâm lý, sinh lý, vị trí trong gia
đình, vị trí trong xã hội...) Không có ranh giới rõ rệt giữa "con gái" với "phụ nữ" hay
"đàn bà". Có những nữ giới mặc dù chƣa kết hôn, chƣa quan hệ tình dục... nhƣng có
nhiều biểu hiện tầm thƣờng vẫn bị coi là "đàn bà"; mặt khác, cũng có những nữ giới đã
trƣởng thành nhƣng dƣới một cái nhìn cao hơn, vẫn đƣợc cho là ngây thơ, trong sáng...
và đƣợc gọi là "cô gái". Ngoài ra, còn một số từ khác để chỉ đối tƣợng nữ giới, nhƣ
"mụ", "thị"... nhƣng ít đƣợc sử dụng và thể hiện thành kiến cá nhân.
Tóm lại, thật khó để đƣa ra những định nghĩa chính xác, và cũng không nên đƣa
ra những định nghĩa chính xác một cách quá máy móc. Chúng ta sử dụng các từ này
thƣờng dựa trên đánh giá của xã hội và đánh giá của bản thân về một hay nhiều đối
tƣợng nữ giới cụ thể. Trong mỗi trƣờng hợp nhất định, nên cân nhắc chọn cái nhìn nào
thích hợp, từ phía xã hội hay từ phía bản thân, hay kết hợp cả hai cái nhìn đó.
1.1.1.3. Khái niệm ly hôn
Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời
con ngƣời vì nó đƣợc xác lập trên cơ sở tình yêu thƣơng, gắn bó giữa vợ chồng. Tuy
nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu
thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn đƣợc đặt
ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình.
Nhƣng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng,
con cái. Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và bản
chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tố khác để đảm bảo
quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nƣớc và của xã hội.
Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật hôn nhân và gia đình nói
riêng, việc đƣa ra khái niệm đầy đủ về ly hôn có ý nghĩa quan trọng, phản ánh quan
điểm chung nhất của nhà nƣớc ta về ly hôn, tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản
chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điểu chỉnh của các quan hệ pháp
luật hôn nhân và gia đình về ly hôn và các vấn đề phát sinh khác.
17
Điều 8 Khoản 8 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 quy định: “8. Ly
hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu
của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;” [8]. Điều 3 Khoản 14 Luât Hôn nhân
và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng
theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”.
Nhìn chung, khái niệm ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có sự
thay đổi cơ bản so với khái niệm ly hôn trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Tuy nhiên, về bản chất, hai điều luật đó đều phản ánh đƣợc ly hôn là việc chấm dứt
quan hệ vợ chồng, quan hệ hôn nhân, để giúp các bên trong quan hệ hôn nhân đƣợc
giải thoát khỏi tình trạng hôn nhân đổ vỡ. Khái niệm ly hôn trong luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 mang tính chất chặt chẽ hơn khi đề cập tới nội dung: “bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Thông qua đó để phản ánh tính quyền lực của
nhà nƣớc, cũng nhƣ phản ánh bản chất của ly hôn nói riêng là mang tính chất giai
cấp. Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử, có vai trò quan trọng trong việc
đóng góp phần tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật. Phán quyết ly hôn của
Tòa án thể hiện dƣới hình thức: bản án, quyết định. Nếu hai bên vợ chồng thuận tình ly
hôn, giải quyết với nhau đƣợc tất cả các nội dung sau khi ly hôn thì Tòa án công nhận