Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến nay: Nghiên cứu trường hợp Manga Nhật Bản được phát hành tại Việt Nam: Luận văn ThS. Khu vực học: 60 22 01 13 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-------------------------------------------------------------------------

KUROKAWA YUICHIRO

Giao lƣu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm
1990 đến nay: Nghiên cứu trƣờng hợp Manga Nhật
Bản đƣợc phát hành tại Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2014



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
-------------------------------------------------------------------------

KUROKAWA YUICHIRO

Giao lƣu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm
1990 đến nay: Nghiên cứu trƣờng hợp Manga
Nhật Bản đƣợc phát hành tại Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÀNH VIỆT NAM HỌC
MÃ SỐ : 60220113


cứu trung thực, là kết quả từ các phân tích, đánh giá của cá nhân, không
sao chép, không trùng lặp với các đề tài hay tác giả nào.

Học viên

Kurokawa Yuichiro


MỤC LỤC
Trang

PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Mục tiêu chung và mục đích nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
1.2.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Giả thuyết nghiên cứu
1.4 Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
1.5 Tổng quan nghiên cứu
1.5.1 Nghiên cứu về giao lƣu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản
1.5.2 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở nƣớc ngoài
1.5.3 Nghiên cứu về truyện tranh Nhật Bản ở Việt Nam
CHƢƠNG 1: LỊCH SỬ TRUYỆN TRANH NHẬT BẢN
1.1 Điều kiện xuất hiện ý niệm về truyện tranh
1.2 Quan niệm truyện tranh Nhật Bản “Manga (漫画:Mạn họa)”

3
4
4
4

39
40
43
44

2.1 Truyện tranh Nhật đƣợc phổ biến trên thế giới
2.2 Truyện tranh Nhật đƣợc phổ biến tại thị trƣờng Việt Nam
2.2.1 Xuất hiện “Chú mèo thần kỳ” tại Việt Nam
2.2.2 Truyện tranh nƣớc ngoài tại Việt Nam đến đầu thập niên 1990
2.2.3 Một anh hùng truyện tranh của Việt Nam - “Dũng sĩ Hesman”
2.2.4 Sự phổ biến truyện tranh Nhật Bản
2.2.5 Phim hoạt hình đƣợc chuyển thể từ truyện tranh Nhật
2.2.6 Tiểu thuyết - Đối tác mới truyện tranh Nhật đối với độc giả sau
tuổi đọc truyện tranh
2.2.7 Sự phát triển của truyện tranh Việt Nam
1

45


2.3. Những nội dung tranh cãi liên quan đến truyện tranh Nhật Bản tại
Việt Nam
2.3.1 Tình dục và các yếu tố nhạy cảm khác trong truyện tranh Nhật Bản
2.3.2 Trò chơi mới đƣợc phát minh từ truyện tranh
2.3.3 Vấn đề bản quyền
CHƢƠNG 3: GIAO LƢU VĂN HÓA VIỆT NAM - NHẬT BẢN
QUA TRUYỆN TRANH

3.1 Quan niệm của ngƣời Việt Nam về truyện tranh Nhật Bản
3.2 Những yếu tố ảnh hƣởng đến quan niệm đối với truyện tranh tại

82


PHẦN MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Nhật Bản là một quốc đảo ở khu vực Đông Bắc Á, nhƣng không vì thế
mà nƣớc này bị tách biệt hay chấp nhận bị cô lập trƣớc các nƣớc khác. Trải
qua các thời kỳ lịch sử, với tầm nhìn, sức mạnh trí tuệ, công nghệ, và một ý
chí quyết tâm cao, Nhật Bản đã vƣơn ra toàn cầu và khẳng định vị thế quan
trọng của mình nhƣ một giá trị thƣơng hiệu không thể thay thế.
Không chỉ nổi tiếng với các lĩnh vực công nghệ, kinh doanh, bảo tồn
văn hóa…, truyện tranh là một đặc sản của Nhật Bản. Cho đến nay, truyện
tranh Nhật đã đƣợc “xuất khẩu” đến với công chúng nhiều nƣớc trên thế giới.
Truyện tranh Nhật Bản đƣợc đầu tƣ rất nhiều và là món ăn tinh thần không
thể thiếu trong đời sống ngƣời dân Nhật ở các nhóm lứa tuổi và giới tính khác
nhau. Đối với độc giả ngƣời Nhật, truyện tranh có những chức năng nhƣ giải
tỏa áp lực, giải trí tinh thần, mang tính giáo dục… Đối với từng lứa tuổi, giới
tính thì có nội dung tƣơng ứng và đƣơng nhiên, đi kèm với yếu tố nội dung là
các luật lệ và quy tắc nghiêm ngặt trong việc sáng tác, xuất bản và dịch thuật.
Trong lịch sử hơn 40 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nƣớc Việt Nam
và Nhật Bản, truyện tranh Nhật Bản cũng đã đến Việt Nam nhƣ một trong
những sản phẩm của các hoạt động giao lƣu văn hóa và đã tồn tại trong đời
sống Việt Nam cùng với nhiều yếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế khác. Câu hỏi
đặt ra là, đối với độc giả Việt Nam có thái độ nhƣ thế nào đối với truyện tranh
Nhật Bản, và khi đến Việt Nam, những yếu tố nội dung và hình thức của
truyện tranh Nhật Bản có còn đƣợc giữ nguyên hay đã đƣợc thay đổi, điều
chỉnh để phù hợp với văn hóa và lối sống ở Việt Nam? Liệu truyện tranh Nhật
Bản có góp phần với tƣ cách là một kênh thông tin để ngƣời Việt Nam hiểu
hơn về văn hóa, đất nƣớc và con ngƣời Nhật Bản? Cuối cùng, kết quả cần
quan tâm là Việt Nam và Nhật Bản thu đƣợc những gì từ quá trình thâm nhập

một sản phẩm biểu hiện sinh động quan điểm văn hóa của một quốc gia;
- Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, việc phát hành truyện tranh
của Nhật Bản tại Việt Nam giữ vai trò là một thành tố đồng thời là một phép
4


thử trong quá trình phát triển giao lƣu văn hóa giữa hai quốc gia;
- Sự xuất hiện và mở rộng truyện tranh Nhật Bản đã có những thay đổi trong
nhận thức của ngƣời Việt Nam về truyện tranh, từ chú trọng về tri thức sang
đáp ứng nhu cầu giải trí với ngƣời lớn là đối tƣợng mới và chủ đạo hơn, tƣơng
đồng với thị trƣờng trong nƣớc của Nhật Bản. Tuy nhiên thực tế thị trƣờng
Việt Nam vẫn nhấn mạnh nhiều về giá trị tri thức và xem trẻ em là đối tƣợng
chính của sản phẩm văn hóa này. Đây chính là điểm khác biệt quan trọng
trong quan điểm văn hóa giữa hai quốc gia trong bối cảnh mở rộng của hoạt
động kinh tế thị trƣờng.
- Sự khác biệt nói trên cho thấy hoạt động giao lƣu văn hóa giữa hai quốc gia
cần quan tâm nhiều hơn tới những quan điểm văn hóa của đối tác, thúc đẩy
việc trao đổi các giá trị văn hóa với cách tiếp cận đa văn hóa thay cho tƣ duy
tiếp xúc một chiều và tƣơng tác mang tính áp đặt. Đó chính là xu hƣớng giao
lƣu văn hóa mang tính chiến lƣợc và bền vững giữa hai quốc gia.
1.4. Đối tƣợng và và phƣơng pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: truyện tranh Nhật Bản đƣợc xuất bản và phát hành ở
Việt Nam từ năm 1990 đến nay
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở các tƣ liệu nghiên cứu, tiến hành mô tả
đặc điểm, phân tích những đặc trƣng của đối tƣợng nghiên cứu. Việc nghiên
cứu đƣợc thực hiện đối với tài liệu thứ cấp (desk study)
1.5 Tổng quan nghiên cứu
1.5.1 Nghiên cứu về giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản
Theo nhiều tài liệu lịch sử cho thấy, hai nƣớc Việt Nam và Nhật Bản
bắt đầu có những hoạt động giao lƣu kinh tế chính thức từ cuối thế kỷ XVI.

Tiếp đó, phải kể đến AnNan KiRyaku (安南紀略:An Nan Kỷ Lục) của
ông Kondo Juzo (近藤重蔵) đã giới thiệu về hoạt động mậu dịch giữa An
Nam, Đông Kinh và câu chuyện của ông Araki, còn chuyện nổi tiếng nhất là
con voi từ An Nam sang Nhật ở năm 1728 do thƣơng nhân nhà Thanh, ông
Trịnh Đại Uy (鄭大威). Đáng tiếc là con voi cái bị chết do ốm mà còn con
voi đực đƣợc đƣa đến thủ đô và đây là lần đầu tiên, nhiều ngƣời Nhật đƣợc
1

Hiện đang là Nghiên cứu sinh của Đại học Hiroshima, Nhật Bản

6


tiếp xúc động vật lạ từ phƣơng Nam. Sách An Nam Kỷ Lục không chỉ giới
thiệu sự kiện và văn hóa giữa hai nƣớc, có phụ lục từ điển tiếng Việt qua chữ
Hán. Có thể thấy, đây là từ điển đầu tiên giữa hai nƣớc Việt Nam - Nhật Bản.
Sau khi Thực dân Pháp thống trị Đông Dƣơng thì giao lƣu hai bên bị
suy giảm. Đầu thế kỷ XX, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và chiến
dịch Đông Dƣơng của quân Nhật diễn ra. Hai vấn đề này đã đƣợc Trần Huy
Liệu và Nguyễn Khánh Toàn đánh giá từ năm 1950 và ở phƣơng Tây thì
David G. Marr và Ralph Smith, Jacques Valette cũng nghiên cứu về chiến
dịch này. Nhật Bản gặp nhiều khó khăn trong nhiều năm khi thực hiện nghiên
cứu về Việt Nam do thiếu thông tin và tài liệu. Đến thập niên 1970, tài liệu về
Việt Nam đƣợc đƣa vào Nhật nhiều hơn, nên các nhà nghiên cứu mới nhƣ
Furuta Motoo và Shirakawa Masaya đã phát triển lĩnh vực nghiên cứu này.
Đến năm 1990, nhà nghiên cứu Vĩnh Sính đã trình bày nhiều kết quả nghiên
cứu về giao lƣu giữa hai nƣớc trong thời điểm này.
Ngoài ra, hiện nay nhiều ngƣời có kinh nghiệm ở Việt Nam trong giai
đoạn này nhƣ ông Kaneyama Tetsuzo và Miyazaki Osamu, trƣớc đó là sinh
viên của Học viện Nam Dƣơng2, và những ngƣời có liên quan công ty Đại

lập Ủy ban Hợp tác Việt - Nhật do hai Bộ trƣởng Ngoại giao làm đồng Chủ
tịch. Nhật Bản ủng hộ đƣờng lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt
Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động
OEDC giúp Việt Nam về kỹ thuật...); Hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn
đàn quốc tế quan trọng, trong đó có Liên hợp quốc [10, tr.21].
Từ năm 1993, Nhật Bản mở rộng lĩnh vực nghiên cứu trực tiếp tại Việt
Nam và đến năm 1994, dự án nghiên cứu làng Bách Cốc đƣợc thực hiện, là
một nghiên cứu đầy đủ về đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội của một
khu vực trong theo phƣơng pháp lịch đại. Trong lĩnh vực văn hóa, từ năm
1994, phim Nhật lần đầu đƣợc giới thiệu tại Việt Nam và đến nay nhiều khán
giả vẫn còn nhớ nhân vật Osin, đồng thời là tên của phim. Về phía Nhật lúc
đó cũng đã phát hành phim với đề tài tình yêu nam nữ Việt Nam - Nhật Bản
tên là “ドク(Đức)” vào năm 1996. Hai chƣơng trình này bƣớc đầu giúp đỡ
nhân dân hai nƣớc tìm hiểu văn hóa của nhau. Theo xu thế, phong trào học
tiếng Nhật vào năm 1995 bắt đầu xuất hiện và nở rộ, một số trung tâm tiếng
Nhật ở Hà Nội đƣợc thành lập, thu hút sự tham gia đông đảo của nhiều học
sinh, sinh viên nhƣ trung tâm Văn hóa Việt - Nhật mang tên Sakura, Trung
tâm tiếng Nhật Núi Trúc thuộc Hội Giao lƣu Văn Hóa Việt - Nhật tại Hà Nội.
Nhiều trƣờng đại học ở Việt Nam bắt đầu mở những khóa học tiếng Nhật đầu
tiên. Phía Nhật Bản, bộ phim “Đức” đã để lại nhiều ấn tƣợng về Việt Nam tới
mức rất nhiều ngƣời bắt đầu quan tâm đến du lịch Việt Nam. Ở Tokyo và một
số thành phố lớn của Nhật xuất hiện hàng loạt nhà hàng Việt Nam với các
8


món Việt Nam đƣợc ngƣời Nhật ƣa thích nhƣ phở, bánh xèo và gỏi cuốn.
Tháng 3 năm 2002, Trung tâm Hợp tác Nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản
tại Hà Nội đƣợc tổ chức và tại TP. Hồ Chí Minh là vào tháng 5. Năm 2008,
Quỹ Giao lƣu quốc tế Nhật Bản tại Hà Nội đƣợc chính thức thành lập và đi
vào hoạt động.

bóng trên truyền hình Việt Nam.
Nhƣ vậy, giao lƣu Việt - Nhật trong lĩnh vực kinh tế, chính trị thì khá
bền vững nhƣng riêng lĩnh vực văn hóa thì chƣa thật sự đầy đủ và hiệu quả.
Trong cùng thời điểm ấy, truyện tranh Nhật bắt đầu đƣợc phổ biến để giới
thiệu văn hóa Nhật. Nhiều ngƣời học tiếng Nhật có quan tâm đến truyện tranh
Nhật và nhu cầu của truyện tranh Nhật ngày càng tăng lên. Và một thực tế rõ
ràng là mục tiêu đọc truyện tranh đã có nhiều thay đổi: trƣớc đây là do quan
tâm đến công nghệ hiện đại, tổ chức xã hội và cách điều hành nhà nƣớc của
Nhật thông qua nội dung truyện; còn về sau, sự quan tâm thu hẹp vào đối
tƣợng truyện tranh, phim hoạt hình nhƣ một hình thức giải trí.
Văn hóa truyện tranh, phim hoạt hình là một loại văn hóa mới và phát
triển nhanh chóng trong nhóm những ngƣời trẻ, thanh niên. Hiện nay chính
quyền Nhật đƣa ra chính sách “Cool Japan” nhằm giới thiệu văn hóa hiện đại
và mới của Nhật Bản, trong đó có truyện tranh, phim hoạt hình. Lĩnh vực này
cuốn hút đƣợc nhiều khán giả nhƣng đồng thời có nhiều ngƣời có ác cảm với
lĩnh vực văn hóa này.
Đề tài: “Giao lưu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản từ năm 1990 đến nay:
Nghiên cứu trường hợp Manga phát hành tại Việt Nam” đã đƣợc lựa chọn cho
luận văn thạc sĩ này nhằm mục đích nghiên cứu sâu hơn tình hình giao lƣu
văn hóa giữa hai bên qua công cụ truyện tranh và đƣa ra khuyến nghị cho sự
phát triển tốt hơn nữa quan hệ ngoại giao văn hóa giữa Việt Nam và Nhật
Bản. Vì thực tế là giao lƣu qua truyện tranh (và sau này phim hoạt hình
chuyển thể từ truyện tranh) tại Việt Nam hiện nay đã ở quy mô lớn, hơn cả sự
tƣởng tƣợng và dự đoán của cả phía Việt Nam và Nhật Bản. Nói cách khác là
truyện tranh Nhật đã có những ảnh hƣởng không nhỏ tới độc giả Việt Nam,
tuy nhiên, bản thân truyện tranh Nhật chƣa nhận đƣợc sự đánh giá xứng đáng
nhƣ một kênh văn hóa chính thống cho giao lƣu hai nƣớc. Hy vọng rằng
nghiên cứu truyện tranh Nhật với tƣ cách là một đối tƣợng nghiên cứu sẽ góp
10




phẩm truyện tranh một cách chuyên biệt, nhƣ phân tích mỹ thuật học hay văn
học, mà mƣợn phƣơng pháp nghiên cứu của các lĩnh vực này cho nghiên cứu
về truyện tranh. Nhƣ thế thì đánh giá giá trị của truyện tranh sẽ đơn thuần là
có tính chất mỹ thuật hay là văn học hay là nhƣ phim ảnh. Trong khi thực tế
thì có những tác phẩm có nội dung đẹp hoặc tuyệt vời nhƣng không bán đƣợc,
ngƣợc lại lại có tác phẩm bán rất chạy trên thị trƣờng trong khi về phƣơng
diện nội dung lại không có sự đánh giá cao. Đứng trƣớc tình hình này, chƣa
biết cần có sự đánh giá nhƣ thế nào là phù hợp nhất. Một tác phẩm nào đó có
thể có giá trị kinh tế, giá trị khoa học, giá trị mỹ thuật, giá trị tinh thần…v.v,
và đƣơng nhiên là thực tế cần sự đánh giá một cách hợp lý hơn. Ngoài ra, còn
một vấn đề nữa là cho đến nay, chƣa có đầy đủ nghiên cứu liên ngành các lĩnh
vực khác mà đa số là chỉ phê bình nội dung của tác phẩm và kỹ thuật truyện
tranh là do ngƣời gốc họa sĩ hay là theo lĩnh vực xuất bản truyện tranh thể
hiện. Trong đó có nhiều ngƣời thể hiện phƣơng pháp truyện tranh mới và
phƣơng pháp truyện tranh duy nhất nhƣ Ito Go - nhà phê bình thế hệ mới.
Dựa trên những dữ liệu có đƣợc, tôi đánh giá cao một số cơ quan, nhƣ
trƣờng hợp Đại học Kyoto Seika (京都精華大学:Đại học Tinh hoa Kyoto) đã
thành lập khoa Manga Học vào năm 2000 và đến nay đã đƣa ra nhiều nghiên
cứu mới và triển khai hợp tác với các nhà nghiên cứu Manga trên thế giới.
Điển hình là GS.TS. Jaqueline Berndt3 và những nhà nghiên cứu Manga của
nƣớc ngoài đã thành công trong việc phổ biến quan niệm trong nghiên cứu
truyện tranh của các nƣớc và thƣờng xuyên hợp tác tổ chức hội thảo quốc tế
về Manga, nhƣ gần đây là Hội thảo Quốc tế “Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối
những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”, ngày 23 - 25 tháng 3 năm 20124. Tổ
chức hội thảo này là một phần của chƣơng trình nhóm nghiên cứu Manga phụ
nữ của GS. Ogi Fusami.

3

truyền bá rộng lớn của truyện tranh qua phƣơng tiện truyền thông?
Những năm gần đây nhiều tác giả nữ sáng tác các tác phẩm dƣới ảnh
hƣởng của truyện tranh thiếu nữ của Nhật Bản và sáng tác theo kiểu chủ thể
của phụ nữ, thoát khỏi chủ thể của phía đàn ông và việc xuất hiện quan niệm
phụ nữ đã góp phần đa dạng hóa hình thức biểu hiện tác phẩm truyện tranh.
Trong quá trình toàn cầu hóa, các địa phƣơng tiếp thu truyện tranh Nhật Bản
không phải nhƣ nó vốn có, mà qua quan niệm đặc sắc của địa phƣơng đó sẽ
hình thành quan niệm truyện tranh mới. Vì vậy, nghiên cứu này để xác minh
lại quan hệ giữa truyện tranh và phụ nữ mà đã đƣa ra 2 luận điểm là tìm hiểu
13


vị trí của truyện tranh các địa phƣơng và các lĩnh vực truyện tranh mà phụ nữ
hoạt động với vai trò chủ thể. Hơn nữa là luận điểm toàn cầu hóa là một luận
điểm mang tính nổi bật trong những nghiên cứu này.
Nghiên cứu của nhóm này, với sự chủ trì của GS Ogi, có giá trị ở chỗ
đã vƣợt qua chủ thể của do nam giới sáng tác để nhìn nhận lại và mở rộng hơn
quan niệm về phụ nữ trong truyện tranh - đồng nghĩa với việc đã sáng tạo ra
giá trị mới trong lĩnh vực này. Trong quá trình nghiên cứu của đoạn II (20112014), có 3 luận điểm đƣợc đƣa ra là: 1) Phụ nữ và toàn cầu hóa; 2) Tìm hiểu
biểu hiện vai trò của phƣơng tiện truyền thông: 3) Khái niệm về sự thay thế
do Manga tạo ra.
Mặc dù nghiên cứu này tập trung vào chủ thể “phụ nữ” và truyện tranh
phụ nữ, nhƣng họ đã nêu lên quan niệm rất quan trọng ở chủ đề thứ 2 là toàn
cầu hóa trong quan niệm truyện tranh. Quá trình nghiên cứu của nhóm tác giả
hình thành nên một quan niệm mang tính thống nhất và đối tƣợng truyện
tranh đƣợc chuyển từ văn hóa không chính thống sang văn hóa chính thống.
Nhƣ vậy, nghiên cứu truyện tranh ở Nhật Bản có xu hƣớng không chỉ
thu hẹp trong nƣớc mà mở rộng ra nhiều lĩnh vực và đối tƣợng nghiên cứu tại
nƣớc ngoài. Đây là kết quả tất yếu của việc truyện tranh ở Nhật đã phát triển
và trở thành một ngành công nghiệp quan trọng nên thu hút đƣợc nhiều sự

“Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”.
Nghiên cứu của ThS Phạm Hoàng Hƣng có giá trị quan trọng ở chỗ đã phân
biệt rõ nhóm độc giả truyện tranh và phƣơng tiện đọc truyện tranh tại Việt
Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu truyện tranh tại Việt Nam đƣợc thực hiện với
nhóm những ngƣời hâm mộ truyện tranh thể hiện, trong khi chƣa chỉ ra đƣợc
ngƣời hâm mộ truyện tranh chiếm bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam. Nội
dung này cần đƣợc quan tâm vì nó ảnh hƣởng đến phạm vi nhu cầu thƣởng
thức cũng nhƣ các nhu cầu khác của nhóm độc giả Việt.
Đây là xu hƣớng mới về nghiên cứu truyện tranh tại Việt Nam vì trƣớc
đó, một số cá nhân đã thực hiện nghiên cứu mối liên quan giữa giáo dục và
5

Giảng viên trƣờng ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

15


truyện tranh nhƣ TS. Mai Thị Kim Thanh6 với đề tài “Tác động của ngôn ngữ
trong truyện tranh tới hoạt động sử dụng ngôn ngữ của trẻ em hiện nay”. TS.
Kim Thanh đánh giá truyện tranh ở phƣơng diện ngôn ngữ và ảnh hƣởng của
ngôn ngữ truyện tranh tới trẻ em Việt Nam đang có những mặt không tốt. Tuy
nhiên, vấn đề cần xem xét ở đây là khả năng dịch thuật các tác phẩm truyện
tranh chƣa đạt chuẩn, dẫn đến những sai sót và hiểu lầm không đáng có giữa
hai bên, vì chúng ta vẫn biết Nhật Bản là một dân tộc trọng về phép tắc, lễ
nghi lịch sự nên khó có thể có chuyện chính bản thân ngƣời Nhật chấp nhận
để truyện tranh làm hỏng ngôn ngữ của các thế hệ con cháu mình; và một yếu
tố nữa là hiệu ứng của các sản phẩm “nhìn thấy đƣợc” (visual medium/media
nhƣ hình ảnh, phim ảnh) kích thích tới bộ não đã đƣợc chứng minh là hiệu
quả hơn so với chữ viết trong việc lƣu giữ và tƣ duy đối với thông tin cung
cấp. Nhà nghiên cứu trong phân tích của mình cho rằng cần phân biệt rõ

trong dịp hội thảo Giao lƣu văn hóa Việt Nam - Nhật Bản về nội dung manga
- thể loại truyện tranh Nhật Bản - vào năm 2005 nhƣ sau:
“Mặt tích cực của nó đã truyền tải một triết lý “gắn bó con ngƣời với
nhau”, xét trên cả hai mặt lợi ích cảm tính và lý tính. Tuy nhiên, manga
có những mặt tiêu cực từng bị chỉ trích về tính bạo lực, hình ảnh khêu
gợi hơn là giáo dục giới tính. Cám dỗ cái xấu luôn lớn hơn sự thuyết
phục của cái đẹp. Vì thế, làm sao để cân bằng hai mặt của vấn đề, đó là
câu hỏi dành cho các nhà xuất bản.”
Ông Lê Linh cho rằng truyện tranh có mặt tiêu cực là bạo lực và tình
dục mặc dù ông là ngƣời thể hiện nhiều truyện tranh thiếu nhi Việt Nam.
Điểm quan trọng nhất không phải là truyện tranh có tính bạo lực hay giáo dục.
Bởi thứ nhất, đây là hiện thực cuộc sống trong nhiều xã hội, và thứ hai là các
thể loại nghệ thuật khác cũng thể hiện hai nội dung này - ở những mức độ và
hình thức khác nhau. Vấn đề mấu chốt ở đây là về phía ngƣời Việt Nam, trong
trƣờng hợp này là các phụ huynh, thƣờng nhầm tƣởng cho rằng truyện tranh
là dành cho thiếu nhi, do vậy không đƣợc phép có sự xuất hiện của bạo lực và
tình dục.
Nhƣng, khái niệm của phía Nhật thì hoàn toàn khác. Trong cuốn sách
giới thiệu chƣơng trình triển lãm “Không gian mới của Manga - Nghệ thuật
truyện tranh đương đại Nhật Bản” có ghi rõ:
“Nhƣ chúng ta đã biết, truyện tranh manga và phim hoạt họa anime
17


Nhật Bản những năm gần đây đang thu hút sự chú ý của thế giới nhƣ là
một phƣơng tiện truyền thông tiêu biểu cho văn hóa bằng hình ảnh của
Nhật Bản. Trƣớc đây, manga và anime đƣợc coi là một hình thức “giải
trí dành cho trẻ em” hay “văn hóa không chính thống,” nhƣng gần đây
hai loại hình nghệ thuật này đã tạo ra sự thay đổi tiêu biểu cho văn hóa
Nhật Bản”[6, tr.2].

xuất bản cũng phải tìm nguồn cung đồng thời làm tăng thu nhập của mình
bằng việc mua bản quyền (hoặc là đạo ý tƣởng, đạo văn) từ nƣớc ngoài và
dịch sang tiếng Việt. Và kết quả là hiện nay, đa số truyện tranh trên thị trƣờng
Việt Nam là tác phẩm phiên dịch từ bản nƣớc ngoài, nên có thể dễ thấy một số
đặc điểm về văn hóa khác biệt so với quan điểm, lối sống của ngƣời Việt.
Theo ý kiến của GS. TS. Kato Sakae, cũng trong Hội thảo Quốc tế nói
trên, Việt Nam thời kỳ Đổi mới chƣa có đủ tác phẩm dành cho vị thanh niên.
Khi hết tuổi thiếu nhi, thì vị thành niên có sách gì để đọc - những loại phù hợp
với lứa tuổi và đặc tính tâm lý? Do có rất ít hoặc không có tác phẩm nào sáng
tác trực tiếp phục vụ nhóm tuổi này, nên các em vẫn phải tiếp tục đọc các
truyện tranh thiếu nhi hay phải đọc văn học lớn tuổi. Chính vì vậy, có thể nói,
sự xuất hiện của truyện tranh Nhật Bản có vai trò quan trọng trong giáo dục
hay định hƣớng đối với cộng đồng7 những ngƣời trẻ. Đây là điểm đƣợc đánh
giá nhất của vai trò truyện tranh Nhật tại Việt Nam trong thập niên 90.
Tuy vậy, trong khoảng 20 năm lịch sử xuất hiện và phát triển truyện
tranh Nhật Bản tại Việt Nam, từ khi nào mà nhiều ngƣời cho rằng truyện tranh
nói chung và truyện tranh Nhật Bản nói riêng là “xấu”, có chứa yếu tố bạo lực
và tình dục nhƣ phát biểu của ông Lê Linh? Luận văn này cũng mong muốn
tìm hiểu kỹ hơn quan niệm của nhóm phụ huynh qua các bài viết, nhằm tìm
câu trả lời cho nguyên nhân của sự thay đổi trong quan niệm truyện tranh và
thực trạng cũng nhƣ xu hƣớng của truyện tranh hiện nay. Thêm vào đó, lịch
sử truyện tranh của Nhật Bản sẽ đƣợc tóm tắt đơn giản, dễ hiểu nhằm phần
nào bổ sung kiến thức cho những ai quan tâm hoặc muốn nghiên cứu về
truyện tranh Nhật và tìm hiểu văn hóa của hai bên Việt Nam - Nhật Bản qua
7

Bài giảng trong hội thảo quốc tế “Phụ nữ và Truyện tranh: Kết nối những nền văn hóa ngoài Nhật Bản”
ngày 24/3/2012 - Sự tiếp nhận Manga Nhật Bản vào Việt Nam và xu hƣớng

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status