SVTT:NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM SANG THỊ TRƯỜNG HOA
KỲ TẠI CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC BÌNH DƯƠNG
2.1 Giới thiệu công ty TNHH MTV May Mặc Bình Dương
2.1.1 Lịch sử hình thành công ty
CÔNG TY TNHH MTV MAY MẶC BÌNH DƯƠNG (PROTRADE
GARMENT) Tiền thân là xí nghiệp may mặc hàng xuất khẩu, trực thuộc công ty sản
xuất xuất nhập khẩu Bình Dương, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 103728 do
Trọng tài kinh tế tỉnh Sông Bé (cũ) cấp ngày 26/11/1992 với trụ sở đặt tại phố Đông
Tư, thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.
− Thành phần kinh tế: DN Nhà nước
− Ngành nghề kinh doanh: May xuất khẩu
− Giám đốc: LÊ HỒNG PHOA
− Địa chỉ: Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương
− Điện thoại: 0650.755143 / 755519 Fax: 0650.755415
− Email:
− Website:
− Lĩnh vực hoạt động : Sản xuất quần áo may sẵn
− Vị trí Tọa lạc trên khu đất có diện tích 65.803 m
2
, trong đó khối văn phòng được
thiết kế xây dựng trong khuôn viên rộng 1.082m
2
.
− Nguồn vốn hoạt động Với số vốn cố định 40.525,21 triệu VNĐ và vốn lưu động
là 177.531,5 triệu VNĐ.
− Tổng số Cán bộ, Công nhân viên, kỹ sư làm việc tại công ty lên đến 2800 lao
động.
− Tình trạng công nghệ: Protrade Garco. Ltd được trang bị công nghệ tiên tiến
trong ngành may mặc
o Áp dụng hệ thống GSD để hiệu quả trong lập kế hoạch sản xuất, cân đối
Động Hạng 3 theo (QĐ số 539/KT-HĐNN), đây là phần thưởng cao quý của Hội
đồng nhà nước ban tặng cho doanh nghiệp nhà nước hưởng ứng tốt chủ trương cho
phép của Đảng là Doanh nghiệp nhà nước cùng làm kinh tế với mục đích lúc bấy
giờ là giúp các Công ty chủ động hơn về tài chính của mình.
− Ngày 16/11/1985 Công ty lại một lần nữa đón nhận Huân Chương Lao
Động Hạng I theo (QĐ 777/KT-HĐNN).
− Đến năm 1988 tình hình kinh tế ở các nước Đông Âu, do bị ảnh hưởng bởi
tình hình chính trị làm cho hoạt động kinh doanh xuất hàng sang các nước này
không thể thực hiện được. Đứng trước những khó khăn này Ban giám đốc đã
chuyển hướng kinh doanh, chính là những đơn vị kinh tế không hoạt đông tốt nữa
sẽ bị giải thể và thành lập các đơn vị kinh tế mới phù hợp với xu hướng phát triển
trong tương lai.
− Tháng 08/1989 xí nghiệp may được thành lập với quy mô nhỏ, chuyên may
áo đầm xuất khẩu sang Ba Lan. Mới thành lập khi ấy xí nghiệp có 3 phân xưởng
chuyên gia công áo jacket và hàng thun, khởi nghiệp với khoảng 300 công nhân
may.
− Năm 2003 Công ty KP APPAREL được thành lập và hoạt động tại
Campuchia với 100% vốn do Công ty đầu tư sang.
− Quyết định số 134/ 2006/ QĐ-UBND ngày 22/5/2006 của UBND tỉnh Bình
Dương quyết định chuyển mô hình hoạt động của Công ty theo mô hình công ty
mẹ-công ty con, và từ đó công ty TNHH MTV MAY MẶC BÌNH DƯƠNG(hay
PROTRADE GARMENT) với tên giao dịch là PROTRADE GARMENT
COMPANY LTD được thành lập và hoạt động dưới sự điều hành của công ty SX
& XNK BÌNH DƯƠNG.
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.3.1 Tổ chức bộ máy của công ty
Cách thức trao đổi thông tin quản lý trong Protrade được quy định trong các tài liệu
của hệ thống. Theo đó trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin được quy định theo chức
năng nhiệm vụ từng cấp bậc trong bộ máy hoạt động của công ty.
Các hình thức truyền đạt thông tin khác có thể thông qua:
Ông Phan Thành Đức Thành viên 28/12/2006
Ông Nguyễn Hồng Anh Thành viên 28/12/2006
(Nguồn: phòng nhân sự)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 3
SƠ
ĐỒ
2.1:
Sơ
đồ tổ
chức
phòn
g ban
(nguồ
n
phòn
g
hảnh
chính
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 4
SƠ ĐỒ
2.1: Sơ
đồ tổ
chức
phòng
ban
nguồn
phòng
hảnh
chính
Trách nhiệm và quyền hạn các vị trí còn lại được Công ty quy định trong tài liệu
QĐ-GĐ cùng với quan hệ của nhân viên trong tất cả mọi vấn đề liên quan đến chất
lượng. Mọi nhân viên làm việc tại Protrade đều được giới thiệu về trách nhiệm và
quyền hạn của mình cùng môí liên hệ với các vị trí liên quan.
Phòng nhân sự:
Tham mưu cho Giám đốc nhân sự về công tác quản lý nhân sự trong toàn Công
ty, quản lý đội xe đưa rước công nhân, đội bảo vệ, phòng y tế, nhiệm vụ chủ yếu là
tuyển dụng lao động, giải quyết học việc, thử việc, nghỉ việc, sa thải, lập kế hoạch đề
bạt, xử lý kỉ luật, giải quyết các chế độ (BHXH,BHYT, trợ cấp thất nghiệp..), đánh giá
thành tích công việc.
Phòng tài vụ:
Giữ nhiệm vụ về toàn bộ công tác hạch toán, báo cáo thống kê các nghiệp vụ
kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, giám sát và kiểm tra
quá trình sử dụng tài sản, phân tích báo cáo tài chính, phân tích hiệu quả hoạt động
kinh doanh của Protrade để tham mưu cho cấp trên các quyết định về tài chính.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 5
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Phòng hành chánh tổng hợp:
Quản lý các hoạt động hành chánh văn phòng, cung cấp các thiết bị phục vụ nhu
cầu cần thiết cho công tác tại các phòng ban, tổ chức quản lý các hoạt động hổ trợ các
hoạt động trong cơ quan, lưu giữ và truyền đạt thông tin các cấp.
Phòng xuất nhập khẩu:
Thực hiện chức năng là tổ chức, thực hiện, điều hành, mọi hoạt động liên quan
đến nghiệp vụ xuất nhập khẩu hàng hóa trong Protrade, thực hiện hoàn tất bộ chứng từ
nhập hàng cũng như xuất hàng, xây dựng chi phí liên quan đến hoạt động xuất nhập
hàng, trực tiếp trao đổi với các đơn vị, cơ quan ban ngành liên quan, thanh lý toàn bộ
hợp đồng, tờ khai, thanh khoảng thuế với cơ quan Hải quan, lập báo cáo tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu trong kỳ gửi đến các phòng ban liên quan.
Phòng mẫu
Thực hiện may mẫu đối với những thiết kế sản phẩm kinh doanh và những thiết
Thị trường tiêu thụ sản
phẩm của công ty khá rộng lớn
vì tất cả sản phẩm của công ty
sản xuất được tập trung xuất
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 6
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
khẩu sang các thị trường lớn như:ANH, ĐỨC, MỸ, BỈ, NGA, NHẬT, TRUNG
QUỐC…
Gần đây xu hướng toàn cầu hoá lan rộng, nhu cầu về sản phẩm may mặc thời
trang cũng tăng nên thị trường tiêu thụ sản phẩm may mặc được mở rộng, một số thị
trường tiêu thụ mới được các chuyên gia đầu ngành đánh giá cao trong hoạt động kinh
doanh quốc tế như:TRUNG ĐÔNG, PAKISTAN… Theo đó Công ty cũng đã có
những bước đầu tiếp xúc với một vài đối tác tại những thị trường mới này, kết quả là
đã xuất đi thành công nhiều chuyến hàng, hứa hẹn đây sẽ là một thị trường tiềm năng
cho ngành dệt may nói chung và sản phẩm may mặc của công ty nói riêng.
2.2.3 Kênh phân phối
Nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu của công ty, công ty đã có những kế
hoạch về kênh phân phối đa dạng
− Kênh phân phối trực tiếp : khách hàng các nước khi có nhu cầu có thể trực
tiếp đặt các đơn hàng với những thoả thuận hay những quy định về điều kiện mua
hàng trực tiếp với công ty thông qua một số phương tiện hổ trợ hiện đại như điện
thoại, internet…
− Kênh phân phối gián tiếp:chính là việc thiết lập mối quan hệ giữa khách
hàng tiềm năng và công ty thông qua một người thứ ba đóng vai trò làm trung gian.
Trung gian nay trên thực tế có mối quan hệ tốt với khách hàng và giờ đây họ đại
diện khách hàng xúc tiến thương mại với công ty.
Ngoài việc bắt tay với các nhà xuất nhập khẩu thuần tuý, công ty còn tìm hiểu
cơ hội hợp tác kinh doanh trực tiếp với các hãng may mặc có tên tuổi, các tập đoàn
phân phối với chuỗi siêu thị rộng lớn, điều này đang được tiến hành và hứa hẹn sẽ
mang lại thắng lợi lớn cho công ty.
trong và ngoài nước đều có thể biết đến công ty.
− Ngoài việc tận dụng tối đa sức tăng trưởng hiện tại với các loại hàng đã
xuất được sang thị trường tiêu thụ ở các nước, với những sản phẩm có chất lượng
cao đã tạo được uy tín cho công ty thì hiện nay công ty bắt đầu chuyển dần một
phần đầu tư sang sản xuất hàng may mặc có thương hiệu riêng của mình. nhằm
mục đích cũng cố lòng tin với khách hàng hiện hữu, cũng là nhằm chứng minh
năng lực phát triển của công ty với khách hàng tiềm năng trên thị trường thế giới.
Hoạt động xúc tiến thương mại đem lại những kết quả hết sức khả quan, sản
phẩm của công ty đến nay đã có mặt ở trên nhiều nước trên thế giới.
2.2.5 Thị phần và đối thủ cạnh tranh
2.2.5.1 Thị phần
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, đến 31/12/2010, toàn ngành công
nghiệp Dệt may Việt nam có 3.710 doanh nghiệp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có sự
phân bố không đồng đều giữa vùng miền. Tại miền Bắc, nơi tập trung tới 30% doanh
nghiệp, thì các doanh nghiệp lại chủ yếu đóng tại thủ đô Hà Nội. khu vực miền Trung
chỉ chiếm 8% lượng doanh nghiệp toàn Ngành. Khu vực miền Nam chiếm tới 62%
lượng doanh nghiệp toàn Ngành, cũng chủ yếu tập trung tại TP.Hồ Chí Minh, Bình
Dương, Đồng Nai. Sự tập trung quá cao này dẫn đến sự cạnh tranh quyết liệt giữa các
doanh nghiệp dệt may với các ngành công nghiệp khác; giữa các doanh nghiệp dệt may
với nhau về đơn hàng, lao động, tiền lương...
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), Kim ngạch xuất khẩu dệt may 2010 đạt
11,2 tỷ USD, tăng 23,2% so với năm 2009, Trong đó, thị trường Mỹ đạt hơn 6 tỷ USD,
tiếp tục duy trì trong top 5 quốc gia có lượng hàng dệt may xuất khẩu lớn nhất vào thị
trường Mỹ. Công ty Protrade cũng đóng góp giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2010
sang thị trường Mỹ gần 20 triệu USD.
Hiện nay, Việt Nam đang là nước xuất khẩu hàng dệt may lớn thứ 7 trên bản đồ
dệt may thế giới (theo tổ chức Thương mại Thế giới), sau thị trường Trung Quốc, khu
vực EU, Hồng Kông, Thổ Nhĩ Kỳ, Bangladesh, Ấn Độ, và đang chiếm 2,7% thị phần
xuất khẩu thế giới. Trong đó, Mỹ, EU, Nhật Bản, Canada và Nga là những khu vực tiêu
dùng hàng dệt may lớn nhất thế giới, chiếm tới 86,4% thị phần nhập khẩu, và đáng chú
Độ...những nước có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm dệt may có giá cạnh tranh
và có nguồn lao động lành nghề, giá tương đối thấp, không khác mấy Việt Nam.
Bangladesh và Pakistan cũng là đối thủ cạnh tranh mới về một số mặt hàng như áo dệt
kim, sơ mi vải bông, quần áo vải bông ... có giá thành tương đối thấp.
2.2.6 Nhận xét về tình hình tiêu thụ và công tác Marketing của Công ty
2.2.6.1 Về công tác nghiên cứu thị trường.
Việc nắm bắt được thị hiếu của khách hàng cũng đồng nghĩa với công ty sẽ tiêu
thụ được sản phẩm của mình, do sản phẩm được sản xuất ra đáp ứng đúng nhu cầu của
người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu. Đối với thị trường may mặc là thị trường mà
nhu cầu thay đổi theo tính thời vụ, do đó công tác điều tra thị trường càng được sự
quan tâm. Công ty PROTRADE đã ý thức được điều này nên từ khi thị trường Mỹ mở
cửa, công ty đã thông qua các kênh khác nhau để tiến hành thâm nhập thị trường, tìm
hiểu nhu cầu của người tiêu dùng Mỹ về sản phẩm hàng may mặc. Công ty đã tổ chức
điều tra thị trường nhưng chỉ qua các kênh gián tiếp như Đại sứ quán, các tổ chức
thương mại. Chưa đi sâu khai phá hết nhu cầu sản phẩm May Mặc của người dân Mỹ,
chỉ tập trung vào các sản phẩm thông thường như áo sơ mi, quần jeas… mà vẫn chưa
phát triển các sản phẩm có giá trị cao như áo Vest, Comple…
2.2.6.2 Về kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Việc lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm thông thường diễn ra tại bộ phận Kế hoạch
thị trường. Những đối với Công ty thì không chỉ bộ phận kế hoạch thị trường có trách
nhiệm mà phòng Xuất nhập khẩu cũng phải tiến hành xây dựng kế hoạch điều này rất
có thể dẫn đến sự chồng chéo nhiệm vụ cũng như là trách nhiệm của hai đơn vị này.
Việc lập kế hoạch hàng năm là căn cứ để tiến hành lập kế hoạch của quý, tháng. Các kế
hoạch này thường được dựa trên các đơn đặt hàng của khách hàng, ngoài các kế hoạch
ngắn hạn công ty cũng lập các kế hoạch trung và dài hạn nhưng các kế hoạch này chỉ
dừng lại ở tất cả các thị trường chứ chưa có kế hoạch trung hạn và dài hạn cho từng thị
trường. Từ đó có thể gây khó khăn khi đánh giá hiệu quả tiêu thụ trên từng thị trường
cụ thể để tìm ra những điểm cần khắc phục.
2.2.6.3 Về chính sách tiêu thụ sản phẩm.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 9
Nhưng những nhà trung gian của Công ty lại không trực tiếp bán hàng mà lại phân
phối lại cho các nhà bán lẻ khác trước khi đến tay được người tiêu dùng. Điều này làm
cho chi phí nâng lên và công ty không kiển soát được giá, khi đó giá cả của người tiêu
dùng cuối cùng lại phụ thuộc vào sự quyết định của nhà bán lẻ cuối cùng.
Khi xuất khẩu hàng may mặc của Công ty qua nhiều trung gian làm cho khả năng
thu nhận thông tin của công ty về khách hàng gặp khó khăn và thường không chính
xác. Qua đó làm cho việc xác định nhu cầu và nắm bắt nhu cầu mới của khách hàng trở
nên khó khăn. Làm cho công tác xác định các chính sách khác như chính sách sản
phẩm, chính sách giá…. phức tạp và thường không chính xác.
2.2.6.6 Về chính sách xúc tiến hỗn hợp.
Xúc tiến hỗn hợp là một công cụ của Marketing nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc tiêu
thụ sản phẩm của công ty. Trong giai đoạn hiện nay công ty đang từng bước xây dựng
thương hiệu của riêng mình, do đó công ty đã có sự đầu tư vào công tác quảng cáo trên
Truyền hình, phát thanh, báo chí…. Tham gia hội chợ trong nước và quốc tế. Việc
tham gia hội chợ không nằm ngoài mục tiêu là tìm kiếm khách hàng nhằm đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Tuy tham gia vào các chương trình này nhưng
công ty vẫn chưa có sự đầu tư cao vào công tác xúc tiến, chưa xây dựng ấn tượng nổi
bậc với khách hàng.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 10
Mẫu gốc
May mẫu fit
Wash target
May mẫu referenceMay mẫu PP (pre-production) Mẫu top
Wash dups Wash shadeband
1
2
3
3 4
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
2.3 Thực trạng xuất khẩu hàng may mặc của Công ty TNHH MTV may mặc
màu và may mẫu. Đối với các mẫu wash, quan trọng nhất là màu wash có giống
màu wash mẫu gốc hay không. Đối với các mẫu may, quan trọng nhất là may
đúng thông số kỹ thuật trong tài kiệu mà Pacsun cung cấp.
− (1) Công ty sẽ sử dụng mẫu gốc và vải chính tiến hành giao cho bên xưởng
wash mẫu gốc+quần sống( cắt trên cùng một cây vải) để thực hiện wash mẫu
target, mẫu này gồm 3 cái (2 cái sẽ được gửi Pacsun và 1 cái lưu). Mẫu target
phải gần giống với màu wash mẫu gốc.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 11
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
− (2) Sau khi mẫu target được duyệt, sẽ tiến hành wash mẫu dups và may mẫu fit.
mẫu wash dups gồm 7 cái (6 cái gửi Pacsun và 1 cái lưu), quần sống để wash
mẫu dups được cắt từ 2 đến 3 cây vải khác nhau. Màu wash mẫu dups phải gần
giống màu ở mẫu target. Khi may mẫu fit quan trọng nhất là đúng thông số kỹ
thuật hoặc nằm trong dung sai cho phép.
− (3) Khi mẫu dups được ký duyệt, công ty tiếp tục cho wash mẫu shadeband,
quần sống để wash shadeband sẽ được cắt từ nhiều cây vải khác nhau, bộ wash
shadeband sẽ gồm 4 ánh màu : màu light, medium, dark và một tông màu lạ.
Nếu bộ wash shadeband được ký duyệt thì khi đưa vào sản xuất hàng loạt, các
màu wash phải nằm trong ánh màu của bộ wash shadeband đã được duyệt.
− Sau khi mẫu fit được duyệt sẽ tiến hành may mẫu reference, Pacsun yêu cầu
may mẫu này chỉ để chắc chắn thêm mẫu đã được may đúng với các thông số
kỹ thuật.
− (4) Sau khi mẫu reference được duyệt, sẽ tiếp tục may mẫu PP, nếu mẫu này
được duyệt, công ty sẽ đưa vào dây chuyền sản xuất chính thức, vì vậy mẫu này
phải đúng cả màu wash lẫn các thông số kỹ thuật.
− (5) Khi hàng được đưa lên dây chuyền sản xuất hàng loạt, trước khi xuất đơn
hàng đi công ty phải chọn ra 1 mẫu gửi cho Pacsun để kiểm tra lại màu wash
cũng như thông số kỹ thuật để chắc rằng lô hàng đã đáp ứng được chất lượng
như yêu cầu mẫu này gọi là mẫu TOP
Bước 2: Thương lượng hợp đồng.
SVTH: NGUYỄN NGỌC NHƯ GVHD: ThS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
Nhân viên được phân công, căn cứ chi tiết thoả thuận của hợp đồng tiến hành
sọan thảo hợp đồng, trình cho trưởng phòng xem xét và ký tắt vào hợp đồng (để xác
nhận hợp đồng đã được kiểm tra); sau đó trình Ban giám đốc ký và gửi văn thư đóng
dấu. Khi hợp đồng đã được 2 bên ký tên, đóng dấu, nhân viên xuất khẩu mở sổ theo
dõi hợp đồng và điền số hợp đồng cùng các thông tin hàng hóa.
2.3.2.2 Đăng ký duyệt hợp đồng.
Nhân viên nhập khẩu lập hồ sơ để đăng ký hợp đồng tại Chi Cục Hải quan tỉnh
Bình Dương. Sau khi Hải quan xem xét và chấp nhận đăng ký hợp đồng, thì nhân viên
xuất khẩu được nhận lại 1 bộ hợp đồng (phụ lục 1) có xác nhận đóng dấu “ ĐÃ ĐĂNG
KÝ” của Hải quan và cho số theo dõi để sữ dụng thường xuyên suốt quá trình họat
động nhập khẩu, xuất khẩu và thanh lý hợp đồng.
Hồ sơ đăng ký hợp đồng gồm:
− Công văn :1 bản gốc
− Hợp đồng: 2 bản gốc
− Bảng theo dõi nguyên phụ liệu để nhập khẩu: 2 bản
− Bảng thống kê tờ khai nhập khẩu
Sau khi Hải quan xem xét hợp đồng, nhân viên xuất khẩu nhận lại 1 hợp đồng bản
gốc có dấu xác nhận “ ĐÃ ĐĂNG KÝ HỢP ĐỒNG”, nhân viên xuất khẩu photo,
chuyển hợp đồng tới các bộ phận liên quan như: Phòng kinh doanh, phân xưởng, kho
nguyên phụ liệu.
Đồng thời nhân viên xuất khẩu photo lưu và chuyển cho phòng tài vụ làm cơ sở
lập hóa đơn tài chính cho lô hàng xuất thuộc hợp đồng 12/PR-PAC/2009 .
2.3.2.3 Chuẩn bị hồ sơ nhập khẩu.
Dựa trên hợp đồng xuất khẩu đã ký, làm hợp đồng nhập khẩu nguyên phụ liệu do
Pacsun chỉ định mua như :
− Mua vải chính từ công ty Lanefort Hong Kong theo hợp đồng nhập khẩu
số 130/PR-LF/09 (phụ lục 2).
− Vải lót túi mua từ công ty V-League Hong Kong theo hợp đồng nhập khẩu
số 129/PR-VL/09 (phụ lục 3).
− Danh mục nguyên phụ liệu được HQ duyệt:2 bản sao
− Hóa đơn tiền cứơc vận chuyển
− Công văn cam kết nhập nguyên phụ liệu làm hàng XNK.
− Tiến hành đăng ký tờ khai: tại Hải quan tỉnh Bình Dương, khi bộ hồ sơ
được chuyển đến khâu hoàn thành tờ khai, nhân viên nhập khẩu sẽ tách bộ hồ sơ
thành 2 phần, một bàn giao hải quan lưu và một bản nhân viên nhập khẩu lưu.
− Bản lưu Hải quan gồm các chứng từ được sắp theo thứ tự sau:
o Phiếu ghi kết quả phúc tập hồ sơ;
o Phiếu tiếp nhận bàn giao hồ sơ Hải quan;
o Lệnh hình thức và mức độ kiểm tra Hải quan;
o Tờ khai hàng hoá nhập khẩu;
o P/L;
o I/V;
o Hợp đồng và danh mục nguyên vật liệu(bản lưu hải quan);
o B/L;
o Chứng từ ghi số thuế phải thu.
− Bản lưu người khai Hải quan gồm:
o Tờ khai hàng hoá nhập khẩu;
o I/V, P/L (bản sao);
o Phiếu lấy mẫu nguyên vật liệu chính (do công chức đăng ký tờ
khai lập);
o Đơn chuyển cửa khẩu (nếu hàng hóa phải kiểm tra thực tế);
Lên kế họach nhập hàng: Nhân viên nhập khẩu căn cứ vào ngày dự kiến tàu cập
cảng được ghi trong D/O hoặc hàng vào kho cảng để lên” giấy đề nghị nhập nguyên
phụ liệu” bảng kế họach nhập hàng này sẽ được lưu lại 1 bản trong phòng và 1 bản gửi
phòng nguyên phụ liệu để chuẩn bị cho việc sắp xếp kho bốc dỡ hàng xuống khi đã
hoàn thành các thủ tục Hải quan. Và giấy “đề nghị điều xe” dùng chuyên chở hàng từ
cảng về kho công ty. Với những lô hàng nhập này nhân viên nhập khẩu chọn xe tải có
trọng tải phù hợp cho từng lô hàng và có mui kín để vận chuyển hàng từ cảng về kho
Công ty với đoạn đường ước tính 30 km. Sau đó nhân viên nhập khẩu lập giấy đề nghị
tiến độ.
Tiếp theo sẽ là công việc sản xuất sản phẩm theo hợp đồng xuất số 12/PR-
PAC/2009, nhân viên xưởng cắt sẽ theo kế hoạch sản xuất sản phẩm mà liên hệ với
phòng nguyên phụ liệu để sử dụng nguyên phụ liệu chính là vải mang về xưởng, thực
hiện các khâu rập khuôn các chi tiết của sản phẩm.
Sau đó những chi tiết sản phầm có yêu cầu yếu tố thêu biểu tượng lên sản phẩm
thì sẽ được chuyển những chi tiết có vị trí thêu cho xưởng thêu thực hiện trước.
Sau đó chuyển về xưởng 3, tại đây sản phẩm được may, ráp chi tiếp theo các
chuyền. Đầu các chuyền là ráp các chi tiết nhỏ như túi, nhãn vải, rồi đến ráp các chi tiết
như thân quần... Đối với sản phẩm quần jean thì có thêm yếu tố thời trang trên mẫu sản
phẩm đã được thoả thuận, nên số quần được ráp các chi tiết được chuyển sang xưởng
WASH (phân xưởng này nằm ngoài khuôn viên Công ty), tại phân xưởng này sản
phẩm được WASH cho giống với mẫu đã thể hiện,tiến hành giặc sạch sản phẩm, sấy
khô, sau đó sản phẩm được vận chuyển trở về Công ty thực hiện các khâu cuối cùng để
hoàn thành sản phẩm như: may tem da, tem thương hiệu, ủi sản phẩm, xếp, đóng gói.
Sau khi hoàn chỉnh thì sản phẩm được kiểm tra, sản phẩm được hoàn thành phải được
đóng gói bao bì hoàn chỉnh và được đựng trong các thùng cacton, bên ngoài thể hiện
chi tiết sản phẩm để sản phẩm dể kiểm soát.
Sản phẩm gần đến ngày hoàn thành theo hợp đồng thì trước đó 7 ngày nhân
viên xưởng phải báo cáo tiến trình và lập detail packinglist và gửi lên phòng xuất nhập
khẩu để tiến hành các thủ tục xuất hàng ra nước ngoài.
2.3.2.6. Công tác thuê tàu
Sau khi hàng đã lên dây chuyền sản xuất và gần đến ngày hoàn thành, trưởng
phòng XNK hoặc Trưởng bộ phận xuất hàng nhận thông báo “Kế họach xuất
hàng”(trước khi hàng thực xuất là 7 ngày) từ bộ phận kế họach sản xuất, hàng xuất của
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TRANG 15