Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội : Luận văn ThS. Luật: 60 38 01 07 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ HÀ

Gi¶i quyÕt tranh chÊp hîp ®ång mua b¸n hµng ho¸
theo thñ tôc s¬ thÈm t¹i Toµ ¸n nh©n d©n
thµnh phè Hµ Néi

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ HÀ

Gi¶i quyÕt tranh chÊp hîp ®ång mua b¸n hµng ho¸
theo thñ tôc s¬ thÈm t¹i Toµ ¸n nh©n d©n
thµnh phè Hµ Néi
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI – 2015



Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hoá ....................... 6

1.1.1.

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa............................................ 6

1.1.2.

Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa ................................. 9

1.2.

Khái niệm, đặc điểm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá...... 14

1.2.1.

Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ......................... 14

1.2.2.

Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa .................... 16

1.3.

Nguyên nhân xảy ra tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua
bán hàng hóa ................................................................................. 18

1.3.1.


hóa theo thủ tục sơ thẩm với việc xét xử tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa theo thủ tục phúc thẩm ....................................... 31

Kết luận chương 1 ...................................................................................... 34
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ TÌNH HÌNH GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HOÁ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TOÀ ÁN NHÂN
DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................................................... 36
2.1.

Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa ở Việt Nam .............................................................................. 36

2.1.1.

Chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa...... 36

2.1.2.

Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa theo thủ tục sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam .......................... 37

2.2.

Tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội từ năm 2007 đến năm 2012 .................................................... 51

2.3.



Quy trình tuyển chọn, cử Hội thẩm nhân dân cũng như năng lực
trình độ của Hội thẩm nhân dân còn nhiều hạn chế.......................... 80


2.4.6.

Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế xét xử ............... 81

2.4.7.

Án lệ chưa được coi là nguồn luật ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu
quả giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ............. 82

Kết luận chương 2 ...................................................................................... 83
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ THEO THỦ TỤC SƠ
THẨM TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI .......... 85
3.1.

Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật và
nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án .................................... 85

3.2.

Các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả giải quyết đối với
các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội.......................................................... 86

Một số giải pháp khác ................................................................... 101

Kết luận chương 3 .................................................................................... 102
KẾT LUẬN ............................................................................................... 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 107


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS:

Bộ luật dân sự

BLTTDS:

Bộ luật tố tụng dân sự

CHXHCN:

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

LTM:

Luật thương mại

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạn



đến uy tín của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của các bên.
Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định các hình thức giải quyết tranh
chấp trong kinh doanh nói chung và đối với loại hợp đồng mua bán hàng hoá
nói riêng gồm thương lượng, hoà giải, Trọng tài và Toà án. Các bên được tự
do thỏa thuận hình thức này hay hình thức khác để giải quyết tranh chấp theo
quy định của pháp luật.
Ở Việt Nam, thẩm quyền xét xử vụ án theo thủ tục sơ thẩm do Tòa án
cấp huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương xét xử. Trong đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quy định tại điểm a, Khoản
1 Điều 29 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2004 mà không thuộc thẩm quyền của
cấp huyện; những tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà đương sự hoặc

1


tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện của
Việt Nam ở nước ngoài. Như vậy, không phải tất cả các tranh chấp về hợp
đồng mua bán hàng hóa đều được giải quyết ở các tòa án nhân dân cấp tỉnh,
nhưng tính chất của việc xét xử sơ thẩm này là hết sức quan trọng vì đây
thường là những vụ án phức tạp, động chạm tới quyền lợi của nhiều chủ thể
tham gia thị trường, làm sao để việc xét xử được thuận lợi, không ảnh hưởng
đến uy tín của các bên kinh doanh mà vẫn đảm bảo đúng các quy định của
pháp luật là điều quan trọng mà Nhà nước luôn yêu cầu các Thẩm phán tại
các Tòa án phải đặt lên hàng đầu.
Hà Nội là trung tâm kinh tế - chính trị của cả nước, là địa bàn thu hút
đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Cùng
với các hoạt động khác, hoạt động kinh doanh thương mại tại đây diễn ra sôi
nổi trong đó có các hoạt động mua bán hàng hoá. Những năm gần đây, các

vấn đề chung, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt về
việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá theo thủ tục sơ thẩm tại
Toà án nói chung và Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nói riêng. Kế thừa và
phát huy kết quả nghiên cứu của các tác giả và xuất phát từ những lý do nêu trên,
học viên chọn đề tài: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá theo
thủ tục sơ thẩm tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn
3.1. Mục đích của Luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận, các
quy định của pháp luật Việt Nam về việc xét xử các vụ án tranh chấp mua bán
hàng hoá theo thủ tục sơ thẩm; phân tích thực trạng việc xét xử và đưa ra giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo thủ tục sơ thẩm đối với loại tranh
chấp này tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải có nhiệm vụ:
- Xác định khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá; khái
niệm, đặc điểm về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá.

3


- Trên cơ sở giải quyết những vấn đề về mặt lý luận, nghiên cứu
pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, thực tiễn
việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá theo thủ tục
sơ thẩm tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, bất cập trong thực tiễn
(thông qua các vụ án đã thụ lý, số vụ án đã giải quyết, số vụ án chưa giải
quyết), trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xét
xử loại tranh chấp này theo thủ tục sơ thẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các quy định của pháp luật

mua bán hàng hoá và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá theo
pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; thực
tiễn giải quyết loại tranh chấp này tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu Đề tài có ý nghĩa quan trọng
trong việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án, nâng cao nhận thức của những
người làm thực tiễn, để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác của tác
giả cũng như các cán bộ làm công tác xét xử tại các Toà án.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng mua bán hàng
hóa và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm
tại Tòa án.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và tình hình giải quyết tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành
phố Hà Nội.
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HOÁ VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HOÁ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN

1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hoá

chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội nói riêng và ở Tòa án nhân dân các tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương nói chung trên địa bàn cả nước được phân cho hai Tòa
chuyên trách riêng biệt là Tòa Dân sự và Tòa Kinh tế. Ở phạm vi đề tài của
luận văn, học viên mong muốn dành phần lớn nội dung của chuyên đề để
nghiên cứu về loại tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là tranh
chấp kinh doanh thương mại (có tính chất thương mại), được LTM 2005 điều
chỉnh và được Tòa Kinh tế thụ lý giải quyết.
Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội hiện nay ngoài việc xét
xử sơ thẩm các tranh chấp về kinh doanh thương mại về hợp đồng mua bán
hàng hóa quy định tại điểm a, Khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004 mà không
thuộc thẩm quyền của cấp huyện, hoặc thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp
huyện nhưng cấp tỉnh xét thấy cần thiết nên lấy lên giải quyết. Tòa Kinh tế
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội còn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các
tranh chấp hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài hay còn gọi là hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu một số vấn đề liên
quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Về mặt lý luận, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải đảm bảo cần
và đủ hai yếu tố: thứ nhất, là hợp đồng mua bán hàng hóa trong lĩnh vực
thương mại; thứ hai, hợp đồng này phải có yếu tố nước ngoài (yếu tố nước
ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể rơi vào một trong ba trường hợp
là chủ thể, sự kiện pháp lý và đối tượng của hợp đồng).

7


Về mặt pháp luật thực định, do cách tiếp cận, nhu cầu và mục đích khác
nhau mà pháp luật mỗi nước, mỗi điều ước quốc tế hay tập quán có cách gọi
tên cũng như xác định nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa một
cách khác nhau.

quốc tế và các đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước
ngoài. LTM 2005 quy định: “Mua bán hàng hóa được thực hiện dưới hình
thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển
khẩu” [39, Điều 27]. Như vậy, yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế ở đây chỉ là hàng hóa là đối tượng của hợp đồng phải được giao
dịch qua biên giới. Với những loại hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà
hàng hóa không có sự dịch chuyển qua biên giới thì rõ ràng sẽ không thuộc
phạm vi điều chỉnh của LTM 2005. Tuy nhiên, với tư duy coi Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 (Sau đây gọi tắt là BLDS 2005) là “đạo luật gốc” bao
trùm lên tất cả các lĩnh vực kinh tế - thương mại, hôn nhân và gia đình, lao
động thì đối với những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà hàng hóa
không được chuyển qua biên giới quốc gia, chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng
các quy định của BLDS 2005 đối với phần hợp đồng có yêu tố nước ngoài nói
chung để điều chỉnh.
1.1.2. Các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Với việc coi BLDS 2005 là “đạo luật gốc” thì chúng ta thấy rằng, nhiều
vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa được điều chỉnh bởi pháp luật không
có sự khác biệt so với hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự. Bên cạnh đó,
để phù hợp với bản chất thương mại của hợp đồng mua bán hàng hóa, một số
vấn đề như chủ thể của hợp đồng, hình thức của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ
của các bên trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, chế tài và việc giải
quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định trong pháp
luật thương mại là sự phát triển tiếp tục những quy định của pháp luật dân sự
về hợp đồng mua bán tài sản. Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ
mua bán hàng hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm sau đây:

9


* Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

nhau những điều khoản không trái với quy định của pháp luật. So với Pháp
lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì đây là một sự tiến bộ, theo hướng có lợi
hơn cho các chủ thể tham gia hợp đồng, bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy
định, hợp đồng kinh tế (bao gồm cả hợp đồng mua bán hàng hóa) chỉ được
thực hiện bằng hình thức duy nhất là văn bản.
Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật một số nước
trên thế giới và một số điều ước quốc tế như Công ước Rome 1980 về áp
dụng luật đối với nghĩa vụ hợp đồng, pháp luật Việt Nam và các Hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoài đều không đưa ra một quy
định riêng. Các nước đều có những quy định đòi hỏi hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế chỉ hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện nhất định như hợp đồng
phải được ký kết dưới hình thức văn bản (hoặc các hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương), lời nói hay hành vi nhất định. Có một số quốc gia quy
định một cách chặt chẽ về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
ví dụ như ở Công hòa Pháp, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bắt buộc
phải được công chứng.
Công ước Viên 1980 của Liên Hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế không yêu cầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân
thủ bất kỳ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng, nghĩa là không quy định
bắt buộc về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Các bên có thể
dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng để chứng minh sự tồn
tại của hợp đồng, tuy nhiên các quy định tại Công ước Viên cũng cho thấy
rằng, nếu nước thành viên mà trong pháp luật của nước đó đòi hỏi hợp đồng
phải được ký kết hoặc phê chuẩn dưới hình thức văn bản thì điều quy định này
của pháp luật nước thành viên đó phải được tôn trọng [33, Điều 12, 96].
Theo PICC (nguyên tắc không bắt buộc về hình thức của hợp đồng –
No Form Required), việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không

11




tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông
trong thương mại. So với quy định của LTM 1997 thì đối tượng của hợp đồng
đã được mở rộng hơn. Không dừng lại ở việc liệt kê các loại hàng hóa là đối
tượng của hợp đồng, LTM 2005 quy định theo hướng ngày càng mở rộng đối
tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa cho phù hợp với xu hướng phát triển
của đất nước.
Liên quan đến việc quy định hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua
bán hàng hóa, pháp luật của các quốc gia cũng như các điều ước có các quy
định khác nhau phù hợp với pháp luật cũng như tập quán của mỗi nước. Tuy
nhiên, tất cả đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép
lưu thông trong thương mại.
Công ước Viên 1980 của Liên hiệp quốc về Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế chỉ loại trừ (không áp dụng) đối với việc mua bán một số loại
hàng hóa như chứng khoán, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông, điện
năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường không, phương tiện vận tải bằng
khinh khí cầu.
Theo pháp luật Hoa kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch
chuyển được (quyền sở hữu) vào thời gian xác định theo hợp đồng mua bán
hàng hóa; hàng hóa có thể là hàng hóa đã có ở hiện tại hoặc hàng hóa sẽ có
trong tương lai [20, tr.21].
Ở nước ta, ngoài quy định về các loại hàng hóa được lưu thông trong
thương mại nêu trên, Chính phủ ban hành cụ thể danh mục hàng hóa cấm kinh
doanh, hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và điều kiện để kinh
doanh các loại hàng hóa này [10]; ngoài ra, trong một số trường hợp nhất
định, các cơ quan chức năng có thẩm quyền được phép áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời đối với hàng hóa lưu thông trong nước, theo đó hàng hóa
được lưu thông trong nước có thể áp dụng một hoặc các biện pháp buộc phải



14


về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng mà chủ yếu là
liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo
hợp đồng. Tranh chấp có thể phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích
hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thực hiện hợp
đồng, sửa đổi, bổ sung chấm dứt hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do vi phạm hợp đồng…
Vi phạm hợp đồng là căn cứ làm phát sinh tranh chấp giữa các bên.
Điều kiện để quy trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường
thiệt hại cho bên bị vi phạm, hay nói cách khác những điều kiện nào được coi
là cần và đủ để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Nhìn chung, Công ước
Viên năm 1980, pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới
đều có những quy định tương đối giống nhau về các căn cứ để quy trách
nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng. Nếu người bán không thực hiện một nghĩa
vụ nào đó của họ được quy định trong hợp đồng, trong Công ước hay trong
pháp luật, thì người mua có căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ví du,
Theo Công ước Viên năm 1980 (Điều 61), nếu người mua không thực hiện
một nghĩa vụ nào đó trong hợp đồng hay trong Công ước này thì người bán có
căn cứ đòi bồi thường thiệt hại. Như vậy, khi một bên vi phạm bất cứ một
nghĩa vụ nào mà gây thiệt hại cho phía bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
Điểm chung của Công ước Viên năm 1980, pháp luật Việt Nam và
pháp luật các nước để quy định trách nhiệm của bên vi phạm hợp đồng đối
với bên bị vi phạm cần có đủ các điều kiện sau đây:
- Có sự vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Có sự thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm;
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại về
tài sản;

thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm. Nếu không chứng minh được thì không có
căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét để bồi thường thiệt hại cho họ. Liên quan

16


đến vấn đề thiệt hại do vi phạm hợp đồng, pháp luật của các nước có quy định
khác nhau: Luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) quy định: Thiệt hại
bao gồm thiệt hại chung, thiệt hại phụ và thiệt hại phát sinh; Bộ luật Dân sự
của Pháp thì quy định: “Bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại mà do hợp
đồng quy định hoặc dự kiến được vào thời điểm ký kết hợp đồng nếu anh ta
không hề lừa dối để dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ” (Điều 1150).
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật
chất xảy ra:
Điều này có nghĩa là vi phạm hợp đồng phải là nguyên nhân, còn thiệt
hại về tài sản của bên bị vi phạm là hậu quả của nó thì mới có căn cứ để yêu
cầu bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác chỉ bồi thường những thiệt hại
gây ra bởi hành vi vi phạm hợp đồng. Công ước Viên 1980 cũng đã quy định:
“Tổn thất là những khoản một bên phải gánh chịu do hậu quả của việc vi
phạm hợp đồng”.
- Có lỗi của bên vi phạm:
Đây là điều kiện để quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng của bên vi phạm. Nếu một bên vi phạm hợp đồng mà không có lỗi
thì không phải bồi thường thiệt hại. Ví dụ, bên bán đã chuẩn bị xong hàng hóa
cho bên mua và chuẩn bị giao hàng theo hợp đồng thì bão ập đến cuốn trôi
hàng và làm thiệt hại phần lớn hàng hóa khiến bên bán không thể giao hàng
theo đúng thời hạn như hai bên đã ký kết. Như vậy, đây là sự kiện bất khả
kháng, việc không giao hàng đúng thời hạn không có lỗi của bên bán hàng.
Về vấn đề xem xét lỗi trong hợp đồng mua bán hàng hóa, nguyên tắc là
bên bị vi phạm không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên vi phạm. Tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status