I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM HNG THY
TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN, MUA BáN TRáI PHéP
CHấT MA TúY TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử tại địa bàn thành phố Đà Nẵng)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM HNG THY
TộI TàNG TRữ, VậN CHUYểN, MUA BáN TRáI PHéP
CHấT MA TúY TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử tại địa bàn thành phố Đà Nẵng)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. TRNH QUC TON
H NI - 2016
1.1.1.
Khái niệm về ma tuý ....................................................................................9
1.1.2.
Khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
trong Luật hình sự Việt Nam......................................................................12
1.1.3.
Sự cần thiết của việc quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam .........................................14
1.2.
Lịch sử hình thành và phát triển của tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam ..............16
1.2.1.
Thời kỳ trƣớc khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985..............................16
1.2.2.
Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trƣớc khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1999 ..................................................................21
1.2.3.
2.1.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy và hình phạt đối với tội phạm này ....38
2.1.1.
Các dấu hiệu pháp lý đặc trƣng của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy ..................................................................................38
2.1.2.
Phân biệt tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy với
tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy ..........................................................46
2.1.3.
Hình phạt đối với tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy .................................................................................................48
2.1.4.
Một số trƣờng hợp phạm tội cụ thể ............................................................50
2.2.
Thực tiễn xét xử đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy tại địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn
từ năm 2011 đến năm 2015 ......................................................................55
Giải pháp về công tác tổ chức ....................................................................82
3.3.3.
Giải pháp về quan hệ phối hợp hoạt động ..................................................85
3.3.4.
Giải pháp về pháp luật ................................................................................87
3.3.5.
Một số giải pháp khác ................................................................................95
KẾT LUẬN ..............................................................................................................98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................101
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Thống kê số vụ án, số bị cáo phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại thành phố Đà
Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015
nhanh chóng căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS và vắt kiệt mọi nguồn lực của các quốc gia.
Theo đánh giá của Cơ quan Phòng chống ma túy và Tội phạm của Liên hợp
quốc (UNODC), châu Á là thị trƣờng lớn nhất thế giới về các loại ma túy tổng hợp,
các chất hƣớng thần. Theo ƣớc tính, hiện nay có khoảng gần 9 triệu ngƣời tại khu
vực này sử dụng các loại ma túy tổng hợp, chiếm 25% tổng số ngƣời sử dụng ma
túy tổng hợp của thế giới. Phần lớn lƣợng ma túy tổng hợp cung ứng trong khu vực
châu Á đƣợc đƣa đến từ các cơ sở sản xuất ma túy quy mô lớn nằm tại Trung Quốc,
Myanma và Philippine hoặc đƣợc đƣa từ Mê-hi-cô, khu vực Trung Đông, Nam Á,
Tây Á và Tây Phi. Các đƣờng dây vận chuyển côcain bị phát hiện trong thời gian
gần đây cho thấy tội phạm ma túy đang có ý định biến Đông Nam Á thành thị
trƣờng mới cho loại ma túy nguy hiểm này.
Tác động của tội phạm ma túy trên toàn thế giới và trong khu vực Đông Nam
Á đã và đang làm cho tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy ở nƣớc ta tiếp tục diễn
biến phức tạp. Các cơ quan chức năng ở Việt Nam đã liên tiếp phát hiện nhiều
đƣờng dây vận chuyển ma túy với số lƣợng lớn. Các đƣờng dây vận chuyển ma túy
xuyên quốc gia cũng không ngừng gia tăng hoạt động với qui mô ngày càng lớn và
với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Hành vi phạm tội của tội phạm ma túy cũng
ngày càng trở nên liều lĩnh, táo tợn và nguy hiểm hơn.
Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, mặc dù các cấp ủy Đảng, chính quyền và
nhân dân thành phố Đà Nẵng đã có rất nhiều quyết tâm, nỗ lực để ngăn chặn tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy, nhƣng loại tội phạm
1
này vẫn tiếp tục gia tăng một cách đều đặn cả về số lƣợng ngƣời phạm tội, số vụ
việc phạm tội lẫn mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung,
đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy nói riêng và đặc biệt là những diễn biến
phức tạp của tình hình tội phạm về ma túy tại thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ
Bàn về quy định xử lý tội phạm ma túy của Bộ luật hình sự trong thời kỳ hội nhập,
Tạp chí Kiểm sát (số 12/2008); 2. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Bàn về việc sửa đổi,
bổ sung Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Kiểm sát (số 4/2009); 3. Đỗ
Văn Kha (2010), Bàn về công tác phối hợp trong việc điều tra, truy tố và xét xử các
vụ án ma túy, Tạp chí Kiểm sát (số 18/2010); 4. Hoàng Minh Thành (2009), Một số
giải pháp đấu tranh ngăn chặn các thủ đoạn cất giấu, vận chuyển trái phép chất ma
túy ở nước ta, Tạp chí Phòng chống ma túy - Ủy ban Quốc gia phòng, chống Aids
và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm;…
Nhóm thứ hai gồm các sách chuyên khảo, tham khảo: 1. Trần Văn Luyện
(1998), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội; 2. Trần Văn Luyện cùng tập thể tác giả (2001), “Chƣơng XVIII: Các
tội phạm về ma túy”, trong sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; 3. PGS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, TS. Trần
Văn Luyện (2002), Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội; 4. ThS. Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần
tội phạm, Tập IV: Các tội phạm về ma túy), Nxb thành phố Hồ Chí Minh, thành phố
Hồ Chí Minh; 5. Vũ Hùng Vƣơng (chủ biên) (2007), Phòng, chống ma túy - cuộc
chiến cấp bách của toàn xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội; 6. TS. Trần Minh Hƣởng
(chủ biên) (2010), Tìm hiểu Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và những văn bản hướng dẫn thi hành, Nxb Lao động, Hà Nội; 7. TS. Nguyễn
Ngọc Thế (2013), Tội phạm, cấu thành tội phạm những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội…
Nhóm thứ ba gồm các đề tài khoa học, luận án Tiến sĩ luật học, luận văn Thạc
sĩ luật học nhƣ: 1. Đề tài cấp Bộ (2002), Những giải pháp nâng cao chất lượng xét
xử các vụ án về ma túy - cơ sở lý luận và thực tiễn, của Tòa án nhân dân tối cao do
Thạc sĩ Nguyễn Quang Lộc làm chủ nhiệm đề tài; 2. Vũ Quang Vinh (2003), Hoạt
động phòng ngừa các tội phạm về ma túy của lực lượng cảnh sát nhân dân, Luận án
3
4
cách độc lập, riêng lẻ, mà thƣờng thực hiện các hành vi này trong một chuỗi các
hành vi kế tiếp nhau. Sau khi thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tội
phạm ma túy thƣờng thực hiện hành vi vận chuyển ma túy về nơi tàng trữ, cất giấu.
Từ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm ma túy thƣờng thực hiện hành vi
vận chuyển trái phép chất ma túy và (hoặc) thực hiện hành vi mua bán trái phép
chất ma túy. Vì vậy, các tác giả trên đây vẫn chƣa chỉ ra đƣợc những tồn tại, bất cập
về mặt lý luận và những khó khăn, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật để xử
lý tội phạm về ma túy nói chung, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy nói riêng. Cũng chính vì những lý do này, các tác giả nêu trên đều đã
chƣa tìm ra đƣợc nguyên nhân của những tồn tại, bất cập và những hạn chế trong
thực tiễn hoạt động xét xử đối với tội phạm về ma túy, đặc biệt là trong thực tiễn
hoạt động xét xử tại địa bàn thành phố Đà Nẵng – Một thành phố trẻ, năng động,
hiền hòa với rất nhiều tiêu chí phấn đấu để thực sự trở thành một thành phố đáng
sống, trong đó có tiêu chí “không có người nghiện ma túy trong cộng đồng”.
Từ trƣớc đến nay, tại địa bàn thành phố Đà Nẵng chƣa có công trình nào
nghiên cứu về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên cơ sở
gắn liền với các đặc điểm về địa lý, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa
phƣơng. Vì vậy, việc nghiên cứu sâu hơn những quy định về “Tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam”, đồng thời
phân tích đánh giá thực trạng giải quyết các vụ án về ma túy nói chung, các vụ án
về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng thông qua số
liệu thực tiễn xét xử tại địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2015 là
cần thiết và có ý nghĩa đối với công tác đấu tranh ngăn chặn, phòng chống tệ nạn
ma túy và tội phạm về ma túy, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội và bảo vệ cuộc sống bình yên cho thành phố biển xinh đẹp này.
3. Mục đích và đối tượng nghiên cứu
3.2. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Nhƣ đúng tên gọi của đề tài nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu các căn
cứ, dấu hiệu pháp lý về “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn xét xử tại địa bàn thành
phố Đà Nẵng)” cũng nhƣ kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới trong việc đƣa
ra các quy định của pháp luật hình sự và trong việc xử lý loại tội phạm này. Đồng
6
thời, thông qua số liệu và thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp tại địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, tác giả đề tài phân
tích, tìm ra nguyên nhân của những tồn tại, bất cập và hạn chế trong hoạt động xét
xử đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn thành
phố Đà Nẵng và đƣa ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh và những chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, Nhà nƣớc ta về đấu tranh,
phòng chống tội phạm nói chung, đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy nói riêng.
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tác giả còn sử dụng một
số phƣơng pháp nghiên cứu khác nhƣ: Phƣơng pháp lịch sử, phƣơng pháp so sánh,
phƣơng pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp và phƣơng pháp thống kê tình hình thực
tiễn xét xử đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại địa
bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp góp phần hoàn thiện lý luận về
các quy định của pháp luật hình sự hiện hành đối với tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy. Luận văn tập trung nghiên cứu sâu vào những vấn đề
chung về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, đồng thời phân
tích các dấu hiệu pháp lý đặc trƣng của “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN,
MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy và hình phạt trong pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm về ma tuý
Theo Từ điển từ Hán Việt, “ma” có nghĩa là tê liệt hoặc là “làm mê mẩn” hoặc
làm cho tê liệt, “túy” có nghĩa là say hoặc là làm cho say sƣa [34, tr. 14]. “Ma túy”
là một danh từ dùng để chỉ chất thuốc có khả năng gây ra hiện tƣợng thần kinh tê
liệt, dùng nhiều sẽ bị nghiện.
Có ý kiến cho rằng: “Các chất ma túy là các chất độc có tính chất gây nghiện,
có khả năng bị lạm dụng, sự nghiện ngập chính là biểu hiện của trạng thái bị ngộ
độc mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng” [71, tr. 408].
Ý kiến khác thì đƣa ra khái niệm: “Ma túy là những chất mà dùng nó một
thời gian sẽ gây trạng thái nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào
thuốc” [70, tr. 493].
Tác hại nghiêm trọng nhất của ma túy là tạo ra sự lệ thuộc cả về tâm lý và thể
chất đối với ngƣời sử dụng. Nhƣ vậy, theo nghĩa chung nhất và thông thƣờng nhất,
ma túy đƣợc hiểu là một số chất tự nhiên hoặc chất tổng hợp (hóa học) khi đƣa vào
cơ thể ngƣời dƣới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần
kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình
trạng nghiện đối với ngƣời sử dụng.
Theo qui định của Bộ luật hình sự hiện hành về chất ma túy thì: Ma túy bao
gồm nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa, cao côca; lá, hoa, quả cây cần sa, lá cây côca;
quả thuốc phiện tƣơi; quả thuốc phiện khô; hêrôin; côcain; các chất ma túy khác ở
thể lỏng và các chất ma túy khác ở thể rắn.
Cụ thể hơn, chất ma túy đƣợc Luật Phòng chống ma túy do Quốc hội ban hành
năm 2000 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống ma túy do
Quốc hội ban hành năm 2008 quy định nhƣ sau:
Danh mục I: Các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng trong
lĩnh vực y tế, việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm,
10
nghiên cứu khoa học và điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ
quan có thẩm quyền (có trong Bảng IV Công ƣớc của Liên hợp quốc năm
1961 và Bảng I Công ƣớc của Liên hợp quốc năm 1971) gồm 45 chất.
Danh mục II: Các chất ma túy độc hại, đƣợc dùng hạn chế trong
phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc
trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (có trong Bảng I, Bảng II Công
ƣớc của Liên hợp quốc năm 1961 và Bảng II Công ƣớc của Liên hợp
quốc năm 1971) gồm 121 chất.
Danh mục III: Các chất ma túy độc dƣợc, đƣợc dùng trong phân
tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong
lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (có trong Bảng III và Bảng IV Công
ƣớc của Liên hợp quốc năm 1971) gồm 69 chất [13].
Ngoài ra, các Nghị định trên đây còn quy định về các tiền chất ma túy, các loại
cây có chứa chất ma túy và các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy cụ thể nhƣ:
Tiền chất (gồm 41 tiền chất đƣợc quy định tại Danh mục IV) dùng vào việc
sản xuất trái phép chất ma túy đƣợc xác định là các hóa chất không thể thiếu trong
quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy đƣợc quy định trong các danh mục tiền chất
do Chính phủ ban hành [13].
Cây có chứa chất ma túy bao gồm tất cả các loại cây có chứa chất ma túy mà
phổ biến nhất trong số đó là các loại cây thuốc phiện (cây anh túc), cây cần sa và
cây côca; các nguyên liệu thực vật có chứa chất ma túy nhƣ quả thuốc phiện, quả
cần sa, hoa cần sa, lá cần sa và lá côca ở dạng tƣơi hoặc dạng khô…
Nhƣ vậy, khái niệm về ma túy có thể đƣợc hiểu cụ thể nhƣ sau:
Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ
phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước với lỗi cố ý” [58].
Trong tập sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự (phần các tội phạm), tác
giả Đinh Văn Quế định nghĩa về tội phạm theo quy định tại Điều 194 Bộ luật hình
sự năm 1999 nhƣ sau: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm
đoạt chất ma túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt
cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp,
tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt chất ma túy” [34, tr. 78]. Qua đó,
khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có thể đƣợc
12
hiểu một cách ngắn gọn là: “Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại chất ma túy”.
Trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần tội phạm) do GS.TSKH. Lê
Cảm chủ biên đƣợc Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2003, khái niệm về loại
tội phạm này đƣợc định nghĩa theo từng hành vi cụ thể nhƣ sau:
1. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ trái
phép chất ma túy trong ngƣời, trong nhà hoặc ở nơi nào khác, không kể
thời gian bao lâu.
2. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đƣa chất
ma túy từ địa điểm này đến địa điểm khác mà không có giấy phép hợp lệ.
3. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái
phép chất ma túy dƣới bất kỳ hình thức nào [42, tr. 473].
Một ý kiến khác đƣa ra khái niệm: Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy là hành vi cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại chất
ma túy [3, tr. 225].
Nhƣ vậy, khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
có thể đƣợc diễn đạt một cách đầy đủ nhƣ sau:
Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm
hiện thống nhất trong cả nước. Tuân theo pháp luật là chấp hành đường lối, chủ
trương của Đảng”. Theo đó, Đảng khẳng định là Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng
pháp luật, song cũng rất chú trọng đến việc kết hợp với giáo dục tƣ tƣởng, đạo đức
truyền thống và nâng cao dân trí cũng nhƣ đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi
tầng lớp nhân dân. Trong bản Hiến pháp đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2013, nội dung
quan trọng này cũng đã đƣợc khẳng định lại thêm một lần nữa: “Nhà nước được tổ
chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và
pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [37, Điều 8].
Truyền thống văn hóa phƣơng Đông nói chung, truyền thống văn hóa của
ngƣời Việt Nam nói riêng vốn rất trọng đạo lý và tình nghĩa, luôn lấy đạo đức, tình
cảm để răn đe, giáo dục và cảm hóa con ngƣời. Đây là những giá trị tốt đẹp đã đƣợc
gìn giữ và duy trì qua nhiều thế hệ ngƣời Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử của
dân tộc. Trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, phòng chống
14
tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy nói riêng, vấn đề đạo lý cũng luôn đƣợc đặt ra để
giáo dục và nâng cao ý thức chính trị, pháp luật của ngƣời dân đối với những tác hại
của tệ nạn ma túy và sự nguy hiểm của tội phạm ma túy đối với mỗi ngƣời dân, mỗi
gia đình, cộng đồng và xã hội. Từ nhận thức đúng đắn đó, ngƣời dân cũng sẽ có
trách nhiệm hơn và quan tâm hơn đến cuộc đấu tranh chung của toàn xã hội trong
nỗ lực ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và phòng chống các loại tội phạm, trong
đó có tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy.
Những hành vi phạm tội về ma túy nói chung, phạm tội tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng không chỉ là hiện tƣợng nguy hiểm cho xã
hội, mà còn là những hành vi vi phạm pháp luật, trái với các chuẩn mực đạo đức xã
hội và đi ngƣợc lại truyền thống văn hóa tốt đẹp của ngƣời Việt Nam. Hiện tƣợng
nguy hiểm này là có tính phổ biến, có tốc độ lây lan nhanh chóng, tạo ra sự bất ổn
trong đời sống xã hội và gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, văn hóa, đạo
pháp luật là phƣơng tiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan chức năng có thẩm
quyền trong đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy nói chung, tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng; pháp luật là
phƣơng tiện có hiệu lực để các cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành các hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội nói chung, các hành vi phạm tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng.
Tóm lại, việc quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
trong Luật hình sự Việt Nam là một đòi hỏi khách quan và có tính tất yếu cả về lý
luận và trong thực tiễn của đời sống xã hội. Những quy định này không chỉ phản
ánh trung thực các điều kiện kinh tế - xã hội và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ
chính trị ở Việt Nam hiện nay, mà còn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng
và Nhà nƣớc ta cũng nhƣ nỗ lực của toàn thể dân tộc Việt Nam trong việc giải quyết
vấn đề phức tạp và cấp bách mang tính toàn cầu: Tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam
1.2.1. Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Không ai có thể biết một cách chính xác cây thuốc phiện (còn gọi là cây anh
túc), đƣợc đƣa vào trồng ở Việt Nam bằng cách nào và từ bao giờ. Ngày nay, chúng
ta chỉ có thể biết rằng: Trong các văn bản của Triều đình nhà Nguyễn để lại về các
16
điều luật và hình phạt có nhiều nội dung liên quan đến việc điều chỉnh những hành
vi trồng cây thuốc phiện, sản xuất thuốc phiện, buôn bán và sử dụng thuốc phiện.
Cây thuốc phiện là loại cây có chứa chất ma túy (đƣợc cho là) du nhập vào
Việt Nam đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ 17 và đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh vùng
núi phía Bắc Việt Nam. Ban đầu, cây thuốc phiện đƣợc trồng, khai thác và sử dụng
nhƣ một loại thảo dƣợc để chữa một số căn bệnh nhƣ bệnh phong thấp, các bệnh về
đƣờng ruột hoặc làm thuốc giảm đau. Sau một thời gian, việc hút thuốc phiện trở
Chế độ thực dân đã đầu độc dân ta với rƣợu và thuốc phiện. Nó đã
dùng mọi thủ đoạn nhằm hủ hóa dân tộc chúng ta bằng những thói xấu,
lƣời biếng gian giảo, tham ô và những thói xấu khác. Chúng ta có nhiệm
vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta... Cuối cùng tôi đề
nghị tuyệt đối cấm thuốc phiện [72, tr. 885].
Thực hiện chỉ thị này của Hồ Chủ tịch, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành
Nghị định số: 150/TTg ngày 05/3/1952 quy định việc xử lý đối với những hành vi
vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện với những nội dung cụ thể nhƣ sau:
Điều 5 – Ngoài các có quan chuyên trách, không ai đƣợc tàng trữ
và chuyển vận nhựa thuốc phiện hay thuốc phiện đã nấu rồi.
Điều 6 – (Do Nghị định số 225-TTg ngày 22/12/1952 sửa đổi).
Những hành vi phạm pháp sẽ bị phạt nhƣ sau:
- Tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc chuyển vận trái phép;
- Phạt tiền từ 1 đến 5 lần trị giá số thuốc phiện lậu.
Ngoài ra, ngƣời phạm pháp còn có thể bị truy tố trƣớc Tòa án
nhân dân.
Tuy nhiên, những ngƣời đã bán lậu thuốc phiện cho ngƣời khác mà
sau lại tố cáo với các cơ quan chuyên trách và giúp bắt đƣợc ngƣời buôn lậu
thì sẽ đƣợc coi là đã lập công chuộc tội và không phải phạt [44, tr. 482].
Tiếp theo đó, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 225/TTg ngày
22/12/1952 quy định những ngƣời có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện sẽ
bị xử lý bằng các hình thức cụ thể nhƣ: Tịch thu thuốc phiện tàng trữ hoặc vận
chuyển trái phép; phạt tiền từ một đến năm lần trị giá số thuốc phiện lậu. Ngoài ra,
ngƣời vi phạm còn có thể bị truy tố trƣớc Toà án nhân dân. [44, tr. 482].
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Sau khi hoà bình lập lại
và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng và Nhà nƣớc Việt
18
19