BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH TOẢN
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG:
TRƯỜNG HỢP HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH TOẢN
ĐÁNH GIÁ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG:
TRƯỜNG HỢP HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN SĨ
Tp. Hồ Chí Minh - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
PHẦN MỞ ĐẦU ...............................................................................................................
1.
SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .............................................
2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ............................................................................
2.1.
Mục tiêu chung ...............................................................
2.2.
Mục tiêu cụ thể ...............................................................
3.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU ...............................................................................
4.
7.
BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN ............................................................................
Chương 1. LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG . 5
1.1. LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CÔNG ....................................................................
1.1.1. Đầu tư ................................................................................................................
1.1.2. Đầu tư công .......................................................................................................
1.1.3. Các lý thuyết về đầu tư công ...........................................................................
1.1.4. Một số mô hình phân tích nguồn gốc tăng trưởng kinh tế ..............................
1.1.5. Vai trò của tăng trưởng kinh tế .......................................................................
1.1.6. Nội dung quản lý đầu tư công .........................................................................
1.1.7. Mối quan hệ giữa chu trình dự án và hiệu quả đầu tư.................................... 24
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.................................... 27
Chương 2. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU................................................................ 31
2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU.............................................................................. 31
2.1.1. Phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế.........................31
2.1.2. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư công theo cách tiếp cận
quản lý chu trình dự án............................................................................................ 31
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU............................................. 35
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 35
2.2.2. Dữ liệu nghiên cứu........................................................................................ 36
2.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 2................................................................................... 37
Chương 3. PHÂN TÍCH QUẢN LÝ ĐẦU TƯ CÔNG: TRƯỜNG HỢP
HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU..................................................................... 38
3.1. ĐẶC ĐIỂM HUYỆN U MINH........................................................................ 38
4.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 4................................................................................... 77
KẾT LUẬN............................................................................................................ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Đầu tư công trên địa bàn huyện U Minh giai đoạn 2005 – 2015.............43
Bảng 3.2: Đầu tư công trên địa bàn huyện U Minh giai đoạn 2005 - 2015.............44
Bảng 3.3: Hệ số ICOR của huyện U Minh so với tỉnh Cà Mau 2005 – 2015..........45
Bảng 3.4: Năng lực thẩm định dự án của huyện U Minh giai đoạn 2005 – 2015....48
Bảng 3.5: Chi duy tu bảo dưỡng tài sản huyện U Minh giai đoạn 2005 – 2015......49
Bảng 3.6: Tỷ lệ giảm trừ thanh toán vốn đầu tư công huyện U Minh 2011 – 2015 . 53
Bảng 3.7: Tình hình chất lượng công trình xây dựng.............................................. 54
Bảng 3.8: Bảng tổng hợp kết quả đánh giá về quản lý đầu tư công ở huyện U Minh
giai đoạn 2005 - 2015.............................................................................................. 58
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Chu trình dự án sử dụng các nguồn vốn ODA......................................... 25
Hình 1.2: Chu trình dự án sử dụng các nguồn vốn trong nước................................ 26
Hình 3.1: Tỷ lệ dự án đầu tư công có phân tích kinh tế........................................... 47
Hình 3.2: Vốn đầu tư công huyện U Minh theo lĩnh vực giai đoạn 2005 - 2015.....50
Hình 3.3: Tỷ lệ dự án hoàn thành giai đoạn 2005 - 2015......................................... 51
Hình 3.4: Tỷ lệ chỉ định thầu dự án giai đoạn 2005 - 2015.....................................52
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Trong kinh tế học, nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) là một biến số đ o lường phần tăng trưởng đầu ra được
tạo ra bởi các yếu tố đầu vào không phải là yếu tố truyền thống như vốn hay lao động. TFP bao gồ m nhiều
yếu tố nhưng chủ yếu là tiến bộ công nghệ.
2
khoa, cấp nước sạch nông thôn, cơ sở hạ tầng khu cụm công nghiệp Khí – Điện –
Đạm Cà Mau, khu công nghiệp Khánh An… Đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội
huyện phát triển.
Theo Ủy ban nhân dân huyện U Minh(2010) thì đầu tư công đã góp phần thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế của huyện. Tuy vậy, đầu tư công trên địa bàn huyện vẫn
chưa tạo ra được “cú hích” đối với đầu tư của khu vực tư nhân. Bằng chứng là đầu
tư của khu vực tư nhân vào địa bàn huyện vẫn kém sôi động, còn nhiều khó khăn;
thu nhập bình quân đầu người còn thấp so với bình quân cả nước. Vấn đề đặt ra là
đầu tư công ảnh hưởng như thế nào đề tăng trưởng kinh tế của huyện U Minh trong
thời gian qua và cần có những giải pháp gì để nâng cao ảnh hưởng tích cực của đầu
tư công trên địa bàn huyện U Minh?
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài“Đánh giá quản lý đầu tư công: Trường hợp
huyện U Minh, tỉnh Cà Mau” để nghiên cứu.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá quản lý đầu tư công của huyện U Minh tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất
giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư công của huyện U Minh trong
thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của
huyện U Minh, tỉnh Cà Mau giai đoạn 2005 - 2015.
Mục tiêu 2: Khảo sát thực trạng quản lý theo chu trình dự án đầu tư để đánh
giá các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư công của huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
vốn đầu tư công huyện U Minh giai đoạn 2005 - 2015.
Để đánh giá ảnh hưởng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tác giả sử
dụng mô hình Harrod-Domar.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích và tổng hợp kết quả
phân tích từ thực trạng quản lý đầu tư công ở huyện U Minh để rút ra tồn tại và
nguyên nhân làm căn cứ đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công trên địa
bàn huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
4
5.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Về mặt lý luận
Vận dụng mô hình Harrod-Domar để đo lường ảnh hưởng của đầu tư công đến
tăng trưởng kinh tế; vận dụng các đánh giá chuẩn tắc để xem xét công tác quản lý
đầu tư công ở cấp độ đặc thù địa phương cấp huyện.
5.2. Về mặt thực tiễn
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công, giúp chính quyền địa
phương huyện hoạch định chiến lược đầu tư công, lựa chọn dự án, phân bổ nguồn
lực và quản lý thực hiện đầu tư công hiệu quả hơn.
6.
HẠN CHẾ CỦA LUẬN VĂN
Để đánh giá tác động của đầu tư công cần phải đánh giá trên nhiều khía cạnh,
chẳng hạn vấn đề tăng trưởng kinh tế, chèn lấn đầu tư, chèn lấn xuất khẩu, TFP…
Tuy nhiên, do giới hạn về nguồn lực, tác giả chỉ dừng lại ở đánh giá ảnh hưởng của
Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư được hiểu là việc gia tăng tư bản nhằm tăng
cường năng lực sản xuất tương lai. Đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc
tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất
mới được tính vào quá trình đầu tư. Các hoạt động tăng tư bản khác bị loại trừ (ví
dụ trong lĩnh vực tài chính tiền tệ và kinh doanh bất động sản). Việc gia tăng tư bản
tư nhân (tăng thiết bị sản xuất) được gọi là đầu tư tư nhân. Việc gia tăng tư bản xã
hội được gọi là đầu tư công.
Các hoạt động sử dụng nguồn lực để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng
cho nền kinh tế (như đường giao thông, hệ thống cấp thoát nước đô thị...) được gọi
là đầu tư phát triển. Theo nghĩa hẹp, nguồn lực sử dụng cho đầu tư phát triển là tiền
vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy
móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ....
Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian nhất
định ở hiện tại để thu được lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong tương lai.
1.1.1.2. Nguồn vốn đầu tư
Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm hai loại: nguồn
6
trong nước tiết kiệm được và nguồn từ nước ngoài đưa vào. Nguồn từ nước ngoài
đưa vào có thể dưới dạng: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, các khoản vay nợ và
viện trợ, tiền kiều hối và thu nhập do nhân tố từ nước ngoài chuyển về. Có thể chia
vốn đầu tư làm 2 loại là đầu tư của khu vực doanh nghiệp và cá nhân (khu vực tư)
và đầu tư của khu vực nhà nước (khu vực công).
Nguồn vốn đầu tư của khu vực tư: trên lý thuyết thì nguồn đầu tư của khu vực
tư (Ip) được hình thành từ tiết kiệm của khu vực doanh nghiệp và của cá nhân (Sp)
và luồng vốn của nước ngoài đổ vào khu vực này (Fp):
Ip = Sp + Fp
Sp = Ydp - Cp Trong đó: Ydp là thu nhập khả dụng;Cp là tiêu dùng cá nhân
1.1.1.3. Đối tượng đầu tư
Trong một nền kinh tế, vốn đầu tư tồn tại dưới nhiều hình thức và vì vậy cũng
có nhiều cách đầu tư. Có 3 loại đầu tư chính sau:
Đầu tư vào tài sản cố định: là đầu tư vào nhà, xưởng, máy móc, thiết bị,
phương tiện vận tải. Đầu tư dưới dạng này chính là đầu tư nâng cao năng lực sản
xuất. Khả năng đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào đầu
tư loại này.
Đầu tư vào tài sản lưu động: tài sản lưu động là những nguyên vật liệu thô,
bán thành phẩm được sử dụng hết sau mỗi quá trình sản xuất. Ngoài ra, tài sản lưu
động cũng có thể là thành phẩm được đơn vị đó sản xuất ra mà chưa đem đi tiêu thụ
hết. Như vậy, lượng đầu tư vào loại tài sản này chính là sự thay đổi về khối lượng
của các hàng hoá đó trong một thời gian nhất định.
Đầu tư khác: là các khoản đầu tư nhằm gia tăng năng lực phát triểncủa xã hội,
nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường.
Xét trên tổng thể nền kinh tế, có một dạng đầu tư vào tài sản cố định rất quan
trọng đó là cơ sở hạ tầng, phần lớn lượng đầu tư vào cơ sở hạ tầng do nhà nước đảm
nhận. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần thì khu vực tư nhân và nước
ngoài cũng tham gia đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thức thích hợp
(ví dụ như BOT, BTO, BT,...). Đặc điểm củađầu tư vào các loại hàng hoá công là
nhu cầu vốn lớn, lâu thu hồi vốn nên thường do nhà nước đảm trách. Tuy nhiên, đầu
tư vào kết cấu hạ tầng có tácđộng thúc đẩy đầu tư của các thành phần kinh tế khác
phát triển.
1.1.2. Đầu tư công
1.1.2.1. Khái niệm về đầu tư công
Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án
8
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án
9
sự nghiệp giáo dục, y tế, xoá đói giảm nghèo.
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có một vai trò rất lớn trong đầu tư công để
tạo những bước đột phá phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong nềnkinh tế nhiều thành
phần thì khu vực tư nhân trong nước và khu vực nướcngoài cũng tham gia đầu tư,
kinh doanh cơ sở hạ tầng bằng các hình thứcthích hợp (ví dụ như BOT, BTO,
BT,...).
Đầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy. Chi đầu tư công
trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản
cố định cho nền kinh tế quốc dân. Vấn đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà
nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy
lợi, y tế, giáo dục... Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hoá công này là
cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển
cân đối giữa các ngành, lĩnh vực, vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển của các
thành phần kinh tế, thu hút đầutư trong nước và nước ngoài sẽ tạo động lực, cú hích
cho sự tăng trưởng.
Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước không cốđịnh và
phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trongtừng thời kỳ
và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Nội dung chi đầu tư công gồm 4 lĩnh vực: chi xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi hỗ trợ vốn cho các doanh
nghiệp nhà nước; chi cho quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện tín dụng đầu tư phát
triển; chi dự trữ nhà nước. Trong đó, chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là khoản
chi chiếm tỷ trọng lớn nhất và được thực hiện theo phương thức không hoàn trả. Chi
đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của nhà nước hướng vào củng cố và phát
triển hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, các ngành công nghiệp cơ bản, các
công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát
triển văn hoá xã hội, phúc lợi công cộng. Thực chất loại chi này nhằm đảm bảo tái
yếu tố mang tính quyết định đến kết quả đạt được của dự án. Để dự ánđạt được kết
quả mong muốn, các cơ quan thực hiện đầu tư công và quản lýđầu tư công cần phải
bảo đảm nguồn nhân lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng
11
lực). Phải đảm bảo những người phụ trách chính trong dự án có trình độ, năng lực
quản lý đáp ứng yêu cầu của dự án.
Thứ hai là kinh phí: đây là nhân tố không thể thiếu, khi muốn thực hiện công
việc nhìn chung đều cần phải lên kế hoạch chuẩn bị bảo đảm đáp ứngđầy đủ kinh
phí cho hoạt động đó. Đối với hoạt động đầu tư công, do đây chủ yếu là những hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản quy mô lớn nên vấn đề kinh phí lại càng phải được
quan tâm chặt chẽ. Nguồn kinh phí đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách nhà nước.
Do nguồn ngân sách này còn phải chi đồng thời cho nhiều khoản chi khác nhau,
nhiều dự án khác nhau nên việc bảo đảm đủkinh phí cho hoạt động đầu tư diễn ra
đúng tiến độ là vô cùng quan trọng.
Thứ ba là thủ tục hành chính và các quy định pháp luật: việc thực hiện đầu tư
công liên quan đến một loạt các quy chế và thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng cơ bản, quản lý ngân sách. Về nguyên tắc, các thủ tục hành chính cần tạo
ra trình tự ổn định và rành mạnh cho hoạtđộng quản lý tối ưu, tạo điều kiện cho việc
thực hiện dự án được thuận lợi.Các quy định pháp luật cần rõ ràng, minh bạch, có
cách hiểu thống nhất, bảo đảm định hướng hoạt động của dự án công đáp ứng đúng
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ tư là bối cảnh thực tế: các yếu tố kinh tế, xã hội , chính trị, tiến bộ khoa
học công nghệ. đều có ảnh hưởng đến hoạt động, kết quả đạt được của dự án đầu tư.
Những biến động này đôi khi phải dẫn đến việc điều chỉnh dự án, hoặc ngưng
không thực hiện dự án nữa do không còn phù hợp.
Thứ năm là công luận và thái độ của các nhóm có liên quan: sự ủng hộ hay
phản đối của công luận có tác động không nhỏ đến việc thực hiện dự án. Các dự án
Trong trường hợp này, nhà nước phải là người tổ chức cung cấp thông tin tốt để thị
trường hoạt động tốt hơn. Mặt khác, ở hầu hết các nước đang phát triển, nền kinh tế
còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, nếu để thị trường tự thân vận động
thì sẽ không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ được mà chuyển dịch cơ
cấu là nội dung của tiến trình công nghiệp hoá , Nhà nước cần phải tạo ra sự khởi
động ban đầu để các thành phần kinh tế phát triển, tránh những rủi ro, mất cân đối
13
trong nền kinh tế, và sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân bổ các
nguồn lực trong nền kinh tế là rất cần thiết.
1.1.3.3. Quan điểm về sự phát triển cân đối hay không cân đối
Thuyết tăng trưởng cân đối: Theo Rosenstain - Rodan, khái niệm tăng trưởng
cân đối được đưa ra nhằm mô tả sự tăng trưởng cân đối giữa các ngành trong nền
kinh tế. Ông đề xuất, đầu tư nên hướng cùng lúc vào nhiều ngành để tăng cung cũng
như cầucho nhiều sản phẩm bằng cách tăng thu nhập của lao động trong những
ngành này. Sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến đòi hỏi lượng đầu tư
lớn trong một thời gian dài. Từ đó phát sinh nhu cầu phát triển song song cả hàng
hoá phục vụ sản xuất lẫn phục vụ tiêu dùng. Ý tưởng về “cú huých” lập luận rằng,
một sự gia tăng đột ngột về đầu tư có thể làm cho mức tiết kiệm tăng lên bởi vì sự
gia tăng đột ngột của thu nhập. “Cú huých” này biểu hiện thông qua các hoạt động
của chính phủ và mục tiêu của viện trợ nước ngoài.Cũng theo Rosenstain-Rodan,
mục đích của viện trợ nước ngoài cho các nước kém phát triển là đẩy nhanh quá
trình phát triển kinh tế đến một điểm mà ở đó tốc độ tăng trưởng kinh tế mong
muốn có thể đạt được trên nền tảng tự duy trì, không phụ thuộc vào các nguồn tài
trợ bên ngoài.
Thuyết tăng trưởng không cân đốiHirchman (1958) đưa ra một mô hình trái
ngược với thuyết tăng trưởng cân đối, ông cho rằng sự mất cân đối giữa cung và cầu
tạo ra động lực cho nhiều dự án mới. Theo đó, cách tiếp cận này yêu cầu phần lớn
Mô hình hai khu vực, được giải thích bởi Lewis và Oshima. Lewis cho rằng,
đối với khu vực nông nghiệp do đất đai ngày càng hiếm trong khi lao động ngày
càng tăng, sẽ có tình trạng dư thừa lao động, hệ quả là sản phẩm biên của lao động
nông nghiệp bằng không, mức tiền lương ở mức tối thiểu. Đối với khu vực công
nghiệp, do tiền lương của khu vực này cao hơn khu vực nông nghiệp nên có thể thu
hút lao động dư thừa của khu vực nông nghiệp, quá trình này diễn ra đến khi thu hút
hết lao động dư thừa. Đến một lúc nào đó, lợi nhuận khu vực công nghiệp giảm, bắt
buộc nhà tư bản công nghiệp sẽ lựa chọn yếu tố khác thay thế lao động (công nghệ
thâm dụng vốn), quá trình tăng trưởng sẽ tiếp tục.
Mô hình Harrod – Domar: Ông cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế
chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia.
Mô hình này đưa ra mối quan hệ hàm giữa vốn (K) và tăng trưởng sản lượng (Y) và
15
cho rằng sản lượng của bất kỳ một thực thể kinh tế nào - cho dù đó là một doanh
nghiệp, một ngành kinh tế, hay của toàn bộ nền kinh tế đều phụ thuộc vào số lượng
vốn đã đầu tư vào thực thể kinh tế đó, được biểu diễn dưới dạng:
Y= K/k
Trong đó k là hằng số, được gọi là hệ số vốn sản lượng. Chuyển sang tốc độ
tăng, ta có:
+Y = +K/k Chia cả 2 vế của đẳng thức trên cho Y, ta có:
+Y/Y = (+K/Y).1/k
(+Y/Y) chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế, (+K/Y) là tỷ lệ đầu tư/GDP. Điều
này có nghĩa là để đạt được tốc độ tăng trưởng nào đó thì nền kinh tế phải đầu tư
theo một tỷ lệ nhất định nào đó trên GDP.
Khi chuyển sang tốc độ tăng thì hệ số “k” gọi là hệ số ICOR. Hệ số này cho ta
biết là để tăng được một đồng GDP thì cần phải đầu tư bao nhiêu đồng vốn.
Nguồn đầu tư trên có thể là do tiết kiệm trong nước hay vốn nước ngoàiđưa
tăng trưởng: chiều rộng và chiều sâu. Đối với các nước đang phát triển thường lựa
chọn cách thức tăng trưởng theo chiều rộng như lựa chọn công nghệ thâm dụng lao
động. Tuy nhiên cách thức này lại hạn chế việc nâng cao năng suất lao động. Do đó,
trong chính sách kinh tế cần quan tâm đến việc khuyến khích những ngành có điều
kiện để thực hiện tăng nhanh hệ số vốn trên lao động.
1.1.5. Vai trò của tăng trưởng kinh tế
Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những
dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, công bằng xã hội. Trong đó, tăng
trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế. chính trị, xã hội.
Trước hết tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất
lượng hàng hóa, dịch vụ và các yếu tổ sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là
tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn
đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên conđường vượt lên khắc phục sự
lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng.Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập
của dân cư tăng lên, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được
cải thiện như: Kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp
cho giáo dục, y tế, văn hóa.. phát triển.
17
Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất
nghiệp. Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên
nhân quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng kinh
tế nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và
tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okum1
(hay quy luật 2,5% - 1). Quy luật này xác định, nếu GNP thực tế tăng 2,5% trong
vòng một năm so với GNP tiềm năng của năm đó thì tỷ lệ thất nghiệp giảm đi 1%.
Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng
cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội. Đối