ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC NĂM
Cải cách chính quyền phường ở nước ta (Qua thực
tiễn thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hồng Thái
Hà nội - 2004
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
4
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ
8
HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG Ở NƢỚC TA
1.1 -
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG.
8
24
1.2.2. Về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân phƣờng
30
Những điểm mới của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân năm 2003 so với Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban nhân dân năm 1994.
Kết luận chƣơng 1
36
40
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HÀ NỘI
2.1 -
ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
41
41
2.1.2. Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
41
2.1.2. Về dân cƣ lãnh thổ và tốc độ phát triển kinh tế
2.2.4. Về xây dựng tổ dân phố, cụm dân cƣ ở cơ sở
48
2.2.5. Chế độ tiền lƣơng, phụ cấp của cán bộ chính quyền cơ sỏ ở
thành phố Hà Nội
2.3 -
49
THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ
UỶ BAN NHÂN DÂN PHƢỜNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI QUA THỰC TẾ
PHƢỜNG CỬA NAM, QUẬN HOÀN KIẾM VÀ PHƢỜNG PHÚ THƢỢNG,
QUẬN TÂY HỒ
51
2.3.1. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân phƣờng Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm.
52
2.3.2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân phƣờng Phú Thƣợng, quận Tây Hồ
54
2.3.3. Những tồn tại cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân phƣờng của thành phố Hà Nội
3.1 -
QUAN ĐIỂM VÀ NHẬN THỨC VỀ CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG
70
70
-3-
3.1.1. Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của chính quyền phƣờng
trong hệ thống hành chính nhà nƣớc
70
3.1.2. Quan điểm, nhận thức và chế độ chính sách đối với cán bộ
chính quyền phƣờng
3.2 -
71
MỘT SỐ PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP VỀ CẢI CÁCH TỔ CHỨC VÀ HOẠT
ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN PHƢỜNG Ở NƢỚC TA
72
3.2.1. Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ cấu tổ chức, xác định rõ nhiệm
vụ, quyền hạn của chính quyền phƣờng
72
98
3.2.9. Xây dựng tổ dân phố, cụm dân cƣ tự quản, tự chủ trong một số
hoạt động hàng ngày
100
3.2.10. Gắn cải cách chính quyền phƣờng với việc quản lý tốt hộ gia
đình trong điều kiện kinh tế thị trƣờng và đa chiều thông tin
102
KẾT LUẬN
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
-4-
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Những năm qua, công tác lập pháp của Nhà nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể, trong đó, pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ
máy, chế độ chính sách đối với cán bộ chính quyền cấp phường, xã, thị trấn
từng bước được đổi mới. Hiến pháp năm 1992; Luật Tổ chức Hội đồng nhân
thiết. Phường là đơn vị hành chính tương đương với xã, có những đặc điểm,
đặc trưng khác xã - đó là đơn vị hành chính ở thành phố. Thực tiễn chỉ ra
rằng, đời sống nhiều mặt đô thị tùy thuộc và hoạt động của chính quyền
phường.
Vì những lý do trên, học viên chọn đề tài “Cải cách chính quyền
phường ở nước ta - qua thực tiễn thành phố Hà Nội” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu:
Đã có nhiều bài viết và công trình khoa học pháp lý nghiên cứu vấn đề
cải cách chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấn như: Luận văn Thạc sĩ luật
học “Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền cấp cơ sở theo yêu cầu xây
dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay” – Mạc Minh Sản – 2002 Học
viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; “Đổi mới tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã ở Thái Bình trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà
nước” – Cao Thị Hải – 2001- Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Luận
án Tiến sĩ luật học có “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Uỷ ban nhân dân
xã” – Trần Nho Thìn – 1993 – Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật;
“Chính quyền địa phương với việc đảm bảo thi hành hiến pháp và pháp luật”
– Trương Đắc Linh – 2002 – Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật. Các
công trình khoa học pháp lý khác như: “Vấn đề tổ chức chính quyền trên địa
bàn phường” của tác giả Vũ Thư - Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề
2001 (số 3); “Bàn về cải cách chính quyền địa phương” - Nguyễn Đăng Dung
- Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề 2001 (số 3); “Để chính quyền sát dân,
dân gần chính quyền”, Tô Công (2004), Tạp chí Cộng sản (số 8); “Thực hiện
quy chế dân chủ gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở”, Phạm Gia
Khiêm (2004), Tạp chí Cộng sản (số 9); “Vài suy nghĩ về công tác quản lý đội
-6-
ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước”, Ngọc Giang & Phạm Thắng
-7-
“Cải cách chính quyền phường ở nước ta - qua thực tiễn thành phố Hà
Nội” là một nội dung mới và nhạy cảm, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực
như pháp luật, kinh tế, văn hóa, chính trị, dân số, tài nguyên môi trường, địa
lý…vv. Trước hết phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung chủ yếu vào các
văn bản pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân; pháp luật về hành chính, đất đai, môi trường. Ngoài ra
còn nghiên cứu và tham khảo các vấn đề khác có liên quan như văn hóa,
phong tục tập quán để mở rộng kiến thức, làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu và
đề xuất.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, nhất là các văn kiện của Đảng cộng sản Việt
Nam, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng
hợp, so sánh; kế thừa có chọn lọc các quan điểm, phương pháp tiếp cận của
các công trình khoa học pháp lý có liên quan.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn về đề tài: “Cải cách chính quyền phường - qua thực tiễn thành
phố Hà Nội” gồm 3 chương (được chia thành 8 mục). Đó là:
Chương I: Cơ sở lý luận, pháp lý về tổ chức và hoạt động của chính
quyền phường ở nước ta.
Chương II: Thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền phường trên
địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương III: Phương hướng và một số giải pháp cải cách chính quyền
phường ở nước ta.
7. Điểm mới của luận văn:
Luận văn nghiên cứu riêng về tổ chức và hoạt động của chính quyền
phường trong hệ thống chính quyền cơ sở phường, xã, thị trấn. Đề xuất những
Từ trước tới nay, trong quan niệm của người dân, khái niệm “chính
quyền” được hiểu một cách nôm na là cơ quan, tổ chức ở mỗi cấp hành chính
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, giải quyết những vấn đề phát
sinh trong đời sống xã hội và của người dân. Chẳng hạn tên gọi “chính quyền
tỉnh”, “chính quyền huyện”, “chính quyền xã”.
-9-
Nghiên cứu Từ điển Hán - Việt của tác giả Đào Duy Anh - Nhà xuất
bản Văn hoá thông tin năm 2003 - trang 83, thì “Chính quyền là quyền xử lý
việc chính trị”. Còn “Đại từ điển tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên - nhà
xuất bản Văn hoá thông tin 1998 thì “Chính quyền là bộ máy điều hành, quản
lý công việc nhà nước ở các cấp”.
Theo ý nghĩa trên thì chính quyền - trước hết là một bộ máy được tổ
chức theo thứ bậc. Từ khi xuất hiện nhà nước, giai cấp thống trị thực hiện ý
chí của mình thông qua các cơ quan do nhà nước đặt ra, mỗi cơ quan có
nhiệm vụ, quyền hạn của mình nhằm thực hiện quyền lực chính trị trên phạm
vi lãnh thổ. Bộ máy chính quyền có người đứng đầu để điều hành, chỉ huy
những công việc như đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội, huy động sức dân xây dựng các công trình công cộng… vv. Còn đối với
những công việc không thuộc chức năng quản lý nhà nước như phong tục tập
quán, ma chay, cưới xin… ở chừng mực nào đó không thuộc chức năng nhiệm
vụ của chính quyền nói chung.
Theo sự phân cấp trong Hiến pháp nước ta, có chính quyền trung ương
và chính quyền địa phương. Nhưng khái niệm “chính quyền địa phương” hiện
nay chưa được nêu rõ trong các văn bản pháp luật. Chính quyền địa phương
được hiểu bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở địa phương đó.
“Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa
tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần
bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Điều
138: “Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các địa phương; Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện
trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao”.
Như vậy Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân là công cụ của nhà
nước để bảo vệ pháp luật, là hệ thống cơ quan độc lập với cơ quan hành pháp
và lập pháp về cơ cấu tổ chức bộ máy cũng như chức năng, nhiệm vụ. Mặt
khác, nước ta có Toà án quân sự và Viện kiểm sát quân sự để điều tra, truy tố,
xét xử những vụ án hình sự có liên quan tới quân nhân trong quân đội, vì thế
- 11 -
hai cơ quan này không phải là bộ phận cấu thành của chính quyền địa phương
nói chung. Hơn nữa đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn bao gồm Hội đồng
nhân dân và Uỷ ban nhân dân như quy định của pháp luật hiện hành không có
cấp Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân.
Một số ý kiến đặt vấn đề: Tổ dân phố, cụm dân cư ở đô thị có được coi
là một cấp chính quyền hay không? Theo quan điểm của chúng tôi, tổ dân phố
và cụm dân cư chỉ là một bộ phận, một đơn vị nhỏ nhằm thực hiện chức năng
tự quản là chủ yếu, giúp chính quyền phường có những thông tin chính xác
trong quản lý và điều hành công việc được giao. Còn nếu xác định tổ dân phố
là một cấp chính quyền hay “cánh tay nối dài của chính quyền phường” thì
phải có điều kiện là có con dấu, tài khoản, bộ máy …v v. Thực tế hiện nay,
hoạt động của tổ dân phố, cụm dân cư, khu phố vẫn mang tính tự quản nhiều
hơn tính hành chính nhà nước, ban lãnh đạo tổ dân phố, cụm dân cư được
nhân dân cư trú trên địa bàn trực tiếp bầu ra theo quy chế dân chủ ở cơ sở và
nghiệp là chính, cũn phường là đơn vị sản xuất công nghiệp là chớnh.
Mỗi thôn, trại, phường hoặc hai, ba phường, thôn, trại nhỏ liên hiệp đều
có một bộ máy quản lý riờng biệt do nhõn dõn phường, thôn, trại bầu ra với
tên gọi là Hội đồng kỳ mục, Hội đồng kỳ hào hoặc Thôn hội (ở miền Nam, bộ
máy này được gọi là Bàn hội tề). Các chức sắc như: trên chỉ chánh hội, lý
trưởng, thư ký, trước bạ, thủ quỹ, trương tuần …vv được đặt ra phụ trách mọi
mặt công việc trong nội bộ phường, thôn, trại. Các phường, thôn, trại đều có
ruộng công để lập quỹ và tồn tại theo cơ chế tự trị, nên các phường, thôn, trại
đó quản lý luụn cả việc lập phố buụn bỏn, sản xuất cũng như mọi việc trong
phố. Năm 1914, một nhà buôn người châu Âu lai Việt đó viết về cỏc phường
buôn bán ở Hà Nội như sau: “Tất cả các thứ hàng hóa bán trong thành phố đều
mỗi thứ được bán riêng ở một phố, mà mỗi phố lại dành cho một, hai hoặc
nhiều làng, mà chỉ có những làng ấy mới được phép mở hàng tại đây”.
Sau đó, cấp phường hành chính thời Lê gồm một số phường, thôn, trại
bị bói bỏ và thay thế bằng cấp Tổng, quy mụ lớn gấp ba lần phường thời Lê.
Thời Pháp thuộc từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, cấp phường
hành chính thời Lê không được duy trỡ, thực dõn Phỏp chia Hà Nội thành 8
hộ (tức là Khu), đứng đầu mỗi Hộ là một Thiên hộ. Cứ vài phố lại có một
trưởng phố hay Lý trưởng trông nom các công việc hành chính. Năm 1942
- 13 -
chúng thành lập 9 Tổng với 60 xó trực thuộc Đốc lý Hà Nội làm vùng ngoại
thành lấy từ đất của huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Đất Hà Nội cũ được gọi
là nội thành (25).
Trước giải phóng miền Nam năm 1975, chính quyền Ngô Đình Diệm đã
xây dựng đơn vị hành chính phường từ năm 1959 và tổ chức bộ máy hành
chính từ 3 đến 5 người, với chức năng chủ yếu là thay mặt quận thực hiện một
số công việc về hành chính và an ninh trật tự. Chính quyền phường chỉ được
Để thấy được đặc điểm của đơn vị hành chính phường, cần so sánh điều
kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của đơn vị hành chính xã và thị trấn, từ
đó cho thấy đặc thù công việc và tổ chức quản lý điều hành của chính quyền
phường với chính quyền xã, thị trấn.
Về vị trí và lịch sử: Đơn vị hành chính phường được tổ chức ở đô thị,
dưới đơn vị hành chính thành phố, thị xã thuộc tỉnh và quận. Còn với đơn vị
hành chính xã chủ yếu được tổ chức ở nông thôn và miền núi. Xét về mặt lịch
sử, xã và phường cùng xuất hiện và có từ thời Lý, Trần, nhưng đơn vị hành
chính xã bền vững hơn và tồn tại từ lúc sinh ra cho tới nay, còn đơn vị hành
chính phường tùy theo mỗi giai đoạn lịch sử có sự thay đổi, có thời kỳ bị xóa
nhòa. Còn thị trấn hiện nay là “thủ phủ” của một huyện thuộc vùng nông thôn
và miền núi, có huyện có hai thị trấn, đó là đơn vị hành chính tương đương
với phường và xã. Nhưng xét về tổng thể, “thị trấn là dạng nửa nông thôn, nửa
thành thị”, vì ở đây vẫn còn các xóm, làng, bản, ấp, tổ dân phố, cụm dân cư và
khu phố, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và nhiều hộ dân
sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp.
Về diện tích - dân số: Xã và thị trấn bao giờ cũng rộng hơn phường. Có
xã, thị trấn rộng hàng chục ki-lô-mét vuông, trong khi đó phường chỉ có diện
tích trên dưới 1 ki-lô-mét vuông nên mật độ dân số cao hơn nhiều lần so với
xã và thị trấn. Ở xã, thị trấn hiện nay vẫn duy trì mối quan hệ họ hàng, dòng
tộc, dân tộc theo kiểu huyết thống có tính chất bền chặt hơn. Trong khi đó cơ
cấu dân số ở phần lớn các phường phức tạp, chủ yếu là cán bộ, công chức,
công nhân, người buôn bán, người cư trú từ nhiều nơi khác đến. Sự gắn kết
của người dân ở đô thị không như ở nông thôn do quan hệ theo kiểu “chín
người – mười làng”. Mỗi người một nghề nghiệp, một đơn vị công tác khác
nhau nên quan hệ giữa người với người luôn luôn vượt qua khỏi phạm vi địa
phương của mình. Chính vì điều kiện lao động, học tập và sinh hoạt như vậy,
- 15 -
- 16 -
Trước hết các đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn là đơn vị hành
chính tương đương nhau, là cấp thấp nhất của hệ thống chính quyền bốn cấp
trong bộ máy nhà nước. Cùng chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương và
được các văn bản pháp luật về cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước điều chỉnh.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể giữa phường, xã, thị trấn hiện nay hầu như
không có sự khác biệt, trong đó có chế độ, chính sách đối với cán bộ, công
chức xã, phường, thị trấn đều giống nhau.
1.1.4. Vị trí vai trò của chính quyền phƣờng trong quản lý nhà
nƣớc và phát triển kinh tế - xã hội.
Chính quyền phường bao gồm Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
là nơi thể hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở trong phát triển
kinh tế, xã hội. Chính quyền phường là nơi góp phần bảo đảm an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội, là cơ sở vững chắc cho chính quyền cấp trên trong
quản lý nhà nước; là nơi trực tiếp vận động nhân dân thực hiện tốt các yêu cầu
quản lý đô thị, vệ sinh môi trường, xây dựng cơ bản … vv.
Chính quyền phường là nơi cụ thể hoá các văn bản quy phạm pháp luật
của nhà nước và sự chỉ đạo của cơ quan cấp trên để các văn bản, chỉ thị đó đi
vào cuộc sống. Hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay đều đề cập
nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cơ sở nói chung, chính quyền phường
nói riêng để quản lý nhà nước trong lĩnh vực đó. Chính quyền phường đồng
thời là nơi phản ánh những bất hợp lý của các văn bản, nghị quyết cũng như
phương pháp, cách thức điều hành của chính quyền cấp trên để kịp thời sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế.
Trong lịch sử, hầu như nhà nước nào cũng xây dựng chính quyền cơ sở
để giúp chính quyền trung ương thực hiện chức năng quản lý. Chính quyền
phường, xã, thị trấn ở nước ta là nơi để nhà nước gần dân hơn, hiểu dân hơn
xây dựng đô thị, vệ sinh môi trường và phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Uỷ ban nhân dân phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn pháp luật quy
định. Thực tế cho thấy, hầu hết những nội dung liên quan đến đời sống hàng
ngày đều được người dân liên hệ, phản ánh, đề nghị Uỷ ban nhân dân phường
chứng thực hoặc xem xét, giải quyết. Thực tế chứng minh, ở phường nào làm
tốt công tác tiếp dân, giải quyết những yêu cầu và khiếu nại, tố cáo của công
dân thì địa bàn phường đó sự gắn bó giữa dân và chính quyền bền chặt hơn,
- 18 -
gần gũi hơn. Ngược lại ở phường nào thực hiện không tốt chức năng quản lý,
điều hành và tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo thì ở địa bàn đó xảy ra mất
đoàn kết, xa rời dân, phức tạp thêm tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội và làm giảm lòng tin của người dân với chính quyền.
Ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn trong phát triển kinh tế - xã hội mà
pháp luật quy định cho Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn thì Uỷ ban nhân dân
phường còn có thêm trách nhiệm quản lý trật tự đô thị, đảm bảo an ninh trật tự
trên địa bàn và những công việc cụ thể khác. Đây là những nhiệm vụ, quyền
hạn rất quan trọng và chủ yếu của chính quyền phường ở đô thị.
Chính quyền cơ sở nói chung, chính quyền phường nói riêng là cấp cơ
sở sát dân nhất, “là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của
đảng và nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách
trực tiếp và rộng rãi nhất” (4).
1.1.5. Mối quan hệ giữa chính quyền phƣờng với hệ thống chính trị
cơ sở
Hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ
quốc, tổ chức chính trị xã hội như Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,
Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân… và các tổ chức xã
Đảng vạch ra, đồng thời có trách nhiệm báo cáo thường xuyên với Đảng uỷ
phường khi thực hiện các chủ trương đó.
- Hội đồng nhân dân phường là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương. Những nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường đề ra là sự cụ thể
hoá một bước các chủ trương của Đảng uỷ phường. Đảng uỷ phường giới
thiệu các đảng viên ưu tú để Hội đồng nhân dân bầu vào các chức vụ lãnh
đạo. Thông thường Bí thư hoặc phó Bí thư Đảng uỷ phường giữ chức Chủ tịch
Hội đồng nhân dân phường, chính vì vậy trong mỗi kỳ họp Đảng uỷ định kỳ
hay đột xuất đều có sự tham gia của Thường trực Hội đồng nhân dân phường
để thống nhất quan điểm, đường lối. Ngược lại trước mỗi kỳ họp Hội đồng
nhân dân phường, các báo cáo, dự thảo nghị quyết đều được Đảng uỷ xem xét,
cho ý kiến chỉ đạo để đưa ra thảo luận tại kỳ họp. Trong kỳ họp Hội đồng
nhân dân đều có sự tham gia của Thường trực Đảng uỷ phường. Như vậy ngay
từ khâu kiểm tra, giám sát đều có sự thống nhất về mặt tư tưởng, tổ chức và
đảm bảo thực hiện có hiệu quả trên thực tế. Hội đồng nhân dân tổ chức các Tổ
đại biểu Hội đồng nhân dân tại các địa bàn dân cư, khu phố, thì tương đương
- 20 -
cũng có các chi bộ tổ dân phố để cùng nhau bàn bạc, thảo luận, thống nhất
những nội dung lãnh đạo ở cơ sở dân cư.
- Quan hệ giữa Uỷ ban nhân dân phường với Đảng uỷ phường là quan
hệ thường xuyên hơn vì công việc của Uỷ ban nhân dân là quản lý, điều hành
nên phức tạp và phát sinh những vấn đề mới cần sự chỉ đạo thống nhất của tổ
chức Đảng. Các quyết định, nghị quyết của tập thể Uỷ ban nhân dân phường
hoặc cá nhân Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường đều là sự thể chế hoá nghị
quyết của Đảng uỷ và Hội đồng nhân dân phường. Nói tóm lại các văn bản
nêu trên về nguyên tắc không có sự mâu thuẫn.
- Cũng như lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Đảng uỷ phường giới thiệu
Mặt trận Tổ quốc chủ trì. Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc phường được cơ cấu là
đại biểu Hội đồng nhân dân phường và tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân đều
mời thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc phường tham dự. Đại diện Mặt trận
Tổ quốc phường đọc báo cáo nhận xét hoạt động của Uỷ ban nhân dân và Hội
đồng nhân dân phường về mọi mặt và tổng hợp kiến nghị của cử tri với Hội
đồng nhân dân xem xét, giải quyết.
- Trước, trong và sau các kỳ họp Hội đồng nhân dân phường đều có
văn bản gửi Mặt trận Tổ quốc để trao đổi thông tin. Điều 11 Luật Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam quy định: “Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở địa
phương được mời tham dự các kỳ họp Hội đồng nhân dân; được mời tham dự
các phiên họp của Uỷ ban nhân dân cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.
Tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc cùng cấp thông
báo về hoạt động của Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền; đề xuất kiến
nghị với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân những vấn đề cần thiết”.
- Mặt trận Tổ quốc “cùng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành nghị quyết, thông tư liên tịch để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi
pháp luật quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia
quản lý nhà nước”. Thực tế những năm qua, Mặt trận Tổ quốc ở nhiều phường
đã phối hợp với Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường thực hiện cuộc
vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và
“vận động ủng hộ quỹ vì người nghèo - vì đồng bào gặp thiên tai” tổ chức
“Ngày hội đại đoàn kết toàn dân”… đạt hiệu quả thiết thực, được các tầng lớp
dân cư trên địa bàn đồng tình ủng hộ và thực hiện.
1.1.5.3. Quan hệ giữa chính quyền phường và các đoàn thể nhân dân.
- 22 -
- Hiện nay, hầu hết những người đứng đầu các đoàn thể ở phường đều
là đại biểu Hội đồng nhân dân phường. Trong các phiên họp Hội đồng nhân
- 23 -
- Uỷ ban nhân dân phường thông tin tới lãnh đạo các cơ quan đơn vị
đóng trên địa bàn, cùng nhau giải quyết những vấn đề khúc mắc, khiếu nại tố
cáo của công dân có liên quan tới cơ quan, đơn vị đó. Các cơ quan, đơn vị
thông báo và cùng chính quyền phường thực hiện các quyết định, chủ trương
về an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, quản lý đất đai, phòng cháy chữa cháy,
phòng chống các tệ nạn xã hội …vv. Trên thực tế nhiều cơ quan, đơn vị trên
địa bàn đã kết nghĩa với chính quyền phường tăng thêm tình đoàn kết với
nhân dân phường.
1.1.5.5. Mối quan hệ giữa chính quyền phường với cơ quan cấp trên.
Theo quy định của pháp luật, Hội đồng nhân dân phường chịu sự lãnh
đạo trực tiếp của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh, cụ thể hoá các văn bản của cơ quan cấp trên phù hợp với điều
kiện thực tế của phường.
Cũng như Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phường cụ thể hoá các
nghị quyết, quyết định của Uỷ ban nhân dân và các văn bản cá biệt của Chủ
tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp trong quản lý và điều
hành công việc ở phường.
Đối với các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền chuyên môn
như Công an, Y tế, giáo dục, văn hoá, địa chính - nhà đất, thanh tra, điện lực,
xây dựng ….vv, Uỷ ban nhân dân phường chỉ đạo các bộ phận trực thuộc
cùng thực hiện các quyết định và thống nhất phương hướng, nhiệm vụ quản lý
nhà nước trong lĩnh vực đó. Uỷ ban nhân dân phường cung cấp, phản ánh
những thông tin không thuộc thẩm quyền xử lý của mình lên cơ quan chuyên
môn cấp quận, chẳng hạn xử lý xây dựng trái phép, lấn chiếm đất công, an
ninh trật tự… vv; phản ánh những bất cập trong việc thực hiện chỉ đạo của các
cơ quan này để kịp thời điều chỉnh. Mặt khác trong những vấn đề xử lý hành
chính một quan hệ pháp luật nào đó ở cơ sở, Uỷ ban nhân dân phường đều có
báo cáo gửi cơ quan chuyên môn cấp trên trực tiếp để biết, giúp cho lãnh đạo
Khái niệm “người” trong luật này được hiểu là cư dân sinh sống trên
địa bàn phường, có thể là người có hộ khẩu thường trú, có thể là người đăng
ký tạm trú dài hạn mà không phân biệt lứa tuổi. Còn khái niệm “cử tri” - đó là
những người từ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi
để đi bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Cử tri ở nước ta bao gồm cả lực
lượng vũ trang nhân dân.