Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 1999-2003
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HĨA NGOẠI THƯƠNG NHỮNG
LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giáo viên hướng dẫn:
Đặng Thò Thu Thảo
CBGD Bộ môn Luật Thương
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Văn Vũ
MSSV: 5992574
Lớp Luật thương mại
K25
CẦN THƠ –7/ 2003
Huỳnh Văn Vũ
1.4 Xác định luật áp dụng cho HĐMBHHNT.........................................................13
1.4.1 Các hệ thống luật điều chỉnh hợp đồng...........................................................13
Luật
áp dụng
giảiThơ
quyết @
tranhTài
chấpliệu
hợp đồng
tâm1.4.2
Học
liệu
ĐHtrong
Cần
học........................................15
tập và nghiên cứu
1.4.2.1 Luật do các bên lựa chọn...........................................................................15
1.4.2.2 Luật do cơ quan thụ lý tranh chấp quyết định............................................16
1.4.2.2.1 Luật nơi cơ quan thụ lý (xét xử) ..........................................................17
1.4.2.2.2 Luật nơi ký kết hợp đồng.....................................................................18
1.4.2.2.3 Luật nơi thực hiện hợp đồng...............................................................19
1.4.2.2.4 Luật nơi cư trú hoặc quốc tịch của các bên .........................................19
Chương 2: GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG
HĐMBHHNT VÀNHỮNG LƯU Ý CHO DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
2.1 Xác định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng ...................................................21
2.1.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng.....................................................21
2.1.1.1 Điều kiện có hiệu lực của HĐMBHHNT...................................................21
2.1.1.2 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng ...............................................23
2.2.3.4
2.4.1 Cố gắng thỏa thuận trong hợp đồng điều khoản luật áp dụng lúc ký kết ....................48
2.4.2 Khi hợp đồng có tranh chấp nên lựa chọn phương pháp giải quyết tranh chấp
một cách phù hợp ..........................................................................................48
2.4.3 Cung cấp đầy đủ chứng cứ, lập luận hợp lý trong quá trình giải quyết tranh chấp
................................................................................................................................49
2.4.4 Tuân thủ đúng quy định tố tụng của nước có Tòa án hoặc đúng quy tắc tố tụng
của trung tâm trọng tài khi đi kiện ..................................................................50
KẾT LUẬN ...............................................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................52
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Huỳnh Văn Vũ
3
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
LỜI NÓI ĐẦU
*****
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng phát triển ở
mọi quốc gia mọi khu vực trên thế giới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là điều
kiện tiên quyết để quốc gia phát triển. Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại
lệ, cũng không thể nằm ngoài tiến trình đó. Chính vì thế văn kiện đại hội Đảng lần
thứ IX đã xác định “phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
NAM làm luận văn tốt nghiệp nhằm tìm hiểu những thực tiễn tranh chấp và giải
quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương giữa thương
nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài. Từ đó rút ra những điều doanh
nghiệp Việt Nam cần lưu ý khi tham gia vào hoạt động ngoại thương, nhằm giúp
cho doanh nghiệp có những tư liệu tham khảo và làm kinh nghiệm trong trường
hợp có tranh chấp, từ đó góp phần hạn chế những tranh chấp cũng như cho việc
giải quyết tranh chấp tốt hơn sau này.
Trong phạm vi nghiên cứu người viết sử dụng những phương pháp lý luận
đã học kết hợp với các phương pháp tổng hợp, so sánh tài liệu và phỏng vấn trực
tiếp để nghiên cứu đề tài.
Huỳnh Văn Vũ
4
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Do kiến thức hạn chế nên trong đề tài chỉ nghiên cứu đến một số vấn đề lý
luận chủ yếu về hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, rút ra một số hạn chế
về luật và những điều doanh nghiệp cần chú ý.Từ đó đi đến giải quyết tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng đó. Có thể khái quát như sau:
Chương1: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
ngoại thương.
Chương 2: Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại
thương và những lưu ý cho doanh nghiệp Việt Nam”.
Rất mong sự đóng góp phê bình của quý thầy cô, các bạn và những ai có
quan tâm.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo công ước Lahay 1964 về mua bán hàng hóa quốc tế hữu hình thì
HĐMBHHNT là tất cả các hợp đồng mua bán trong đó các bên ký kết có trụ sở
thương mại ở các nước khác nhau. Như vậy, tính chất quốc tế của HĐMBHHNT
trong công ước thể hiện ở chỗ: chủ thể ký kết hợp đồng là các bên có trụ sở thương
mại tại các nước khác nhau; đối tượng của hợp đồng là hàng hóa phải dịch chuyển
qua biên giới; chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được lập ở các nước khác
nhau. Từ đó ta thấy yếu tố quốc tịch không được đề cập trong công ước Lahay
1964. Tương tự như vậy, tại điều 1 công ước Vienne 1980 của LHQ về mua bán
hàng hóa quốc tế quy định "Công ước này áp dụng cho các bên có trụ sở thương
mại tại các quốc gia khác nhau … quốc tịch của các bên, quy chế dân sự, thương
mại, tranh chấp dân sự hay thương mại của họ không được xét tới trong phạm vi
áp dụng của công ước này". Tuy nhiên, hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương
được ký kết không phải bất cứ lúc nào các bên cũng có trụ sở thương mại (có một
bên không có trụ sở thương mại), do đó tại khoản 2 điều 10 công ước Vienne 1980
quy định "nếu các bên không có trụ sở thương mại thì lấy nơi cư trú thường xuyên
của họ”.
Trung
Ø Quan điểm của Việt Nam
Trước 1975, do đất nước đang trong tình trạng chiến tranh nên hoạt động
ngoại thương không mấy phát triển. Từ đó, việc ban hành các quy chế pháp luật
cho HĐMBHHNT rất hạn chế. Từ 1975-1986 thì tình trạng kinh tế nằm trong thời
kỳ quan liêu bao cấp nên nhà nước độc quyền về ngoại thương, do đó chủ thể tham
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
gia của một bên đó là nhà nước Việt Nam mà đối tác chủ yếu là các nước xã hội
chủ nghĩa. Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường 1986, lần đầu tiên Việt Nam
ban hành quy chế pháp luật cho hoạt động mua bán hàng hóa ngoại thương
(MBHHNT) với sự quản lý của nhà nước ở tầm vĩ mô (ban hành quy định
vậy, chủ thể nước ngoài cũng phải là thương nhân. Điều 81 khoản 1 Luật thương
mại Việt Nam1997 quy định "chủ thể về phía nước ngoài là thương nhân với tư
cách pháp lý của họ được xác định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương
nhân đó mang quốc tịch". Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì yếu
tố quốc tịch là căn cứ để xác định tính chất quốc tế của HĐMBHHNT. Pháp luật
Việt Nam quy định yếu tố này chưa thật sự phù hợp với tập quán quốc tế về
HĐMBHHNT. Vì vậy, muốn phát triển kinh tế cần phải hòa nhập chung với tập
quán mua bán quốc tế ta cần căn cứ vào yếu tố trụ sở thương mại của các bên để
xác định tính chất quốc tế của hợp đồng vì nếu chỉ căn cứ vào yếu tố quốc tịch thì
chúng ta đã hạn chế tư cách pháp lý của một số chủ thể có khả năng tham gia vào
HĐMBHHNT. Chẳng hạn như, hai công ty có trụ sở thương mại ở hai nước khác
nhau nhưng có cùng quốc tịch ký kết Hợp đồng mua bán hàng hóa thì không thể
xem đó là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong khi nhiều nước khác lại công
nhận đó là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
1.1.2 Đặc điểm của HĐMBHHNT
Như đã phân tích ở phần khái niệm, các quốc gia khác nhau có những quy
định khác nhau về HĐMBHHNT. Theo pháp luật Việt Nam HĐMBHHNT thực
chất là một hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật dân sự. Tuy nhiên nó có một
điểm khác biệt so với hợp đồng mua bán nói chung là nó mang yếu tố quốc tế, từ
đó có những đặc điểm sau:
-Chủ thể tham gia hợp đồng phải có quốc tịch khác nhau
-Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa dịch, dịch vụ di chuyển qua biên giới
-Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký kết. Chính
vì thế khi ký kết hợp đồng phải cân nhắc kỹ điều kiện thanh toán để không bị thiệt
thòi khi có sự biến động giữa đồng tiền tính toán với đồng tiền khi thực hiện hợp
đồng .
Một hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ khi có một trong ba yếu tố trên
thì được xem là HĐMBHHNT, phân biệt với các loại hợp đồng khác theo pháp
khi hợp đồng đã giao kết thì ràng buộc các bên, vì thế được xem là hình thức luật
gián tiếp quản lý hoạt động thương mại quốc tế .
Về mặt pháp lý thì HĐMBHHNT là công cụ pháp lý duy nhất và có hiệu
quả để các bên bảo vệ lợi ích của mình. Những tranh chấp đã giải quyết căn cứ vào
hợp đồng và bên nào nắm rõ yếu tố luật pháp chi phối hơn thì bên đó đương nhiên
có nhiều lợi thế. Trong điều kiện nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHNT còn nhiều
phứcHọc
tạp, đa
dạng,
nếuCần
khôngThơ
thông @
qua Tài
hợp đồng
quy tập
định và
chi tiết,
chặt chẽ
tâm
liệu
ĐH
liệu để
học
nghiên
cứu
quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm
trọng. Mặt khác, HĐMBHHNT thông thường có giá trị lớn nên dù chỉ một sơ suất
nhỏ đôi khi dẫn đến những thiệt hại không lường.
1.2 Những giai đoạn chủ yếu hình thành HĐMBHHNT
1.2.1 Chào hàng
cho một người mua hoặc người bán có nêu rõ thời gian mà bên chào hàng bị ràng
buộc trách nhiệm vào lời đề nghị của mình, thời gian này gọi là thời gian hiệu lực
của chào hàng. Nếu trong thời gian này người được chào hàng chấp nhận hoàn
toàn đề nghị chào hàng thì hợp đồng coi như được ký kết.
_Chào hàng tự do là loại chào hàng mà một bên gửi chào hàng cho một
hoặc nhiều bên nhưng không nêu ra thời gian hiệu lực để người đưa ra chào hàng
bị ràng buộc trách nhiệm vào lời đề nghị của họ. Vì vậy hợp đồng chỉ được coi là
đã ký kết khi bên chào hàng nhận được thông báo việc chấp nhận vô điều kiện của
bên được chào hàng.
Trung
Như vậy về mặt pháp lý bên chào hàng sẽ bị ràng buộc nghĩa vụ của mình
bởi những điều mình đã cam kết trong chào hàng đối với người được chào hàng.
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Tuy nhiên, chào hàng chỉ có giá trị ràng buộc người chào hàng khi nó tới nơi người
được chào hàng. Nếu vì lý do nào đó nó không đến nơi người được chào hàng thì
nó không có giá trị ràng buộc người chào hàng, điều 15 khoản 1 công ước Vienne
1980 quy định “chào hàng có hiệu lực khi nó tới nơi người được chào hàng”.
Ngoài ra cũng có những trường hợp bên chào hàng không bị ràng buộc trách
nhiệm vào những cam kết trong chào hàng của mình khi có những điều kiện do
chào hàng hoặc luật áp dụng cho chào hàng quy định1.
1.2.1.2 Chấp nhận chào hàng
Theo quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam thì một chấp
nhận chào hàng muốn có hiệu lực pháp luật phải đảm bảo các điều kiện sau:
Thứ nhất, bên được chào hàng chấp nhận hoàn toàn mọi điều kiện của chào
hàng, không có sự mặc cả; ngược lại sẽ hình thành nên một chào hàng mới đối với
người được chào hàng là người đã chào hàng ban đầu và nếu người này chấp nhận
chào hàng mới đó thì phải thông báo cho bên kia biết, khi đó hợp đồng được thành
bên khi người được chào hàng thông báo cho người chào hàng việc hủy bỏ chấp
nhận chào hàng, điều kiện để thông báo hủy chào hàng có hiệu lực do chào hàng
hoặc luật áp dụng cho hợp đồng đó quy định.
Trung
1.2.1.3 Chào hàng mới
Như đã phân tích trên khi bên được chào hàng nhận được chào hàng
nhưng không chấp nhận vô điều kiện mà mặc cả và đưa ra lời đề nghị mới thì được
xem như là từ chối chào hàng và lời đề nghị mới đó được xem như chào hàng mới
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
của người được chào hàng đối với người đã chào hàng ban đầu. Khoản 1 điều 19
công ước Vienne 1980 quy định “Một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận
chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác
thì được coi là từ chối chào hàng và được coi là một hoàn giá”.
Tuy nhiên không phải tất cả những trả lời chào hàng có xu hướng chấp
nhận chào hàng nhưng có sự mặc cả hay sửa đổi, bổ sung nội dung chào hàng đều
được xem là chào hàng mới. Chỉ có những trả lời chào hàng theo hướng chấp nhận
nhưng có sự mặc cả hay sửa đổi, bổ sung những điều kiện của chào hàng nhưng nó
đã làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì mới được xem là chào
hàng mới. Các điều kiện được xem là làm biến đổi cơ bản nội dung của chào hàng
được quy định khác nhau tùy theo pháp luật của các quốc gia hay điều ước quốc tế,
theo điều 19 công ước Vienne 1980 thì các điều kiện đó là điều kiện về giá cả, điều
kiện số lượng, điều kiện thanh toán, điều kiện phẩm chất, điều kiện thời gian và địa
điểm giao hàng, phạm vi trách nhiệm, điều kiện giải quyết tranh chấp. Theo pháp
luật thương mại Việt nam 1997 thì các điều kiện đó là giá cả, điều kiện số lượng,
điều kiện thanh toán, điều kiện quy cách phẩm chất, điều kiện thời gian và địa
điểm giao hàng.
Một điều lưu rằng một chào hàng được hiểu là chào hàng mới khi nó xuất
“Địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân
đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng nếu không có thỏa thuận khác”. Từ những
quy định trên cho phép hiểu rằng hợp đồng được ký kết kể từ thời điểm bên đưa ra
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
chào hàng nhận được thông báo chấp nhận chào hàng, đây là quy định trên cơ sở
thuyết tiếp thu, điều này thể hiện rõ nét hơn tại điều 55 Luật thương mại Việt Nam
1997 “Hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là đã ký kết kể từ thời điểm các bên
có mặt ký vào hợp đồng. Trong trường hợp các bên không cùng có mặt để ký hợp
đồng thì hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là đã ký kết kể từ thời điểm bên
chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ các điều kiện đã ghi trong chào
hàng trong thời hạn trách nhiệm của người chào hàng".
Nơi ký kết hợp đồng là địa điểm mà ở đó hợp đồng được thành lập, nơi này
có sự quy định khác nhau tùy theo hệ thống luật.(sẽ phân tích kỹ ở phần giải quyết
tranh chấp)
Do đó lưu ý doanh nghiệp là khi ký kết HĐMBHHNT thì ngày ký kết phải
chọn ngày có đầy đủ chữ ký của cả hai bên mua và bán, đồng thời nên thỏa thuận
ghi trong hợp đồng nơi ký kết hợp đồng, để làm cơ sở khi thực hiêïn hợp đồng.
1.3 Nội dung các điều khoản chủ yếu của hợp đồng
Như đã phân tích ở trên, các nước khác nhau có thể quy định khác nhau về
nội dung của những điều khoản chủ yếu của HĐMBHNT. Theo điều 50 Luật
thương mại Việt Nam 1997 thì nó có 6 điều khoản bắt buộc là tên hàng, số lượng,
giá cả, quy cách chất lượng, phương thức thanh toán, phương thức giao hàng. Nội
dung của những điều khoản của hợp đồng bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố
pháp lý trong đó, do đó khi ghi trong hợp đồng phải rõ ràng và hai bên có thể
Huỳnh Văn Vũ
12
mua không có quyền khiếu nại người bán về quy cách hàng hoá .
Trong trường hợp hàng hoá cùng loại thì do khi ký hợp đồng hàng hoá có
thể chưa có, nên trong hợp đồng cần phải mô tả chi tiết hàng hoá hoặc dẫn chiếu
phẩm chất hàng hoá đến tiêu chuẩn quốc gia hoặc một loại hàng hoá đang lưu
thông trên thị trường. Nếu như trong hợp đồng hai bên không quy định cụ thể về
phẩm chất hàng hoá thì người bán có nghĩa vụ giao hàng ở mức trung bình để xuất
khẩu đối với loại hàng hoá đó ở nước người bán.
Đối với những hàng hóa khó mô tả hoặc khó tiêu chuẩn hóa như hàng mỹ
nghệ, hàng nông sản... thì trong tập quán thương mại các bên thường thỏa thuận
lập 3 mẫu hàng, một giao cho người mua, một người bán giữ, một giao cho bên thứ
ba được hai bên thỏa thuận chỉ định để phân xử khi cần thiết.
Hai bên mua và bán nên cần lập giấy chứng nhận phẩm chất hàng hoá vì đó
là chứng từ xác nhận phẩm chất hàng hoá được lập ra sau khi kiểm tra hàng hoá,
nếu hai bên thoả thuận giấy chứng nhận đó có hiệu lực cuối cùng thì nó là chứng
từ duy nhất để xác định phẩm chất hàng hoá, ngược lại nó chỉ được xem là chứng
từ xác nhận về kiểm tra chất lượng hàng hoá mà thôi.
Huỳnh Văn Vũ
13
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
1.3.3 Điều khoản về số lượng
Điều khoản này nhằm xác định mặt lượng của hàng hoá được giao dịch gồm
đơn vị tính số lượng hoặc trọng lượng hàng hoá, phương pháp quy định số lượng
và trọng lượng hàng hoá.
Quy định của các nước trên thế giới về cách tính số lượng trên cơ sở đơn vị
đo lường rất khác biệt nhau, do đó khi xác định số lượng ghi vào hợp đồng cần
Địa điểm giao hàng thông thường gắn với biên giới quốc gia, đó là một địa
danh cụ thể. Và phải căn cứ vào những điều kiện thương mại của hợp đồng, ví dụ
khi ký kết theo điều kiện FOB HCM city post thì giao hàng ở cảng thành phố
HCM.
Trong trường hợp các bên giao hàng hoặc nhận hàng ở nhiều địa điểm khác
nhau thì mỗi địa điểm sẽ gắn với một phần nghĩa vụ cụ thể xác định trong hợp
đồng, phần nghĩa vụ đó phải phù hợp với điều kiện thương mại mà hai bên đã thỏa
thuận.
Huỳnh Văn Vũ
14
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Phương thức giao hàng do các bên lựa chọn nhưng phải thông báo cho bên
kia trước khi tiến hành giao hàng.
Trung
1.3.5 Điều khoản về giá cả
Đây là điều kiện không thể thiếu trong HĐMBHHNT, khi ký kết hợp đồng
cần xác định rõ về mức giá, đơn vị tiền tệ để tính giá, đồng thời giá đó phải thể
hiện được bằng tiền. Việc xác định mức giá dựa trên giá cố định hoặc giá quy định
Giá cố định là giá do các bên thỏa thuận ngay trong lúc ký kết hợp đồng và
không thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng. Do đó trước khi ký hợp đồng
cần nghiên cứu kỹ sự biến động về giá cả thế giới, nếu không sẽ dẫn đến thua lỗ
khi thực hiện hợp đồng và sẽ dẫn đến tranh chấp khi có bên không thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ.
Giá quy định là giá không được quy định ngay khi ký hợp đồng, mà được
Huỳnh Văn Vũ
15
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Trung
- Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi
giao hàng xong, ký phát hối phiếu đòi tiền người mua rồi đến nhờ ngân hàng thu
hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Có hai hình thức là nhờ thu phiếu trơn và nhờ thu
kèm chứng từ. Hiện nay phương thức thanh toán nhờ thu được thực hiện theo quy
tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng thương mại công nghiệp quốc tế (ICC) URC
522 ngày 01/01/1996.
- Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán mà một ngân
hàng theo yêu cầu của bên mua sẽ trả tiền cho bên bán hoặc cho bất cứ người nào
theo lệnh của bên bán khi họ xuất trình đầy đủ các chứng từ và thực hiện đầy đủ
các yêu cầu của một văn bản gọi là thư tín dụng (L/C_là văn bản cam kết của ngân
hàng sẽ trả tiền cho người bán theo những quy định của nó). Thư tín dụng có hai
loại là loại hủy ngang và loại không được hủy ngang. Loại thư tín dụng hủy ngang
thì ngân hàng phát hành có thể sửa đổi hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không phải
báo trước cho bên hưởng lợi, loại thư tín dụng không hủy ngang thì trong thời hạn
hiệu lực của nó ngân hàng phát hành không có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ nếu
không có sự đồng ý của người hưởng lợi ngay cả trong trường hợp người bán ra
lệnh hủy.
Mỗi cách thanh toán có ưu và nhược điểm riêng nên nếu doanh nghiệp Việt
Nam là người bán thì nên quy định cụ thể trong hợp đồng cách nào đảm bảo nhận
tiền hàng tốt nhất.
đồng không có quy định hoặc quy định không đầy đủ, trong trường hợp này cần
dựa vào luật điều chỉnh hợp đồng, tức là luật áp dụng cho hợp đồng đó để giải
quyết tranh chấp. Theo nguyên tắc chung của tư pháp quốc tế, thương mại quốc tế
các bên có quyền tự do thoả thuận chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của
mình, luật đó có thể là luật quốc gia, điều ước quốc tế, hoặc tập quán thương mại
quốc tế.
Trung
v Điều ước quốc tế về ngoại thương
Điều ước quốc tế về ngoại thương là những quy phạm của pháp luật của luật
quốc tế mà các bên ký kết có thể áp dụng đầu tiên để giải quyết tranh chấp khi hợp
đồng tranh chấp không quy định đầy đủ về luật áp dụng. Thông thường điều ước
quốc tế về ngoại thương có 2 loại:
Loại thứ nhất đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho những
hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng, nó
không điều chỉnh cụ thể HĐMBHHNT mà nó chỉ nêu ra những nguyên tắc pháp
lý có tính chất chỉ đạo như nguyên tắc tối huệ quốc ,đãi ngộ như công dân;
Loại thứ hai nó điều chỉnh trực tiếp vào HĐMBHHNT mà cụ thể là quyền
và nghĩa vụ của các bên, loại này nó là công cụ quan trọng giúp các bên có thể giải
quyết tranh chấp từ hợp đồng đã ký kết như công ước Lahay 1964, công ước
Vienne 1980. Tuy nhiên điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp
lý đối với các bên giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có quốc
tịch hoặc trụ sở thương mại của các quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế đó,
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Điểm a khoản 1 điều 1 Công ước Vienne 1980 quy định “công ước áp dụng cho
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa các bên có trụ sở thương mại tại các
quốc gia khác nhau khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của công
nước thừa nhận và áp dụng mọi nơi, ví dụ như các Incoterms 1936, 1953, 1980,
1990,2 000. Trong đó nó tập hợp các tập quán thương mại quốc tế khác nhau quy
định bán hàng theo điều kiện FOB, CIF, CFR… được nhiều quốc gia sử dụng
trong thương mại.
Tập quán khu vực thì nó chỉ là những thói quen thương mại ở địa phương
nên nó ít được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế.
Tóm lại, tập quán thương mại dù là tập quán chung hay tập quán khu vực
thì nó chỉ có giá trị pháp lý ràng buộc khi các bên có thoả thuận áp dụng ghi trong
hợp đồng hoặc được các điều ước quốc tế về thương mại có liên quan quy định áp
dụng, hoặc được luật trong nước quy định áp dụng.
Trung
1.4.2 Luật áp dụng giải quyết tranh chấp HĐMBHHNT
Trong quan hệ MBHHNT thì hợp đồng thông thường là văn bản thỏa thuận
của các bên, có hiệu lực pháp lý ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia,
đồng thời các chủ thể thường thuộc các nước khác nhau, nên việc ký kết
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
HĐMBHHNT bao giờ cũng liên quan đến lãnh thổ hai nước, có khi nhiều nước.
Do đó khi thực hiện hợp đồng nảy sinh những tranh chấp thì hình thức giải quyết
tranh chấp nào sẽ được chọn và luật nào sẽ áp dụng trong việc giải quyết tranh
chấp cho hợp đồng cụ thể đó. Do vậy khi có tranh chấp thì phải xác định được luật
nào sẽ áp dụng cho quan hệ hợp đồng đó.Thông thường các bên có thỏa thuận
chọn luật ghi trong hợp đồng hoặc sau khi tranh chấp thì thỏa thuận chọn luật áp
dụng, nếu cả hai bên không thỏa thuận thì căn cứ vào những tiêu chuẩn pháp lý
của tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng.
1.4.2.1 Luật do các bên lựa chọn
Trong nguyên tắc của hoạt động mua bán hàng hóa ngoại thương thì các
bên có quyền thỏa thuận chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng của mình, nguồn
nào giới hạn luật được chọn). Còn ở Việt nam về nguyên tắc các bên có thể thỏa
thuận tự do luật áp dụng cho hợp đồng, tuy nhiên luật đó chỉ được áp dụng nếu
việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với pháp luật Việt Nam
(điều 828 BLDS 1995).
Thực tiễn giải quyết tranh chấp có sự khó khăn khi cho tự do thỏa thuận
chọn luật2 vì khi giải quyết tranh chấp Tòa án hoặc Trọng tài thường áp dụng quy
tắc tố tụng của nước mình, từ đó sẽ không áp dụng được các biện pháp trong tố
tụng, cũng như thi hành án, một khi giữa hai nước không có hiệp định tương trợ tư
pháp hoặc hiệp định thương mại song phương. Mặc khác nó là một sự thử thách
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lớn đối với thẩm phán Toà án thụ lý, hoặc Trọng tài viên khi họ phải dựa trên pháp
luật nước ngoài để giải quyết.
Ví dụ: công ty Việt nam tranh chấp với công ty Bỉ(có trụ sở thương mại đặt
tại Anh) luật áp dụng trong hợp đồng là luật nước Anh; khi kiện ra Tòa án Việt
Nam thì Tòa án sẽ căn cứ vào luật nước Anh để giải quyết, áp dụng luật tố tụng là
luật Việt Nam. Khi buộc công ty Bỉ thi hành nghĩa vụ (công ty có tài sản ở Anh
)nhưng giữa Việt Nam và Anh không có hiệp định tương trợ tư pháp, cũng không
có hiệp định thương mại song phương do đó quyết định không được thi hành .
Do vậy lưu ý doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết HĐMBHHNT với thương
nhân nước ngoài cần nghiên cứu kỹ để xác định luật nào sẽ áp dụng tránh trường
hợp chọn luật một nước mà khi giải quyết tranh chấp thì phán quyết, quyết định
của cơ quan xét xử không có khả năng thi hành, hay cơ quan xét xử đó không có
thẩm quyền, khả năng giải quyết, hoặc trường hợp pháp luật của nước đó dẫn chiếu
đến một hệ thống pháp luật khác mà ở đó có thể doanh nghiệp Việt Nam có thể bị
thiệt thòi khi luật đó được áp dụng.
1.4.2.2 Luật do cơ quan thụ lý tranh chấp quyết định
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐMBHHNT, khi trong hợp đồng
các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng hoặc có thỏa thuận nhưng cơ quan thụ
2
nguyên tắc áp dụng cả luật tố tụng và luật nội dung, vì hợp đồng được ký bao giờ
cũng chịu chi phối của pháp luật quốc gia của các bên. Tuy nhiên, có ngoại lệ là
chỉ có luật hình thức được áp dụng còn luật nội dung các bên thỏa thuận chọn luật
nước ngoài (bao gồm nước không có cơ quan thụ lý hợp đồng và nước thứ ba).
Khi cơ quan giải quyết tranh chấp nằm ở nước thứ ba thì về nguyên tắc chỉ
tâm Học
liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
có luật tố tụng được áp dụng, còn luật nội dung phải áp dụng luật của nước các bên
tham gia hợp đồng hoặc luật của nước khác mà các bên chọn không thuộc nước
thứ ba có cơ quan giải quyết tranh chấp đó.Tuy nhiên có ngoại lệ là các bên lựa
chọn giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài (Cụ thể là trọng tài Ad-hoc ) thì có thể
cả luật nội dung và luật hình thức của nước thứ ba có tổ chức trọng tài đó không
được áp dụng để giải quyết tranh chấp cụ thể đó.
Trong trường hợp khác cả luật tố tụng và luật nội dung của nước cơ quan
xét xử không được áp dụng khi các Điều ước quốc tế mà luật trong nước có quy
định áp dụng luật nước ngoài. Khoản 2 Điều 4 Luật thương mại Việt Nam quy
định “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định áp dụng luật nước ngoài thì áp dụng pháp luật nước ngoài”.
Nhìn chung cơ quan giải quyết tranh chấp thường áp dụng luật nội dung,
còn việc áp dụng luật tố tụng của ước thứ ba rất hiếm khi xảy ra và chỉ trong một
số trường hợp nhất định.
Lưu ý các doanh nghiệp khi khởi kiện ra trọng tài hay tòa án cân nhắc kỹ
xem tòa án hay trọng tài sẽ áp dụng hệ thống pháp luật của nước nào mà mình có
lợi nhất, hạn chế tối đa về sự tốn kém chi phí và thời gian đeo đuổi tranh chấp. Do
đó khuyến cáo các doanh nghiệp nên chọn luật quốc gia, vì doanh nghiệp sẽ am
hiểu hơn, và chi phí cho việc giải quyết tranh chấp thấp hơn khi phải chọn luật
khác.
Huỳnh Văn Vũ
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Theo hệ thống luật của Anh – Mỹ – Nhật thì nơi ký kết hợp đồng là nơi mà
bên được đề nghị chấp nhận đề nghị chào hàng, tức là nơi cư trú của bên được
chào hàng.Quy định này dựa trên thuyết tống phát
Theo Điều 40 BLDS Việt Nam “Địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú
của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp đồng nếu
không có thỏa thuận khác”. Điều 55 Luật thương mại Việt Nam 1997 “trong
trường hợp các bên không cùng có mặt để ký hợp đồng thì HĐMBHHNT được coi
là đã ký kết kể từ thời điểm bên chào hàng nhận được thông báo chấp nhận toàn bộ
các điều kiện trong chào hàng”. Như vậy theo quy định của Bộ luật dân sự 1995 và
Luật thương mại 1997 về chào hàng dựa trên thuyết tiếp thu, do đó nơi ký kết hợp
đồng là nơi bên chào hàng có nơi cư trú.
Theo Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1998 “Hợp đồng được
coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên ký vào văn bản
hoặc các bên nhận đựơc tài liệu giao dịch thỏa thuận về tất cả các điều khoản chủ
yếu của hợp đồng”. Theo quy định của pháp lệnh có thể hiểu một đề nghị giao kết
hợp đồng được bên đề nghị ký sẵn và gửi cho bên được đề nghị, nếu bên được đề
nghị chấp nhận toàn bộ thì coi như hợp đồng được thành lập. Như vậy nơi ký kết
hợp đồng là nơi bên chấp nhận chào hàng có nơi cư trú.
3
Hỏi đáp qua Website: www.VCCI.org.vn
Huỳnh Văn Vũ
21
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
nghĩa vụ có thể thực hiện ở những nơi khác nhau (nước người bán, nước người
mua). Do đó khi áp dụng luật để giải quyết tranh chấp thì sẽ có nhiều hệ thống luật
khác nhau được áp dụng cho những phần nghĩa vụ khác nhau của hợp đồng. Từ đó
vô hình hình chung một hợp đồng mà phải áp dụng nhiều hệ thống pháp luật dẫn
đến khó khăn cho cơ quan xét xử nhất là Toà án trong quá trình tiến hành các biện
pháp tố tụng. Vì vậy, nó ít được các cơ quan xét xử áp dụng.
Cho nên các doanh nghiệp cần lưu ý khi ký kết HĐMBHHNT với các đối
tác mà pháp luật nước đó quy định tranh chấp sẽ giải quyết bằng pháp luật nơi ký
kết hợp đồng; đặc biệt là nên chọn luật nước mình hoặc một nước khác trung lập
như Thụy Sỹ, Australia, Thụy Điển.
1.4.2.2.4 Luật nơi cư trú hoặc quốc tịch của các bên:
Trong hoạt động thương mại quốc tế hiện nay, HĐMBHHNT có thể được
ký kết giữa các bên có cùng quốc tịch hoặc khác quốc tịch tùy theo sự quy định
của từng hệ thống luật.
Huỳnh Văn Vũ
22
Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Trung
Trong hệ thống pháp luật của những nước có nền kinh tế phát triển như
Anh, Mỹ, Pháp, Nhật thừa nhận HĐMBHHNT được ký kết giữa các chủ thể có trụ
sở thưong mại đóng ở các nước khác nhau mà yếu tố quốc tịch không xét đến. Quy
định này hiện nay đang phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Từ đó khi giải
quyết tranh chấp luật áp dụng sẽ là luật quốc gia có trụ sở thương mại chính của
các bên, bởi nó được xem là nơi cư trú thường xuyên của thương nhân đó, nếu
2.1 Xác định trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng
HĐMBHHNT một khi được ký kết thì có hiệu lực pháp lý ràng buộc trách
nhiệm của các bên, việc thực hiện nó đòi hỏi các bên phải nghiêm chỉnh và thiện
chí thì mới đảm bảo được quyền lợi của các bên; ngược lại nó sẽ gây ra thiệt hại,
tạo nên hệ quả xấu trong quan hệ thương mại của các chủ thể kinh doanh thương
mại quốc tế. Việc thực hiện hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc và các quy định
của pháp luật. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong quá trình thực
hiện hợp đồng có thể sẽ có nhiều vi phạm xảy ra, vấn đề là phải xác định mức độ
trách nhiệm của các bên trong trường hợp đó. Và việc đầu tiên cần làm là phải xác
định thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
Trung
2.1.1 Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng
2.1.1.1 Điều kiện có hiệu lực của HĐMBHHNT
HĐMBHHNT giữa doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài
cũng như những hợp đồng khác phải được giao kết trên cơ sở tự nguyện của các
bên tham gia đồng thời nó phải đáp ứng yêu cầu của pháp luật về hình thức hợp
đồng, chủ thể hợp đồng, nội dung của hợp đồng thì nó mới có hiệu lực. Theo pháp
luật thương mại quốc tế và Việt nam thì mỗi HĐMBHHNT được xem là có hiệu
lực pháp
khi cóĐH
đủ 3Cần
điều kiện
sau @
: Tài liệu học tập và nghiên cứu
tâm
Họclýliệu
Thơ
_ Hình thức của hợp đồng phải hợp pháp: HĐMBHHNT có giá trị pháp lý
văn bản viết cụ thể, tại điều 3 công ước Vienne 1980 thì “điện báo, talex cũng
được xem là hình thức của văn bản”; điều 49 Luật thương mại Việt Nam cũng nêu
rõ “điện báo, talex, fax, email và các hình thức thông tin điện tử khác cũng được
coi là hình thức văn bản”.
Trung
_ Chủ thể ký kết hợp đồng phải hợp pháp : chủ thể ký kết hợp đồng được
xem là hợp pháp khi có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Chủ thể
này nước ngoài thì có thể là thể nhân hoặc pháp nhân, xác định năng lực pháp luật
và năng lực hành vi căn cứ vào luật quốc tịch của họ. Còn về phía Việt Nam thì
phải có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo pháp luật Việt Nam (cụ thể
điều 20, điều 94 Bộ luật dân sự Việt Nam)4. Tuy nhiên, không phải tất cả các thể
nhân và pháp nhân Việt nam đều có thể là chủ thể của HĐMBHHNT, theo
NĐ57/CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật thương mại về hoạt dộng ngoại
thương 31/7/1998 tại điều 8 nêu rõ “thương nhân là các thành phần kinh tế được
thành lập theo pháp luật được phép xuất nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã
đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.
Trong HĐMBHHNT, khi ký kết hợp đồng các bên cần phải xác định thẩm
quyền ký kết, điều này nó có ý nghĩa quan trọng trong vệc xác định xem hợp đồng
có hiệu lực hay không. Thẩm quyền này đối với bên nước ngoài do pháp luật của
tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nước mà bên đó có quốc tịch, còn về phía Việt Nam người có thẩm quyền ký kết
hợp đồng phải phải người đại diện có thẩm quyền theo quy định của pháp luật ký
kết hoặc người có giấy uỷ quyền hợp lệ bằng văn bản của người đại diện hợp pháp.
Do đó khi ký kết hợp đồng thì doanh nghiệp Việt Nam cần xác định xem đối tác có
đủ khả năng tham gia ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật nước họ hay
không, đồng thời phải xác định rõ thẩm quyền của người tham gia ký kết để tránh
những thiệt hại khi thực hiện hợp đồng vì có thể nó sẽ phát sinh tranh chấp.