Đổi mới tổ chức chính quyền đô thị qua thực tiễn thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LIÊN

ĐỔI MỚI TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2010


MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
Lời cam đoan
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU

1

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG NHẤT VỀ CHÍNH QUYỀN

5

ĐÔ THỊ

1.1.


28

1.2.3.2. Phân chia các cấp chính quyền trong đô thị

29

1.2.3.3. Tổ chức các cơ quan của chính quyền đô thị

31

Mô hình tổ chức chính quyền đô thị của một số nước

35

1.3.1.

Thành phố – thủ đô Tokyo (Nhật Bản)

35

1.3.2.

Thành phố – thủ đô Seoul (Hàn Quốc)

39

1.3.3.

Thành phố NewYork (Hợp chủng quốc Hoa Kì)


Những đặc thù của đô thị Hà Nội

48


2.1.1.

Thành phố Hà Nội trước hợp nhất

48

2.1.2.

Tỉnh Hà Tây trước hợp nhất

52

2.1.3.

Thành phố Hà Nội (mới) sau hợp nhất

55

Bộ máy hành chính của Thủ đô Hà Nội trước và sau sát nhập

61

2.2.1.

Cơ cấu đơn vị hành chính


2.3.4.

Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức khối quận, huyện

84

2.3.5.

Cơ cấu chức danh cán bộ, công chức khối xã, phường, thị trấn

86

2.4.

Một số nhận xét về tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị HN

87

2.4.1

Những điểm mạnh

87

2.4.2

Những điểm hạn chế

88

3.2.3.

Không tổ chức Hội đồng nhân dân ở cấp quận, huyện, phường thuộc 96
thủ đô
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
102

3.2.4.

Giảm cấp phó trong các sở, ban, ngành

105

3.2.5.

Đào tạo lại đội ngũ cán bộ công chức hiện có

108

KẾT LUẬN

111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

112


DANH MỤC CÁC BẢNG
1. Bảng 1: Cơ cấu công chức chia theo cấp hành chính

1


Về tổ chức của chính quyền địa phương nói chung và tổ chức của chính
quyền đô thị nói riêng đã có một số công trình nghiên cứu. Tuy nhiên số
lượng các công trình nghiên cứu chuyên sâu đề tài riêng về Hà Nội không
nhiều. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của
chính quyền đô thị trực thuộc trung ương:
- PGS.TS. Vũ Đức Đán- TS Lưu Kiến Thanh (2000), Tổ chức và hoạt động
của bộ máy chính quyền Thành phố trực thuộc Trung ương, Nxb Thống kê, Hà
Nội.
- PGS. TS Phạm Hồng Thái (2003), Thiết lập mô hình tổ chức chính
quyền đô thị, đề tài cấp Bộ, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội.
- TS. Nguyễn Đăng Dung (2001), Chuyên đề về tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phương, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp,
Hà Nội.
- PGS.TS. Lê Minh Thông, PGS.TS. Nguyễn Như Phát (2002), Những
vấn đề lí luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- PGS.TS. Lê Sỹ Thiệp (1996), Đổi mới thể chế và hoạt động của bộ
máy quản lý nhà nước ở địa phương, Đề tài khoa học cấp cấp bộ, mã số 9398-397, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
- Tô Tử Hạ, TS. Nguyễn Hữu Trị, TS. Nguyễn Hữu Đức (1998), Cải
cách hành chính địa phương – Lý luận và thực tiễn, Hà Nội.
- Đỗ Xuân Đông (1996), Đổi mới tổ chức bộ máy hành chính đô thị trong
cải cách nền hành chính quốc gia hiện nay, Luận án phó tiến sỹ luật học, Hà Nội.
- Lê Minh Thông (1999), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân
dân và ủy ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 6/1999.
- Bùi Xuân Đức (2000), “Một số vấn đề cần hoàn thiện trong tổ chức và hoạt
động của ủy ban nhân dân các cấp”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 7/2000.




Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp:
phương pháp lịch sử cụ thể; so sánh; khảo sát, thống kê; qui nạp; diễn dịch;
phân tích – tổng hợp.
5. Mục đích của luận văn
Đánh giá được thực trạng mô hình tổ chức chính quyền đô thị qua thực
tiễn thành phố Hà Nội theo pháp luật hiện hành.
Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị
thành phố Hà Nội.
Xác định hệ thống chức năng và nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung nhất về chính quyền đô thị
Chương 2: Thực trạng tổ chức của chính quyền đô thị Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện bộ máy chính quyền đô
thị Hà Nội.
Mặc dù tác giả đã tập trung công sức nghiên cứu đề tài nhưng luận văn
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong các thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp
cho ý kiến đóng góp để đề tài có thể tiếp tục phát triển hơn nữa.

4


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG NHẤT VỀ CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ

1.1.Khái niệm chính quyền địa phƣơng
Hiện nay, trên thế giới theo các tiêu chí khác nhau, chính quyền địa

Các cơ quan quản lý nhà nước ở đây, ngoài cơ quan quản lý hành chính còn có
cả các cơ quan do dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra. Việc tổ chức chính quyền
ở đây mang nhiều tính tự quản, tự trị (đơn vị hành chính cơ sở).
Đặc điểm của các đơn vị hành chính tự nhiên này là được hình thành
trên các địa điểm quần cư (xóm làng, thị trấn, thị xã, thành phố), nó liên kết
dân cư trong một khối liên hoàn thống nhất. Mọi vấn đề của địa phương đều
liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài
hoà các lợi ích nhà nước, dân cư. Cơ quan chính quyền ở đây không phải chỉ
là cơ quan cai trị mà cũng là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư- cơ
quan tự quản. Nói cách khác, cơ quan chính quyền ở các đơn vị hành chính
trung gian có nhiệm vụ bảo đảm triển khai pháp luật, chính sách của Nhà
nước Trung ương tới cơ sở, thì cơ quan chính quyền ở đơn vị hành chính cơ
sở phải thể hiện lợi ích của dân cư nhiều hơn (mang tính tự quản).
+ Đơn vị lãnh thổ hành chính nhân tạo, là đơn vị được Nhà nước
Trung ương chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu cầu
quản lý hay nhu cầu “cai trị” của Trung ương.
Việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước ở cấp chính quyền
này chủ yếu để thực hiện chức năng quản lý, đảm bảo lợi ích của Nhà nước,
tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ở đây chức năng quản
lý lãnh thổ về cơ bản do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, cơ quan đại
diện (nếu có) chỉ đóng vai trò tư vấn.
Việc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trên các lãnh thổ
nhân tạo không cần phải tính đến các đặc điểm, đặc thù một cách nặng nề như

6


ở các đơn vị hành chính tự nhiên mà thiên về việc đáp ứng nhu cầu của các cơ
quan quản lý nhà nước cấp trên.
Ở Việt Nam từ trước đến nay thuật ngữ “chính quyền địa phương” được

nhau, nên thường sử dụng các thuật ngữ như “quản lý địa phương”, “tự quản
địa phương” ở các nước TBCN; hoặc “Xô viết địa phương”, “các cơ quan
quyền lực và quản lý Nhà nước ở địa phương” ở Liên Xô (cũ) và các nước
XHCN trước đây. Tuy có sự khác nhau về nguyên tắc tổ chức, về cơ cấu,
thẩm quyền và mối quan hệ pháp lý giữa các cơ quan, tổ chức… trong việc
thực hiện quản lý các công việc ở địa phương của các Nhà nước là khác nhau,
nhưng trong khoa học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở các nước khái niệm
“quản lý địa phương”, “tự quản địa phương”, “Xô viết địa phương”… ở cả
các nước TBCN, cũng như các nước XHCN đều không bao hàm tất cả các cơ
quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở địa phương (ví dụ: Các cơ quan
tư pháp như Tòa án, Viện Công tố hoặc Viện Kiểm sát).
Nhưng khái niệm “quản lý địa phương”, “tự quản địa phương” ở Nhà
nước tư sản và khái niệm “chính quyền địa phương” ở nước ta là hoàn toàn
khác nhau về mặt nguyên tắc.
Vì khái niệm “quản lý địa phương” ở các nước TBCN được hiểu là một
dạng hoạt động hành chính được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước do chính
quyền cấp trên (Chính phủ) bổ nhiệm và các cơ quan tự quản địa phương do
dân chúng địa phương bầu ra .
Các cơ quan tự quản địa phương ở các nước TBCN bao gồm các cơ
quan dân cử (Hội đồng tự quản) và các cơ quan chấp hành của nó. Trong khoa
học pháp lý và thực tiễn pháp luật ở những nước này, các cơ quan tự quản địa
phương không được coi là các cơ quan nhà nước, không nằm trong hệ thống
các cơ quan quyền lực nhà nước của Nhà nước tư sản. Những người làm việc
trong các cơ quan tự quản địa phương không được xếp vào đội ngũ công chức
của Nhà nước. Ví dụ: Sau khi Liên Xô tan rã, chế độ nhà nước XHCN Xô viết

8


sụp đổ, Cộng hòa Liên bang Nga và các nước cộng hòa cũ của Liên Xô đã

án ở địa phương.
Để xác định rõ bản chất pháp lý, cơ cấu tổ chức của chính quyền địa
phương và sự khác nhau cơ bản, có tính nguyên tắc giữa khái niệm “chính
quyền địa phương” ở nước ta với khái niệm “quản lý và tự quản địa phương”
của các nước, theo chúng tôi cần nhấn mạnh mấy điểm chủ yếu sau đây:
Một là, chính quyền địa phương của nước ta là một bộ phận hợp thành,
gắn bó hữu cơ của chính quyền nhà nước thống nhất, là hình thức pháp lý
thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở địa phương. Vì
vậy tính nhà nước là thuộc tính vốn có của chính quyền địa phương ở nước ta
chứ không phải tính “phi nhà nước” như của các cơ quan tự quản địa phương
của một số nước dựa trên cơ sở của quan điểm chính trị – pháp lý đã lỗi thời
của phương Tây mà sách báo pháp lý ở những nước này đã phê phán.
Tính quyền lực nhà nước của chính quyền địa phương không chỉ xác định
vị trí, tính chất pháp lý và vai trò của các cơ quan chính quyền địa phương trong
cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất của nhân dân, mà còn xác định
thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quyết định các
biện pháp nhằm xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nói chung,
trong việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương nói riêng. Đặc
biệt là giá trị pháp lý của các văn bản do chính quyền địa phương ban hành và
thẩm quyền của các cơ quan chính quyền địa phương trong việc kiểm tra, giám sát
việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với tất cả các cơ quan nhà nước khác,
các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân ở địa phương được qui định bởi
tính quyền lực nhà nước của các cơ quan chính quyền địa phương.
Hai là, không phải các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt động ở
địa phương, giải quyết các vấn đề phát sinh ở địa phương đều nằm trong cơ
cấu tổ chức của chính quyền địa phương. Điều này không có nghĩa chỉ trừ có

10




năm 1962, cũng như Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1994 sau này đã
không có qui định nào sử dụng thuật ngữ “chính quyền địa phương”. Các
Luật này đã bổ sung thêm nhiều điều, mục để qui định về cơ cấu tổ chức
HĐND và UBND, như: Luật năm 1962, lần đầu tiên qui định HĐND các cấp
thành lập các Ban chuyên trách của HĐND; qui định UBHC các cấp có quyền
quyết định thành lập, bãi bỏ các cơ quan chuyên môn thuộc UBHC (chứ
không phải bên cạnh UBHC như trước đây). Các cơ quan chuyên môn thuộc
UBHC chịu sự lãnh đạo của UBHC cùng cấp, thủ trưởng cơ quan chuyên
môn chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với UBHC cấp này… (xem: Các
Điều 28, Điều 29, Điều 30, Điều 55, Điều 56 Luật Tổ chức HĐND và UBHC
các cấp năm 1962). Còn Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 (sửa đổi)
qui định thành lập thêm cơ quan Thường trực HĐND (gồm Chủ tịch, Phó Chủ
tịch và Thư ký HĐND) từ cấp huyện trở lên. Đến Luật Tổ chức HĐND và
UBND năm 1994 qui định cả HĐND cấp xã cũng có Chủ tịch, Phó Chủ tịch
HĐND để thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn có tính chất thường
trực của HĐND ở cấp này. Mặc dù các Ban của HĐND, Thường trực của
HĐND cũng như Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND cấp xã trong khoa học pháp
lý thường được gọi là các cơ quan nội tại, hay các tổ chức bên trong của các
cơ quan dân cử ở địa phương, là hình thức hoạt động của các cơ quan này,
chúng không là cơ quan nhà nước theo đúng nghĩa của nó, vì không có thẩm
quyền mang tính quyền lực nhà nước, không có quyền đơn phương quyết định
có tính bắt buộc thi hành… Nhưng các Ban của HĐND các cấp có vai trò
quan trọng trong việc giúp HĐND thẩm tra báo cáo, đề án sẽ trình ra kỳ họp
của HĐND, giúp HĐND kiểm tra, giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp
luật và Nghị quyết của HĐND ở địa phương, kiến nghị với HĐND về những
vấn đề thuộc phạm vi lĩnh vực hoạt động của mình. Thường trực HĐND
(hoặc Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND xã, phường, thị trấn) được thành lập từ

12



cấp trên và có sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi
ích chung của cả nước.
Từ những điều đã trình bày trên đây có thể rút ra khái niệm về chính
quyền địa phương như sau :
Chính quyền địa phương ở nước ta là một bộ phận hợp thành của chính
quyền nhà nước thống nhất của nhân dân, bao gồm các cơ quan đại diện
quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu ra
(HĐND) và các cơ quan, tổ chức nhà nước khác được thành lập trên cơ sở
các cơ quan đại diện quyền lực nhà nước này theo qui định của pháp luật
(UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Thường trực HĐND, các Ban
của HĐND …), nhằm quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương,
trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của
nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước.
1.2. Khái niệm đô thị và chính quyền đô thị
1.2.1. Khái niệm đô thị
Việc tìm ra một định nghĩa chung về đô thị không phải là công việc
đơn giản. Có bao nhiêu quốc gia thì có bấy nhiêu định nghĩa về đô thị. Và
thậm chí ngay trong một quốc gia, định nghĩa đô thị cũng có thể thay đổi tuỳ
từng thời kỳ. Thậm chí có những quốc gia không cần định nghĩa đô thị mà ấn
định luôn một số thành phố của mình là đô thị [36,98-102].
Ở đây, đô thị được hiểu theo nghĩa là một đơn vị hành chính - lãnh thổ,
do đó, định nghĩa đô thị sẽ chủ yếu dựa trên nền các qui định của pháp luật,
nói cách khác là các định nghĩa có giá trị pháp lí.
Vì đô thị và đô thị hoá hiện nay đã trở thành một hiện tượng toàn cầu,
nên các quốc gia đã đạt được một số điểm chung nhất định trong việc xác
định đâu là đô thị. Những điểm chung đó là:

14


dân số Hoa Kỳ xác định đô thị (Urban) là toàn bộ các đơn vị lãnh thổ nằm trong
khu vực đô thị hoá (Urbanized Area - UA) hoặc vùng đô thị (Urban Cluster - UC).
Khu vực đô thị hoá bao gồm những đơn vị lãnh thổ liền kề, đông dân
cư với mật độ ít nhất là 1.000 người/dặm vuông, và các đơn vị lãnh thổ tiếp
giáp đông dân cư khác, cộng vào có dân số ít nhất là 50.000 người.
Vùng đô thị bao gồm những đơn vị lãnh thổ liền kề, đông dân cư với
mật độ đáp ứng mức tối thiểu, và những đơn vị lãnh thổ tiếp giáp đông dân cư
khác, cộng vào có dân số ít nhất là 2.500 người, nhưng dưới 50.000 người.
Theo những điều kiện nhất định, những đơn vị lãnh thổ với mật độ dân
số thấp hơn mức nói trên có thể trở thành bộ phận của khu vực đô thị hoá
hoặc vùng đô thị.
Còn nông thôn (Rural Area) được xem là mọi đơn vị lãnh thổ nằm
ngoài các khu vực đô thị hoá và vùng đô thị [39].
Ở Việt Nam, khái niệm đô thị cũng đã được pháp luật qui định và có
thay đổi một lần. Cách xác định mới nhất về đô thị được qui định tại Nghị
định số 72/2001/NĐ-CP ngày 5/10/2001 của Chính phủ về việc phân loại đô
thị và cấp quản lý đô thị. Theo nghị định này, đô thị nói chung ở Việt Nam
bao gồm những đặc điểm sau:
- Chức năng là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất
định;
- Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%;
- Có cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt
70% mức tiêu chuẩn, qui chuẩn qui định đối với từng loại đô thị;
- Qui mô dân số ít nhất là 4.000 người;
- Mật độ dân số phù hợp với qui mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị.

16



những khu vực “phi nông thôn”, còn những từ như thành phố, thị xã, thị
trấn... được dùng để chỉ những đơn vị hành chính - lãnh thổ cụ thể mang tính
chất của đô thị, hoặc được Nhà nước công nhận là đô thị.
Tuy rằng tất cả những từ nói trên đều là từ Hán Việt, nhưng có hai dấu hiệu
chỉ ra tính chất phi nông thôn của những vùng đất này, một là “thị” và hai là “đô”.
Các nhà khảo cổ và các nhà sử học, khi nghiên cứu về các đô thị cổ của
Việt Nam, đã chứng minh rằng đây là hai yếu tố cơ bản nhất cấu thành đô thị
Việt Nam thời kì cổ đại, trung đại và cận đại.
“Những địa điểm được coi như đô thị cổ ở đây là những vùng tụ cư,
mang đặc điểm lớn nhất: Không chủ yếu sản xuất nông nghiệp.
...
Thế nào là “không chủ yếu”? ở nhiều nơi trên thế giới, những địa điểm
tụ cư đô thị, ngay từ khi mới xuất hiện, hình thành, đã là những tập hợp người
hoàn toàn tách rời nghề nông, chuyên sống bằng các nghề thủ công, buôn bán,
dịch vụ... Quá trình đô thị hoá trong lịch sử đô thị ở những nơi như thế, chỉ
còn cần xem xét sự tăng tiến về số dân, chất lượng và tổ chức nghề nghiệp,
tính chất bộ máy quản lí, bộ mặt đô thị với qui hoạch, kiến trúc, đường sá, hệ
thống cấp thoát nước, thắp sáng..., và cuối cùng là sinh hoạt văn hoá đô thị.
Nhưng ở Việt Nam, hầu hết nếu không phải là tất cả những đô thị, ngay cả
vào lúc đã phát triển hoặc rất phát triển, vẫn tồn tại ngay trong lòng đô thị, thậm chí
giữa đô thị, những vùng, những hoạt động nông nghiệp, không phải với tư cách
“vành đai xanh”. Đô thị tiêu biểu nhất ở Việt Nam là Thăng Long - Hà Nội, chỉ tính
từ khi trở thành quốc đô cho đến thế kỉ XIX, cũng đã có gần nghìn năm tồn tại và
phát triển thường xuyên liên tục, nhưng chỉ nhìn vào những tấm bản đồ đô thị hồi
thế kỉ XIX, cũng vẫn thấy còn vô số những kí hiệu ruộng lúa ở ngay giữa những
khu vực trung tâm.
...

18



từ tố mang tính chất chung. Đó là: Đô, thành, trấn... - những danh hiệu biểu
thị một chức năng quan trọng của thực thể: Trung tâm hành chính - chính trị.
Phải chăng, đây là nhân tố còn thiếu vắng trong các làng buôn, làng nghề, với
số dân đông?
Nhìn chung, có thể thừa nhận điều này. Những Bát Tràng, Xuân Cầu,
Báo Đáp, Phù Lưu, Nho Lâm... không có thành, không là đô, trấn. Trong khi
đó, những Cổ Loa, Hoa Lư, Thăng Long, Phú Xuân... chẳng những có thành
mà còn chính là đô; và ngay cả những Lạng Sơn, Hưng Hoá, Phố Hiến, Gia
Định... thì tuy không là đô, nhưng cũng là trấn; còn các trường hợp Vân Đồn,
Hội An... thì bộ máy hành chính - chính trị đặt định ở đây cũng là hết sức
trọng yếu.
Như thế, giữ vai trò, làm nhiệm vụ của một trung tâm hành chính chính trị lớn, nhỏ, của một vùng hay của cả nước, đó chính là một tiêu chí
nữa, để một địa điểm, một tập hợp cư dân trở thành đô thị.
Vậy là, gọn lại, cùng với tính chất và chức năng hoạt động kinh tế phi
nông nghiệp là chủ yếu, còn có vai trò và nhiệm vụ hành chính - chính trị của
một trung tâm quan trọng - đó là hai tiêu chí có quan hệ biện chứng với nhau,
để thống nhất xem xét một địa điểm sinh tụ cư dân là đô thị ’’ [33, 9-13].
Đô thị ngày nay ở Việt Nam tất nhiên có nhiều nét kế thừa những đặc
điểm lịch sử đó. Tuy nhiên, chúng cũng đã có những bước phát triển quan
trọng, từng bước tiến lên ngang tầm với những đô thị lớn của thế giới. Một số
nhà nghiên cứu đã bước đầu xác định được đặc trưng của đô thị ngày nay so
với nông thôn.
TS. Vũ Đức Đán, trên cơ sở nghiên cứu các thành phố trực thuộc Trung
ương của Việt Nam, đã tìm ra một số đặc trưng sau của đô thị trực thuộc
Trung ương:

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status