Năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 01 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG THỊ THANH

NĂNG LỰC CỦA THẨM PHÁN
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH –
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐẶNG THỊ THANH
NĂNG LỰC CỦA THẨM PHÁN
TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH –
QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số

: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học : GS.TS.NGƢT Phạm Hồng Thái

Hà Nội - 2016


2.1.4. Về phẩm chất đạo đức của Thẩm phán……………………………..43
2.1.5. Về văn hóa ứng xử của Thẩm phán………………………………...46
2.1.6. Về chất lượng xét xử của Thẩm phán………………………...…….49
2.2. Thực trạng năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành
chính qua thực tiễn thành phố Hà Nội …………………………………51
2.2.1. Về trình độ đào tạo, điều kiện về bằng cấp…………………….…...52
2.2.2. Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ………………………….……..52
2.2.3. Về trình độ lý luận chính trị………………………………………...53
2.2.4. Về phẩm chất đạo đức………………………………………………53
2.2.5. Về văn hóa ứng xử……………………………………………….…53
2.2.6. Kết quả và chất lượng xét xử các vụ án hành chính ở thành phố Hà
Nội…………………………………………………………………………54
2.3. Đánh giá chung về thực trạng năng lực của Thẩm phán trong xét
xử vụ án hành chính qua thực tiễn thành phố Hà Nội ………………..57
2.3.1. Những ưu điểm……………………………………………………..58
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân…………………………….59
Kết luận chƣơng 2……………………………………………….……….64
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM NĂNG LỰC CỦA
THẨM PHÁN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÀNH CHÍNH …………...65
3.1. Quan điểm về sự cần thiết bảo đảm năng lực của Thẩm phán
trong xét xử vụ án hành chính…………………………………………..65
3.2. Những giải pháp chung………………………………………….….67
3.3. Những giải pháp cụ thể ………………………………………….…69
3.3.1. Các giải pháp xây dựng và hoàn thiện những quy định của pháp luật
về Thẩm phán…………………………………………………………..….70
3.3.2. Các giải pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi
dưỡng Thẩm phán ………………………………………………………...74



LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lời biế t ơn sâu sắ c đế n các Thầ y, Cô giáo Khoa Luâ ̣t Đa ̣i ho ̣c
Quố c gia Hà Nô ̣i đã trang bi ̣cho tôi những kiế n thức quý báu , giúp tôi tiếp cận
tư duy khoa ho ̣c phu ̣c vu ̣ cho nghiên cứu, công tác và cuô ̣c số ng.
Xin chân thành cảm ơn GS.TS. NGƯT Phạm Hồng Thái đã tâ ̣n tiǹ h hướng
dẫn tôi hoàn thành luâ ̣n văn này . Trong quá triǹ h nghiên cứu hoàn thiê ̣n luâ ̣n
văn, dưới sự hướng dẫn rấ t bài bản và khoa ho ̣c của Thầ y , tôi đã ho ̣c hỏi đươ ̣c
những kiế n thức và phương pháp nghiên cứu khoa ho ̣c thực sự bổ ích.
Xin cảm ơn gia đình , bạn bè, các đồng nghiệp , Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suố t quá trình học tập,
nghiên cứu để tôi hoàn thiện Luận văn này.
Để hoàn thiê ̣n đươ ̣c luâ ̣n văn , mă ̣c dù đã cố gắ ng hế t mình trong nghiên cứu
cũng như tham khảo , đánh giá thực tiễn song vẫn không tránh khỏi những sai
sót. Tôi rấ t mong nhâ ̣n đươ ̣c những ý kiến gó p ý, giúp đỡ để tôi hoàn thiện Luận
văn của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 19 tháng 05 năm 2016
Ngƣời viế t

Đặng Thị Thanh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác.Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin
cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

TAQS

Tòa án quân sự

TTLT

Thông tư liên tịch

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng

Tên bảng

Trang

Bảng so sánh tỷ lệ án hành chính bị hủy, bị sửa
Bảng 2.1:

do lỗi chủ quan của Thẩm phán so với các loại án
khác của toàn ngành TAND thành phố Hà Nội

công tác đào tạo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức, văn hóa

1


xét xử của Thẩm phán phù hợp với các nguyên tắc tố tụng hành chính và nguyên
tắc tổ chức bộ máy nhà nước, đảm bảo cho hoạt động tố tụng hành chính ở Việt
Nam có hiệu quả. Song về phương diện lý luận năng lực của Thẩm phán chưa
được giới khoa học pháp lý làm sáng tỏ. Bên cạnh đó, về mặt thực trạng các quy
định của pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó vẫn còn một
số bất cập nhất định làm hạn chế năng lực của Thẩm phán, từ đó ảnh hưởng đến
kết quả xét xử, đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Nghiên cứu vấn đề
này cũng là áp ứng yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn đặt ra nhằm bảo đảm năng lực
của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính ởViệt Nam hiện nay nói chung và
ở thành phố Hà Nội nói riêng.
Thực tiễn về năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính ở
thành phố Hà Nội trong thời gian qua về cơ bản đã đáp ứng được nhiệm vụ bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đồng
thời bảo vệ pháp chế, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, qua
thực tiễn xét xử các vụ án hành chínhvẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế như:
vẫn còn tình trạng tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, bị sửa do lỗi chủ quan của
Thẩm phán;án quá hạn…Những tồn tại trên cho thấy năng lực của đội ngũ Thẩm
phán trong xét xử vụ án hành chính ở thành phố Hà Nội còn bộc lộ những yếu
kém nhất định cần được khắc phục.
Trước tình hình đó, tác giả chọn đề tài: “Năng lực của Thẩm phán trong
xét xử vụ án hành chính - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận
văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tình hình nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về Thẩm phán nói
chung, về năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính nói riêng đã

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề lý luận chung
năng lực của Thẩm phán, các tiêu chí đánh giá năng lực Thẩm phán, sự hình
thành các quy định của pháp luật tố tụng hành chính về Thẩm phán; Thực trạng
và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về năng lực của Thẩm phán
5


trong xét xử vụ án hành chính qua thực tiễn thành phố Hà Nội; Thực tiễn năng
lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính qua kết quả công tác xét xử vụ
án hành chính trong giai đoạn 05 năm 2011-2015 ở thành phố Hà Nội. Quan
điểm và giải pháp bảo đảm năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành
chính.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc nghiên
cứu lý luận về năng lực của Thẩm phán trong xét xử hành chính; phân tích các
quy định Hiến pháp, Luật tố tụng hành chính, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật
tổ chức Tòa án nhân dân… hiện hành và một số các văn bản pháp luật, văn kiện
Đại hội Đảng có liên quan đến chủ đề của Luận văn.
- Thực trạng năng lực của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính theo
các tiêu chí đã được xác định.
- Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng xét xử vụ án hành chính ở thành
phố Hà Nội trong giai đoạn 05 năm (2011, 2012, 2013, 2014, 2015), qua đó
đánh giá năng lực Thẩm phán.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về cán bộ,
công chức ngành tư pháp. Để giải quyết những vấn đề, thực hiện mục đích của
Luận văn, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…



Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA THẨM PHÁN
1.1. Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của Thẩm phán
Trong hoạt động xét xử các vụ án nói chung, vụ án hành chính nói riêng,
Thẩm phán có vai trò hết sức quan trọng, là người có quyền và phải chịu trách
nhiệm về các phán quyết của mình. Các phán quyết của Thẩm phán có ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; ảnh ưởng tới tính
công minh của pháp luật, uy tín và nền công lý quốc gia. Chính vì thế sự tham
gia của Thẩm phán trong xét xử vụ án hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
1.1.1. Khái niệm Thẩm phán
Thẩm phán ở bất kỳ các quốc gia nào, châu lục nào và thuộc hệ thống
pháp luật nào thì cũng đều có nhiệm vụ xét xử và làm việc trong một cơ quan
nhà nước là Tòa án. Vậy nên, nói đến Thẩm phán người ta hiểu đó là người
chuyên làm công tác xét xử các vụ án, là trọng tài viên phân xử tranh chấp giữa
các bên trong các vụ việc dân sự, phân xử hành vi của bị cáo có cấu thành tội
phạm như bản cáo trạng của bên buộc tội hay không trong vụ án hình sự.
Ở Việt Nam, xét xử vụ án hành chính được coi là giai đoạn trọng tâm
trong tố tụng hành chính nói chung, trong giải quyết vụ án hành chính nói riêng.
Thông qua giai đoạn này Tòa án xác định quyền lợi của công dân, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội có bị xâm hại bởi các quyết định hành chính, hành vi hành
chính của cơ quan nhà nước hay không để từ đó đưa ra những bản án, quyết định
đúng với những quy định của pháp luật nhằm bảo vệ uy tín, quyền lợi của Nhà
nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Để đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, Thẩm phán phải có những
tiêu chuẩn nhất định về thể lực, trí lực, đạo đức và phải được tuyển chọn bổ
nhiệm theo thủ tục trình tự mà pháp luật đã quy định. Hiện nay, vẫn tồn tại nhiều
quan điểm khác nhau về khái niệm “Thẩm phán”. Cụ thể là:
8

9


của Tòa án” [19, tr.101]. Theo khái niệm này, nhiệm vụ chính của Thẩm phán là
chỉ xét xử vụ án, nhưng trên thực tế, khi công tác ở Tòa án Thẩm phán còn có
nhiệm vụ giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa
án nhân dân 2002 thì Thẩm phán được định nghĩa:“ là người được bổ nhiệm theo
quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những
việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”.Ở định nghĩa này, nhiệm vụ của Thẩm
phán đã được xác lập đầy đủ hơn đó là không những Thẩm phán đóng vai trò là
người xét xử các vụ án mà còn làm các nhiệm vụ khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án (khi Thẩm phán là Chánh án, Phó Chánh án…). Tuy nhiên, trong Bộ Luật
tố tụng hình sự, Luật tố tụng hành chính hay Bộ Luật tố tụng dân sự hiện hành
thì Thẩm phán còn được quy định là người tiến hành tố tụng như khái niệm tại
Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội nêu.
Hiện nay, Điều 65 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 có quy định
cụ thể hơn về thẩm phán “là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của
Luật này được Chủ tịch nước bổ nhiệm để làm nhiệm vụ xét xử”.Với định nghĩa
này, như đã phân tích ở các dẫn chứng trên, Thẩm phán trong định nghĩa tuy cụ
thể hơn nhưng nhiệm vụ vẫn chưa đầy đủ.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm “Thẩm phán là người
tiến hành tố tụng được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật thực hiện nhiệm vụ
xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa
án”.
Thẩm phán được chia thành 4 ngạch, bao gồm: Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao; Thẩm phán cao cấp; Thẩm phán trung cấp; Thẩm phán sơ cấp. Theo
đó, Tòa án nhân dân tối cao có Thẩm phán TANDTC; Tòa án nhân dân cấp cao,
Tòa án quân sự trung ương có Thẩm phán cao cấp; Tòa án nhân dân tỉnh, thành

vụ án... Chẳng hạn:

11


Đối với thủ tục bắt đầu phiên tòa, Thẩm phán với tư cách là chủ tọa phiên
tòa có vai trò quan trọng, là người điều khiển phiên tòa, tiến hành những thủ tục
cần thiết để các thủ tục xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án có được tiến hành
tiếp hay không và nếu được tiến hành thì các thủ tục đó được diễn ra một
cáchthuận lợi, đúng pháp luật, đảm bảo cho việc xét xử khách quan, công bằng.
Đối với việc tranh tụng diễn ra tại phiên tòa thì vai trò của Thẩm phán
được thể hiện một cách rõ nét đầy đủ nhất. Bởi vì cũng chính tại phiên tòa là nơi
sẽ diễn ra đỉnh điểm của sự tranh tụng, nó hàm chứa đầy đủ các dấu hiệu, đặc
điểm của việc tranh tụng và cũng tại giai đoạn này vai trò của thẩm phán trong
tranh tụng cũng được thể hiện một cách nổi bật. Thẩm phán là người điều khiển
việc tranh tụng để việc tranh tụng diễn ra một cách có trật tự, đi đúng trọng tâm
vào những vấn đề mấu chốt, những điểm còn mâu thuẫn, cần làm rõ của vụ án
hành chính.Thông qua kết quả tranh tụng, thẩm phán đánh giá nội dung thực chất
của vụ án, các chứng cứ, các lý lẽ, lập luận của mỗi bên, trên cơ sở đó căn cứ vào
quy định của pháp luật để ra quyết định đúng đắn.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chỉ có Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân mới được quyền xét xử. Tuy nhiên, Hội thẩm chỉ tham gia xét xử ở cấp
xét xử sơ thẩm và trong trường hợp cần thiết tham gia xét xử phúc thẩm. Trong
khi đó, dù ở cấp xét xử nào sự có mặt của Thẩm phán vào việc xét xử là điều bắt
buộc, Thẩm phán luôn đóng vai trò nòng cốt giải quyết vụ án.
Thông qua vai trò xét xử các vụ án hành chính, Thẩm phán góp phần to
lớn vào việc duy trì sự công bằng, khách quan của pháp luật; một mặt bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức trước quyết định hành chính và
hành vi hành chính của cơ quan nhà nước; đồng thời cũng bảo vệ quyền lợi và
danh dự của cơ quan nhà nước.

hiện rõ nét tính quyền lực nhà nước, đồng thời là chức năng chuyên biệt của
Thẩm phán, là nghề của Thẩm phán. Thông qua hoạt động của của mình, Thẩm
phán thực hiện nhiệm vụ của tòa án. Thẩm quyền xét xử của Thẩm phán phụ
thuộc vào thẩm quyền xét xử của Tòa án.
13


Trong tố tụng hành chính, Thẩm phán là người trực tiếp xét xử vụ án hành
chính. Thẩm phán có thể được phân công làm chủ tọa phiên tòa, có thể chỉ là
Thẩm phán tham gia phiên tòa thì vẫn là người tiến hành tố tụng tại phiên tòa
như nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét hỏi, xem xét vật chứng, ra các quyết định thuộc
thẩm quyền của mình mà pháp luật tố tụng hành chính quy định. Tuy nhiên,
nhiệm vụ của Thẩm phán có sự khác nhau khi Thẩm phán ở vị trí khác nhau. Đối
với Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có nhiệm vụ nặng nề và áp lực
hơn so với Thẩm phán tham gia phiên tòa.
Thực hiện nhiệm vụ xét xử của mình trong giải quyết các vụ án hành
chính, Thẩm phán cùng Hội đồng xét xử ra bản án, thay mặt Hội đồng xét xử
tuyên bản án, quyết định nhân danh Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Các phán quyết của Tòa án là kết quả cuối cùng của hoạt động xác minh,
thu thập tài liệu, chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các phán quyết của
Thẩm phán có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ
chức.Chính vì vậy, Luật Tố tụng hành chính năm 2010 hiện hành, Luật Tố tụng
hành chính năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 đã quy định rõ
nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được phân công giải quyết và xét xử vụ án
hành chính.
Thông qua việc thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hành chính, Thẩm phán
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các quyền con người, quyền công dân; danh dự, uy
tín của cơ quan nhà nước và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đồng thời cũng là thực hiện nhiệm vụ của Tòa án: bảo vệ pháp chế xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; góp phần

thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền
với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân.
Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người,
trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh mà là kết
quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn
luyện, hoạt động của cá nhân)” [51, tr.452].
15


Ngoài ra, còn một số các quan điểm khác nhau về năng lực như:“Năng lực
là sự tương ứng giữa một bên là những đặc điểm tâm sinh lý của một con người
với một bên là những yêu cầu của hoạt động nghề đối với con người đó”[66].
Hay, có quan điểm khác lại cho rằng: “trong lao động, những yêu cầu của một
công việc xác định; nếu những đặc điểm tâm lí và sinh lí của một người có quan
hệ tương xứng với những yêu cầu của công việc thì có thể giao việc cho họ: đó
chính là năng lực”[67].
Từ những cách hiểu trên, tác giả có thể rút ra khái niệm năng lực như sau:
“Năng lực là những khả năng cần thiết đủ để thực hiện thành thạo một công việc
nhất định và hoàn thành yêu cầu, nhiệm vụ của công việc đó”.
Theo đó, đối với một loại công việc, mỗi loại ngành nghề khác nhau đòi
hỏi phải có những khả năng cần thiết, đặc trưng khác nhau để đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của công việc đó. Đối với nghề Thẩm phán – nghề xét xử cũng vậy, để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xét xử các vụ án nhanh chóng, chính xác, đúng các
quy định của pháp luật, Thẩm phán phải có khả năng cần thiết đảm bảo thực hiện
thành thạo công việc xét xử. Những khả năng cần thiết đó bao gồm: trình độ đào
tạo, bằng cấp; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trình độ lý luận chính trị; phẩm
chất đạo đức tốt và phải có văn hóa ứng xử khéo léo, thông minh…Ngoài ra, yếu
tố quan trọng nhất để đánh giá năng lực của một Thẩm phán trong xét xử các vụ
án chính là chất lượng xét xử các vụ án hành chính. Bởi vì chất lượng xét xử là
thành quả cuối cùng của tất cả các quá trình hoạt động trước đó (trình độ đào tạo,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status