ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
NGUYỄN MINH HUY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG TẠI
HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TRẤN VĂN TUẤN
HÀ NỘI - 2013
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các
khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc
phòng,… là nguồn vốn, nguồn nội lực trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước hiện nay. Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, việc sử dụng
nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và
cả nước một cách khoa học và đạt hiệu quả cao là vô cùng quan trọng và có ý
nghĩa to lớn.
cứu.
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của huyện Từ Liêm năm 2012 và biến
động sử dụng đất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2005 - 2012
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế, xã hội, môi
trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính) huyện Từ Liêm, thành
phố Hà Nội
- Đề xuất định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Từ Liêm,
thành phố Hà Nội đến 2020 theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phƣơng pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu:
Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; các số
liệu thống kê về diện tích đất nông nghiệp để phục vụ cho việc đánh giá hiện
trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp huyện Từ Liêm.
4.2. Phƣơng pháp thống kê, so sánh:
Để phân tích đưa ra kết luận, đề tài có tiến hành thống kê, so sánh số liệu
qua các năm để thấy được sự biến động, thay đổi sử dụng đất nông nghiệp.
2
4.3. Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp:
Từ số liệu thu thập được và hiện trạng, hiệu quả sử dụng đất tiến hành
phân tích làm rõ những tồn tại, những điểm chưa hợp lý trong sử dụng đất nông
nghiệp huyện Từ Liêm.
4.4. Phƣơng pháp điều tra nhanh nông thôn:
Sử dụng phiếu điều tra các hộ dân (51 hộ) trên địa bàn huyện Từ Liêm về
hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp (điều tra các hộ đại diện, điển
hình cho từng loại hình sử dụng đất).
4.5. Phƣơng pháp chuyên gia:
Tham khảo, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn, cán bộ địa phương về
4
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm về đất
Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập
lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí
hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng
diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất
đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có
ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo
nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ
nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biết đổi của
đất do các hoạt động của con người. [32]
Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bổ khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an
ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện
tích, có vị trí cố định trong không gian [4]
1.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp:
Theo Từ điển điện từ mở wiki, Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất
canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất,
canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Đây là một trong
những nguồn lực chính trong nông nghiệp.[35]
Theo luật Đất đai số 24-L/CTN ngày 14/07/1993, đất đai của Việt Nam
chia làm 06 loại:
Theo FAO, trong khi vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, nông
nghiệp đô thị và ven đô được coi là các hoạt động nông nghiệp bên trong và
xung quanh thành phố, nơi bị cạnh tranh về các nguồn tài nguyên (đất, nước,
năng lượng, nhân công) để phục vụ cho các mục đích khác, nhằm phục vụ cho
nhu cầu của người dân đô thị.
6
Nông nghiệp đô thị là các khu vực nhỏ (các mảnh đất trống, các khu
vườn, bờ đất, ban công, container) trong thành phố được sử dụng để trồng cây
và chăn nuôi các loại vật nuôi cỡ nhỏ hoặc bò sữa phục vụ nhu cầu của bản thân
hoặc bán tại các khu chợ cóc.
Nông nghiệp ven đô là các trang trại nhỏ gần thành phố hoạt động bán
chuyên hoặc chuyên phục vụ kinh doanh trồng rau quả, nuôi gia súc gia cầm,
sản suất trứng và sữa. [33]
1.1.3.2 Đặc điểm:
- Ít cần đóng gói, bảo quản và vận chuyển thực phẩm,
- Cung cấp thức ăn giá rẻ cho người nghèo,
- Khả năng cung cấp các thực phẩm tươi mới và thực phẩm dễ bị hư
hỏng,
- Khả năng tái chế và tái sử dụng rác thải,
- Nguy hiểm về môi trường và sức khỏe từ các hoạt động trồng trọt và
chăn nuôi không đảm bảo,
- Gia tăng cạnh tranh về đất, nước, năng lượng, nhân công,
- Giảm khả năng hấp thu ô nhiễm của môi trường. [33]
1.1.4. Vấn đề sử dụng đất
Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được
sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “Những hoạt động của
con người, liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có
tác động lên chúng”. [2]
chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc
phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương
nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý,
sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển
nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Yếu tố không gian:
Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm
của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người. Đất đai hạn chế
về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thay thế được khi
8
tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội. [1]
1.1.5. Vấn đề quản lý đất đai
Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến
việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển
đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất hoặc thu thuế) và giải quyết những
tranh chấp có liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất.
Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về
thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất,
lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị,
sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động
sản. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đó là đất công và đất tư
bao gồm cả các hoạt động đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và
quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý.
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất
đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm: pháp luật đất
đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đối với công tác quản lý đất đai, nhà
nước xác định một số nội dung chủ yếu: sự phối hợp giữa các cơ quan nhà
(như Đà Lạt, Vinh) thành thành phố trực thuộc Trung ương. Đến tháng 12/2012,
cả nước có 765 đô thị. Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam
(phê duyệt năm 2009) dự kiến đến năm 2025 cả nước sẽ có khoảng 1000 đô thị
với 52 triệu người, đưa tỷ lệ đô thị hóa lên 50%. [20]
Trong quá trình đô thị hóa, việc tăng dân số đô thị đều đi đôi với tăng diện
tích đất đô thị, tức là nhiều diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng sẽ
được chuyển đổi thành đất đô thị. Nếu đô thị ở giữa vùng trồng lúa thì chắc chắn
diện tích đất trồng lúa và trồng rau vùng ven nội sẽ giảm đi, dù có được bảo vệ
bằng cách nào đi nữa. Đấy là chưa kể đến hiện tượng đô thị hóa không chính
thức diễn ra theo dạng nhánh cây, cùng với các nhà máy lan tỏa dọc các quốc lộ,
vừa chiếm dụng vừa làm ô nhiễm khá nhiều đất nông nghiệp, đồng thời gây trở
ngại cho giao thông khu vực.
Không những thế, để phục vụ nhu cầu của dân đô thị, nhiều diện tích đất
10
lúa ngoại thành đã phải nhường chỗ cho các trung tâm giải trí (như Thiên đường
Bảo Sơn) hay sân gôn (như ở Vân trì, Hà Nội), thể hiện thế lực đáng nể của thị
trường bất động sản.
Nông nghiệp đô thị là hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bên trong
hoặc bên cạnh đô thị, nó gắn chặt với hệ thống kinh tế - xã hội của đô thị, chịu
sự tác động bỏi quy hoạch, kế hoạch, chính sách và nhu cầu của đô thị. Do đó,
để phát triển nông nghiệp đô thị một cách bền vững cần thực hiện các giải pháp
chủ yếu sau:
- Trước hết phải rà soát quy hoạch và có kế hoạch sử dụng một cách hợp lý,
hài hòa; chuyển đổi những vùng đất năng suất, hiệu quả thấp sang các ngành
nghề mang lại giá trị sử dụng đất cao hơn; Không phát triển công nghiệp những
vùng đất màu mỡ, có lợi thế cho sản xuất nông nghiệp.
Song song với với công tác quy hoạch, phải có kế hoạch sử dụng đất theo
hướng tập trung, chuyên canh cần có chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,
sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con
người mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường. Hội nghị
thượng đỉnh về phát triển bền vững năm 2002 tại Johannesburg đã khẳng định
phát triển Nông nghiệp và Nông thôn bền vững là quá trình đa chiều bao gồm:
(i) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan
trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (ii) tính bền vững trong
sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; (iii) khả năng tương
tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nông nghiệp và nông thôn để
đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng. [5]
1.3.2 Sử dụng đất nông nghiệp khu vực ven đô thị theo hướng phát triển
nông nghiệp đô thị sinh thái – kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và
thực tiễn ở nước ta.
Cu Ba đã phát triển mạnh mẽ nông nghiệp đô thị để cung ứng thực phẩm
tươi sống tại chỗ cho cư dân đô thị, nhờ đó thủ đô Lahabana đã tự túc được đến
90% thực phẩm. Năm 2008 có hơn 20 vạn thị dân Cu Ba làm việc trong ngành
nông nghiệp đô thị sử dụng 140 km2 đất đô thị. Chương trình nông nghiệp đô
thị của Cuba là một thành công ấn tượng. Các nông trại, trong đó nhiều nông trại
12
nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau cho Cuba. Các nông trại này
cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cuba với lương khá cao và
làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen với chế độ ăn có gạo và
đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu. GS Catherine Murphy, một nhà
xã hội học đã có hàng chục năm nghiên cứu về các nông trại ở Lahabana nhận
xét: “Đây là một mô hình thú vị nếu xét rằng Cuba là quốc gia có gần 80% dân
số sống ở đô thị. Điều này chứng tỏ các thành phố có thể tự sản xuất lương thực
mà vẫn đảm bảo các lợi ích xã hội và môi trường”.
Tại Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất
thế giới, 48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông người
số những người dân này, hơn 600000 (17%) người được tham gia vào các hoạt
động liên quan đến nông nghiệp đô thị. Các công việc này đã thu hút nhiều
những dân di cư, họ là những nông dân có kinh nghiệm và bằng việc sử dụng
các kỹ thuật tiên tiến như nhà kính, họ có thể kiếm nhiều tiền hơn, góp phần
nâng cao thu nhập cho gia đình của họ ở nông thôn. [14]
Tại Nhật, tỷ lệ cơ giới hóa được áp dụng trên 25%, hầu hết phục vụ công
đoạn cày xới, chăm sóc cho nguồn đất được giàu dinh dưỡng, phù hợp với thổ
nhưỡng để trồng các chủng loại rau củ thích hợp cho vùng đất này như các loại
rau cải, bắp cải và cà chua. Công nghệ cũng được áp dụng ở công đoạn “tưới
tắm” cho cây. Còn những phần việc khác như gieo giống, đặc biệt là thu hoạch,
phải luôn thực hiện thủ công. Vì những khâu này rất cần đến kiến thức, kinh
nghiệm và sự tỷ mẩn của nhà nông.
Tuy nhiên, điểm khác biệt quan trọng trong ứng dụng công nghệ sản xuất
nông sản sạch của Nhật chính là hệ thống tiếp nhận, thông báo để xử lý thông
tin. Hệ thống này đã được khách tham quan - ngay cả giới chuyên gia trong lĩnh
vực nông nghiệp của nhiều nước tiên tiến trên thế giới - đánh giá cao.
14
Hình 1.1. Hệ thống đo nhiệt độ, gió, độ ẩm
Được thiết kế ngoài trời, ngay lối vào nông trại, thoạt nhìn, hệ thống này
chẳng có gì đặc biệt, giống cột antena (ăng-ten). Nhưng hệ thống có đầy đủ chức
năng như trạm dự báo thời tiết khi có thể thu thập, xử lý những thông số mang
yếu tố sống còn trong sản xuất nông nghiệp, như: đo độ gió, lượng mưa, theo
dõi nhiệt độ… của môi trường vùng trồng trọt. Những thông số này luôn được
cập nhật theo ngày, thậm chí ở thời điểm nhạy cảm của vụ mùa, hệ thống sẽ cập
nhật từng giờ nhằm giúp các chuyên gia kỹ thuật có thể nắm bắt chính xác, trao
đổi và có hướng xử lý cụ thể, kịp thời thích hợp, nhằm giảm tối đa nguy cơ gây
thất bát vụ mùa.
xuất khẩu: nghề nuôi tôm, cá sấu, cây cảnh, cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh, nghề
trồng hoa ở TP Đà Lạt; nghề trồng chè ở TP Thái Nguyên, TX Tuyên Quang,
TX Bắc Cạn, TX Sông Công; nghề trồng cà phê, cao su, hồ tiêu ở ngoại ô các đô
thị ở Tây Nguyên; trồng cây ăn quả, nuôi tôm, cá ba sa ở các đô thị vùng đồng
bằng sông Cửu Long. So với khu vực nông thôn, trung bình năng suất cây trồng
ở khu vực ven đô có năng suất cao hơn 30-50% nhờ hệ thống hạ tầng nông
nghiệp phát triển.
Ngày 13/11/2010, Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Đà
Nẵng (Đại học Đà Nẵng) đã phối hợp với Công ty Tầm nhìn Sinh thái tổ chức
Hội thảo “Nông nghiệp sinh thái đô thị - giải pháp của tương lai”.
Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp cho nông nghiệp
sinh thái đô thị như: “Kỹ thuật thủy canh tĩnh - ưu điểm và sự thích hợp với các
hộ gia đình nội thành thành phố Đà Nẵng” của Thạc sĩ Đỗ Thị Trường; “Thủy
canh hồi lưu & Khí canh - giải pháp của nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của
Tiến sĩ Võ Văn Minh; “Cây xanh trong kiến trúc đô thị hiện đại” của Thạc sĩ
Nguyễn Văn Khánh; “Cây cảnh thủy canh - sự lựa chọn của các hộ gia đình,
phòng khách và trường học thân thiện”; “Nuôi cấy mô tế bào thực vật - giải
pháp cung ứng giống cho nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Kỹ sư Trần
Quang Dần,…
Đây là một trong những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới do các nhà
khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua để giải quyết những bức xúc của
ngành nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá nhanh. Ngoài ra, nông
nghiệp đô thị không chỉ là nguồn tạo nên GDP (giá trị kinh tế thuần tuý) mà còn
17
tạo ra nhiều giá trị khác: sinh thái, môi trường, giáo dục, nghỉ dưỡng, tận dụng
thời gian rỗi...
Sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dưỡng (còn gọi là loại hình
nông nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dướng) cũng là một hướng phát triển
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối
quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi
trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu
áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là
một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng
về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng
của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất [15].
* Các nội dung và nhiệm vụ sử dụng đất được thể hiện qua:
- Sử dụng hợp lý về không gian để hình thành hiệu quả kinh tế không gian
sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình
thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất.
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp hình thành quy mô
kinh tế sử dụng đất.
- Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất một cách
kinh tế, tập trung thâm canh.
- Hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
hội, hiệu quả môi trường .
- Phải xem xét đến lợi ích trước mắt và lâu dài.
- Phải xem xét cả lợi ích riêng của người sử dụng đất và lợi ích chung của
cả cộng đồng.
- Phải xem xét giữa hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng các nguồn
lực khác.
- Đảm bảo sự phát triển thống nhất giữa các ngành.
19
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba khía
21
lợi ích của con người. Do những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng,
vì thế nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội.
Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt
động kinh tế nhằm đạt mục tiêu với một lượng tài nguyên nhất định tạo ra một
khối lượng sản phẩm lớn nhất hoặc tạo ra một khối lượng sản phẩm nhất định
với chi phí tài nguyên ít nhất.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả
đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả
đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là
phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần
so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai
đại lượng đó. Một phương án đúng hoặc một giải pháp kinh tế kỹ thuật có hiệu
quả kinh tế cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí
nguồn lực đầu tư.
Vì vậy, bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất
đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một
lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng tăng về vật chất của xã hội.
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và
thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu
biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng
các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá
đói giảm nghèo,định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của
toàn dân.
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác
thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử
dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những
mục tiêu phát triển KT-XH, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái
23
và không làm ảnh hướng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần
thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đất [11]. Do
đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ và hợp lý”, phải
có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể, làm cơ sở thực hiện việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả kinh
tế cao.
Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là cần thiết vì:
- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây
dựng cơ cấu cây trồng, chế độ bón phân hợp lý, góp phần bảo vệ độ phì đất.
- Là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên khác, từ đó
nâng cao đời sống của nông dân.
- Trong cơ chế kinh tế thị trường cần phải xét đến tính quy luật của nó,
gắn với các chính sách vĩ mô nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
và phát triển nền nông nghiệp bền vững [7].
* Quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
- Tận dụng triệt để các nguồn lực thuận lợi, khai thác lợi thế so sánh về
khoa học- kỹ thuật, đất đai, lao động qua liên kết trao đổi để phát triển cây trồng,
vật nuôi có tỉ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu [8].
- Trên quan điểm phát triển hệ thống nông nghiệp, thực hiện sử dụng đất
nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo
hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh toàn diện và liên tục.
Thâm canh cây trồng, vật nuôi vừa để đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế sử
dụng đất nông nghiệp vừa đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp ổn định [7].
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “đa